Tài liệu tập huấn về phương pháp khuyến nông (dành cho cán bộ khuyến nông tỉnh, huyện) Trường Nông lâm thái nguyên
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
TRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG
QUỐC GIA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHOA KHUYẾN NÔNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TẬP HUẤN VỀ PHƯƠNG PHÁP KHUYẾN
NÔNG
(TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO BÀI GIẢNG VỀ PHƯƠNG PHÁP
KHUYẾN NÔNG DÙNG CHO CÁN BỘ KHUYẾN NÔNG TỈNH, HUYỆN)
NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI - 2006
Trang 2MỤC LỤC
Phần I NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ KHUYẾN
1 Lịch sử khuyến nông trên thế giới và Việt Nam 8
1.1 Lịch sử quá trình hình thành khuyến nông trên thế
1.2 Lịch sử khuyến nông ở Việt Nam 12
3.1 Khuyến nông làm cùng với dân, không làm thay cho
3.2 Khuyến nông là một công việc đầy trách nhiệm 213.3 Khuyến nông là nhịp cầu cho thông tin hai chiều 223.4 Khuyến nông không áp đặt, không mệnh lệnh 243.5 Khuyến nông hợp tác với những tổ chức phát triển
3.6 Khuyến nông làm việc với các đối tượng khác nhau 26
4.1 Vai trò của cán bộ khuyến nông 284.2 Kiến thức, năng lực và phẩm chất cá nhân của cán
4.2.4 Khả năng nói trước quần chúng 33
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
4.2.6 Cách tiếp cận và làm việc với các lãnh đạo địa
5 Mục tiêu, chức năng và nội dung hoạt động khuyến
5.3 Nội dung hoạt động khuyến nông 41
1.1 Thăm nông dân trên hiện trường 49
1.1.2 Các bước thực hiện một cuộc viếng thăm nông
1.2 Một số phương pháp cá nhân khác 541.2.1 Nông dân đến thăm cơ quan khuyến nông 541.2.2 Gửi thư và gọi điện thoại 54
Trang 42.3.1 Khái niệm và mục đích 652.3.2 Một số chú ý khi tổ chức hội thảo đầu bờ 67
2.4.2 Trình tự các bước tiến hành trong tham quan 702.4.3 Những điểm cần chú ý khi tiến hành thực hiện
3.1 Đặc điểm của phương pháp thông tin đại chúng 733.2 Phân loại phương tiện thông tin đại chúng 75
Phần III MỘT SỐ TIẾP CẬN TRONG KHUYẾN NÔNG 82
1 Một số vấn đề chung về tiếp cận khuyến nông
1.1 Những ưu điểm và hạn chế của phương pháp tiếp
1.2 Phương pháp tiếp cận khuyến nông có sự tham gia 871.2.1 Một số vấn đề về sự tham gia 871.2.2 Yêu cầu về phương pháp tiếp cận có sự tham
2 Một số phương pháp tiếp cận khuyến nông có sự
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
2.1.1 Khái niệm, mục tiêu, sự cần thiết của khuyến
2.1.2 Các hoạt động tiến hành trong PAEM 932.1.3 Các thử nghiệm nông nghiệp 942.2 Phát triển kỹ thuật của sự tham gia (PTD) 1082.2.1 Giới thiệu về phát triển kỹ thuật có sự tham gia 1082.2.2 Nguyên tắc và trình tự các bước trong quá trình
2.2.3 Một số lưu ý khi áp dụng tiếp cận PTD 1152.3 Lớp học hiện trường nông dân (FFS) 1152.3.1 Giới thiệu mô hình lớp học hiện trường nông
2.3.2 Lý do để lựa chọn cách tiếp cận FFS trong
2.3.3 Nguyên tắc của mô hình FFS 1212.3.4 Một số lưu ý khi áp dụng tiếp cận FFS 126
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
rong giai đoạn hiện nay, công tác khuyến nông ngày càng hoàn thiện cả về tổ chức, nội dung và phương pháp Cuốn
“Tài liệu tập huấn phương pháp khuyến nông" ra đời nhằm
đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao về chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ khuyến nông các cấp Cuốn sách được biên soạn trên
cơ sở tham khảo hơn 30 tài liệu cập nhật trong, ngoài nước và tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn khuyến nông ở các tỉnh miền núi Tây Bắc, Đông Bắc nước ta Nội dung cuốn sách được
dùng làm tài liệu tham khảo cho cuốn “Đề cương bài giảng
tập huấn về phương pháp khuyến nông” dùng cho giảng
viên hoặc làm tài liệu nâng cao năng lực cho khuyến nông viên cấp tỉnh, huyện Cuốn sách này gồm ba phần chính:
Những khái niệm cơ bản về khuyến nông;
Một số phương pháp khuyến nông;
Một số phương pháp tiếp cận trong khuyến nông
Nhóm tác giả tham gia biên soạn cuốn “Tài liệu tập huấn
phương pháp khuyến nông” này gồm:
1 PGS.TS Nguyễn Duy Hoan - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
2 TS Tống Khiêm - Trung tâm Khuyến nông Quốc gia
3 TS Đinh Ngọc Lan - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
4 ThS Phạm Kim Oanh - Trung tâm Khuyến nông Quốc gia
5 TS Dương Văn Sơn - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
T
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
6 ThS Nguyễn Hữu Thọ - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Để hoàn thiện cuốn tài liệu này, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ có hiệu quả của các nhà khoa học, các chuyên gia từ các trường, viện, trung tâm và tổ chức quốc tế như: Trường Đại học Nông Lâm Huế, Trường Đại học Hùng Vương, Trường cán
bộ quản lý Nông nghiệp và PTNT 1, Trường Cao đẳng Nông Lâm Bắc Giang, Trường Công nhân kỹ thuật Nông nghiệp Trung ương, Viện nghiên cứu Chè, Trung tâm Đào tạo Phù Ninh, Tổ chức Helvetas - Thụy Sĩ, Tổ chức GTZ - Đức, Tổ chức SNV - Hà Lan, CIAT, Chúng tôi đánh giá cao sự tham gia đóng góp ý kiến của lãnh đạo Trung tâm Khuyến nông - Khuyến lâm 16 tỉnh miền núi và trung du phía Bắc
Đặc biệt, chúng tôi đã nhận được cổ vũ động viên và khích
lệ rất lớn từ hai cơ quan chủ quản là Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và Trung tâm Khuyến nông Quốc gia
Nhân dịp này, chúng tôi xin bày tỏ lời cảm ơn về sự giúp đỡ hết sức quý báu đó
Tập thể tác giả
Trang 8Phần I NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN
Khởi đầu là một thầy thuốc
và cũng là nhà giáo người Pháp
Rabelais (1493 - 1553), ông chủ
trương nguyên tắc gắn liền nhà
trường với thực tiễn Năm 1661,
một giáo sư người Anh là
Hartlib đã viết một cuốn sách
về "Sự tiến bộ của nghề nông",
được coi như là tài liệu đầu
tiên về khuyến nông Sau đó,
tổ chức hiệp hội "Tăng cường
hiểu biết về nông nghiệp" đầu
tiên đã được thành lập ở Pháp
năm 1761, Đức năm 1764, Nga
năm 1765, Các hiệp hội này
đã đặt nền móng cho việc hình
thành và phát triển khuyến
nông sau này
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
Danh từ Khuyến nông (Extension) có nghĩa Mở rộng, triển khai được sử dụng đầu tiên ở nước Anh năm 1866 Tại Mỹ, Bộ
Nông nghiệp nước này thành lập hoạt động khuyến nông theo kiểu kết hợp triển khai và giáo dục Đến năm 1914, Chính phủ
Mỹ thông qua Luật Khuyến nông, cho phép sử dụng các nguồn
tài trợ của các địa phương vào các hoạt động khuyến nông
Có thể nói rằng: Nông nghiệp thế giới phát triển nhanh là nhờ có sự chuyển hướng trong giáo dục, đào tạo ngày càng gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành từ các trường đại học, viện nghiên cứu, các hiệp hội, đặt cơ sở cho sự ra đời của
tổ chức khuyến nông
Nhìn chung, khuyến nông trên thế giới được hình thành từ bốn tổ chức cơ bản: (1) Hiệp hội nông dân, (2) Các tổ chức khác ở nông thôn, (3) Các trường đại học và (4) Các tổ chức nông nghiệp của chính phủ
Dưới đây là sơ lược về sự phát triển khuyến nông ở một số nước trên thế giới
Pháp
Thế kỷ 15-16 đánh dấu một mốc đầu tiên trong lịch sử phát triển khoa học Pháp, vì một số công trình đã được bắt đầu ở
thời kỳ này như tác phẩm "Ngôi nhà nông thôn" của Enstienne
và Liebault nghiên cứu về kinh tế nông thôn và khoa học nông
nghiệp Tác phẩm "Diễn trường nông nghiệp" của Oliver de
Serres đề cập đến nhiều vấn đề trong nông nghiệp như cải tiến giống cây trồng, vật nuôi
Thế kỷ 18, cụm từ Phổ cập nông nghiệp (Vulgarisation
Agricole), hoặc chuyển giao kỹ thuật đến người nông dân (Transfert des Technologies Agricoles au Paysan) được sử dụng phổ biến
Trang 10Giai đoạn từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất 1918), CETA (Centre d’Etudes Techniques Agricoles) - trung tâm nghiên cứu kỹ thuật nông nghiệp đầu tiên được tổ chức do sáng kiến của nông dân vùng Pari, hoạt động với nguyên tắc:
(1914 Người nông dân có trách nhiệm và chủ động trong công việc
- Sáng kiến từ cơ sở
- Hoạt động nhóm rất quan trọng
Đây là một phương pháp hết sức độc đáo thời bấy giờ, người nông dân được quyền tham gia tích cực vào công việc của nông trại, họ chủ động tìm ra các giải pháp thích hợp với sự
hỗ trợ của các kỹ sư nông nghiệp
Mỹ
Năm 1845 tại bang Ohio, N.S Townshned - Chủ nhiệm khoa Nông học đề xuất việc tổ chức những câu lạc bộ nông dân tại các quận, huyện Những câu lạc bộ này sinh hoạt định
kỳ hàng tháng, nghe giảng về những chủ đề khoa học kỹ thuật nông nghiệp, nghe báo cáo, đi tham quan thực tế tại những trang trại Đây là tiền thân của giáo dục sơ đẳng về khuyến nông tại Mỹ
Năm 1891, bang New York dành 10.000 USD cho khuyến nông đại học
Năm 1892 các trường Đại học Chicago và Wicosin bắt đầu
tổ chức chương trình khuyến nông học đại học
Năm 1907, có 42 trường đại học trong 39 bang đã thực hiện công tác khuyến nông
Năm 1910, có 35 trường đại học đã có Bộ môn khuyến nông
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
Năm 1914, Tổ chức khuyến nông được hình thành chính thức ở Mỹ, có 1861 hội nông dân với 3.050.150 hội viên
Thuật ngữ “Extension Education” đã được sử dụng để
chứng tỏ rằng đối tượng giáo dục của trường đại học không nên chỉ hạn chế ở những sinh viên do nhà trường quản lý, mà nên mở rộng tới những người đang sống ở khắp nơi trên đất nước
Anh
Thuật ngữ “University Extension” hay “Extension of University”
lần đầu tiên được sử dụng ở Anh vào những năm 1840
Những năm 1866-1868 Thuật ngữ “Extension” và
“Agricultural Extension” được sử dụng ở Anh James Stuart -
thành viên của trường Đại học Cambridge giảng bài cho Hiệp hội phụ nữ và Câu lạc bộ của những người làm việc ở miền
Bắc nước Anh James Stuart thường được coi là “người cha đẻ của phổ cập đại học“ Năm 1876, trường Đại học Luân Đôn và
năm 1878 trường Đại học Oxford cũng dạy theo chương trình đào tạo này và từ năm 1880 hoạt động này trở thành một phong
trào
Người Hà Lan dùng từ “Voorliching” mang nghĩa việc thắp
sáng con đường phía trước để giúp mọi người nhìn thấy đường
đi Theo gương Hà Lan, người Indonesia nói đến việc thắp
sáng bằng ngọn đuốc (penyuluhan)
Hoạt động khuyến nông ở châu Âu, Oxtraylia, New Zealand, Canada có nhiều điểm tương tự như Pháp, Anh, Mỹ tuy có khác nhau chút ít Hoạt động dịch vụ khuyến nông thường bắt đầu từ các hội nông nghiệp, nó được giao trách nhiệm cho một cơ quan thuộc Bộ Nông nghiệp
Trang 12Trung Quốc
Thực ra khuyến nông ở Trung Quốc đã có từ lâu Năm
1933, Trường Đại học Nông nghiệp Kim Lăng đã thành lập Phân khoa Khuyến nông Nhưng mãi đến năm 1970, Trung Quốc mới chính thức có tổ chức khuyến nông
Thái Lan
Mãi đến năm 1967, Thái Lan mới có khuyến nông Chính phủ Thái Lan đặc biệt quan tâm đầu tư cán bộ và kinh phí cho công tác khuyến nông
1.2 Lịch sử khuyến nông ở Việt Nam
Có thể nói rằng khuyến nông Việt Nam đã có từ thời Vua Hùng với nông nghiệp nước Văn Lang và nền văn minh lúa nước Các vua Hùng cách đây hơn 2000 năm đã trực tiếp dạy dân làm nông nghiệp: gieo hạt, cấy lúa, mở cuộc thi để các hoàng tử, công chúa có cơ hội trổ tài, chế biến các món ăn độc đáo bằng nông sản tại chỗ
Để tỏ rõ sự quan tâm tới nông nghiệp, Lê Đại Hành (980 - 1008) là ông vua đầu tiên đích thân đi cày ruộng tịch điền ở Đọi Sơn, Bàn Hải thuộc vùng Duy Tiên, Hà Nam ngày nay
Các vua nhà Lý (1009 - 1225) rất coi trọng nghề nông, cho đắp đê Cơ Xá và đề ra nhiều chính sách chăm lo phát triển nông nghiệp, nhiều lần vua cày ruộng tịch điền và thăm nông dân gặt hái Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” ghi lại sự kiện năm Mậu Dần (1038) vua Lý Thái Tông ngự ở Bố Khẩu lập đàn, tế thần nông và cày ruộng tịch điền Khi có viên quan lại can Vua không nên làm công việc của nông phu, Lý Thái Tông trả lời
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
"Trẫm không tự mình cày ruộng thì lấy gì làm xôi cúng, lấy gì để xướng xuất thiên hạ", nói xong Vua đẩy 3 đường cày
Triều vua Lê Thánh Tông (1460-1497), đặt ra chức Hà đê
sứ và Khuyến nông sứ đến cấp phủ huyện và từ năm 1492 mỗi
xã có 1 xã trưởng phụ trách nông nghiệp và đê điều (dưới thời vua Lê Thánh Tông trị vì, nông nghiệp nước ta có một bước tiến
bộ lớn, nhiều năm được mùa, ít xảy ra mất mùa) Triều đình ban
bố chiếu khuyến nông, chiếu lập đồn điền và lần đầu tiên sử dụng từ “khuyến nông” trong bộ Luật Hồng Đức
Thời vua Quang Trung (1788 - 1792): Từ năm 1789 sau khi
thắng giặc ngoại xâm, Quang Trung ban bố ngay "Chiếu khuyến nông" nhằm phục hồi dân phiêu tán, khai khẩn ruộng
đất bỏ hoang, sau 3 năm những đất đai hoang hoá đã được phục hồi, sản xuất phát triển
Triều nhà Nguyễn (1802-1945), đã định ra chức Đinh điền
sứ Nguyễn Công Trứ được giao chức vụ này, ông đã có công chiêu mộ dân khai khẩn đất hoang để lập ra hai huyện Tiền Hải (tỉnh Thái Bình) và Kim Sơn (tỉnh Ninh Bình)
Về kỹ thuật nông nghiệp và hoạt động khuyến nông, ông cha ta đã có nhiều chủ trương biện pháp đúng đắn như đắp đê trị thủy, xây dựng hệ thống thủy nông, chọn lọc ra nhiều giống cây trồng vật nuôi, công cụ thích hợp cho từng vùng sinh thái Những kinh nghiệm làm nông nghiệp lâu đời cũng đã được đúc kết thành những câu ca dao, bài hát dễ nhớ, dễ truyền khẩu
mang đặc tính khuyến nông Việt Nam
Thời kỳ Pháp thuộc (1884- 1945): Thực dân Pháp thực hiện chính sách lập các đồn điền thuộc quyền chiếm hữu của bọn thực dân, các quan lại, địa chủ, cường hào Hàng vạn người
Trang 14Việt Nam bị ép làm phu trong các đồn điền đó, đời sống của họ
vô cùng cực khổ như những nô lệ
Thời kỳ này, Việt Nam cũng đã nhập một số cây trồng mới như: Cà phê (1857), Cao su (1897), Khoai tây, Súplơ, Su hào một số giống vật nuôi như lợn Yorkshire, gà Rodeslend Trong giai đoạn này, Việt Nam đã xuất khẩu được một số nông sản như gạo 967.000 tấn (năm 1919), 70.417 tấn nhựa cao su (1920-1929) Điều đó cũng nói lên rằng phát triển nông nghiệp và khuyến nông thời kỳ này chủ yếu phục vụ cho chính sách thuộc địa phong kiến của thực dân Pháp Người Pháp tổ chức các sở Canh nông ở Bắc Kỳ, các ty Khuyến nông ở các tỉnh Hàng năm tổ chức thi đấu xảo các sản phẩm nông nghiệp quý như thi các giống bò sữa, giống ngựa tốt
Năm 1938 Trường đào tạo Kỹ sư Canh nông được thành lập để đào tạo các kỹ sư ngành nông nghiệp
Từ sau Cách mạng tháng 8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới nông nghiệp, Người kêu gọi quốc dân
"tăng gia sản xuất, tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất
nữa! Đó là những việc cấp bách của chúng ta lúc này" Nghe
theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, toàn dân bắt tay vào khôi phục kinh tế, phát triển sản xuất Vụ rau mầu đông xuân 1945-
1946 đã thắng lợi rực rỡ: sản lượng ngô tăng gấp 4 lần, khoai lang tăng gấp 5 lần, tổng sản lượng hoa mầu quy thóc bình quân hàng năm 133.100 tấn đến mùa xuân 1946 đã đạt 505.000 tấn, tăng gấp 4 lần
Từ 1958-1975: Nông nghiệp miền Bắc Việt Nam phát triển trong sự tác động trực tiếp của mô hình Hợp tác xã nông nghiệp Từ tổ đổi công (1956), đến hợp tác xã bậc thấp (1960), hợp tác xã cấp cao (1968), hợp tác xã toàn xã (1974)
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
Phương pháp hoạt động khuyến nông chủ yếu là: cán bộ truyền đạt chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước hay tiến
bộ kỹ thuật thông qua Ban quản trị hợp tác xã rồi từ đó đến người nông dân Thành lập các đoàn cán bộ nông nghiệp ở trung ương, cấp tỉnh, huyện về chỉ đạo sản xuất ở cơ sở
Về thành tích đã đạt được: Lúa chiêm đã được thay thế bằng lúa xuân, năng suất cao ngắn ngày Thái Bình là tỉnh đầu tiên đạt 5 tấn thóc/ha năm 1966 Đến năm 1974 toàn miền Bắc
đã đạt 5 tấn thóc/ha trên đất cấy 2 vụ lúa Năm 1988 huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình là huyện đầu tiên đạt 10 tấn thóc/ha
Về chăn nuôi có phong trào nuôi lợn hai máu: Móng Cái
Yorkshire, Ỉ Bershire; bò lai Sind; nuôi gà công nghiệp, Thời kỳ 1976- 1988: Nông nghiệp Việt Nam được thống nhất thành một mối, tiềm năng và thế mạnh của hai miền Nam Bắc được bổ sung cho nhau và cùng nhau phát triển theo một đường lối chung là hợp tác hóa nông nghiệp Song diễn biến tình hình có nhiều phức tạp, do sự tác động của quan hệ sản xuất tập thể và mô hình quản lý, kế hoạch hóa tập trung Nhiều thiếu sót đã nẩy sinh trong quản lý kinh tế và quản lý nông nghiệp, đã làm cho nông nghiệp phát triển chậm lại, đời sống nông thôn nảy sinh nhiều vướng mắc, nông dân không yên tâm sản xuất
Trước thực trạng suy thoái kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng vào những năm cuối thập kỷ 70 và đầu năm
80, ngày 13/1/1981 Chỉ thị 100 CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp” được ban hành (gọi tắt là khoán 100) với mục đích phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế trên cơ sở lôi cuốn mọi người hăng hái lao động Khoán 100 chưa phải là mô hình
Trang 16mới về tổ chức và quản lý nông nghiệp mà mới chỉ là cải tiến
hình thức khoán, từ khoán việc sang khoán sản phẩm, từ khoán đội sang khoán hộ Đây cũng được coi là sự đột phá đầu tiên
vào cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, sản xuất tập thể Vì vậy
khoán 100 được coi là “chìa khóa vàng” để mở ra thời kỳ mới
của sản xuất nông nghiệp Việt Nam
Tiến bộ lớn nhất sau khoán 100 là sản xuất lương thực Lần đầu tiên kể từ khi nông nghiệp tập thể hóa (1958), Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng sản lượng lương thực cao hơn tốc độ tăng dân số (lương thực tăng 5%, dân số tăng 2,3%, lương thực bình quân trên đầu người tăng 273 kg/người/năm 1981 tăng lên 304 kg/người/1985 Chăn nuôi phát triển ổn định, nhất
là chăn nuôi ở hộ gia đình Song những kết quả đạt được của khoán 100 không bền vững Từ năm 1986, sản xuất nông nghiệp bắt đầu chững lại và giảm sút, sản lượng lương thực năm 1986 đạt 18,37 triệu tấn, năm 1987 giảm còn 17,5 triệu tấn, trong khi đó dân số tăng gần 1,5 triệu người
Tháng 12 năm 1986, Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam
đã đề ra đường lối đổi mới trong lãnh đạo và quản lý kinh tế Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng
sản Việt Nam khóa VI (5/4/1988) về ”Đổi mới quản lý trong nông nghiệp” ra đời nhằm giải phóng sản xuất trong nông
thôn đến từng hộ nông dân, khẳng định hộ xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn Chính sách mới này được gọi tắt
là khoán 10
Bắt đầu từ 1988: Khoán 10 đã đem lại hiệu quả nhanh chóng, tạo ra bước ngoặt mới trên mặt trận nông nghiệp Hộ nông dân đã trở thành đơn vị sản xuất tự chủ, họ có quyền sử dụng ruộng đất lâu dài 15-20 năm, có quyền thuê thêm lao động,
có quyền phát huy vốn và vật tư kỹ thuật, chủ động xây dựng và
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
thực hiện kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, có tư cách pháp nhân trong quan hệ hợp đồng sản xuất kinh doanh
Ngày 2/3/1993, Chính phủ ban hành Nghị định 13/CP về công tác khuyến nông Bắt đầu hình thành hệ thống khuyến nông từ trung ương đến địa phương Kết quả đạt được của nông nghiệp từ sau khi có đường lối đổi mới là rất rõ nét, nói riêng về sản xuất lương thực thì diện tích, năng suất, sản lượng tăng đều qua các năm Nếu như trước năm 1988 trở về trước, Việt Nam là một nước thiếu lương thực trầm trọng hàng năm phải nhận viện trợ hoặc nhập khẩu gạo, thì đến năm
1989 đã xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo, năm 1990: 1,6 triệu tấn, 1992: 1,9 triệu tấn, năm 1994: 2 triệu tấn và từ những năm 1996-2003 xuất khẩu trên 3 triệu tấn mỗi năm
Ngày 26/4/2005, Chính phủ ban hành Nghị định 56/2005/NĐ-CP về khuyến nông - khuyến ngư Đây là những văn bản pháp quy quan trọng đối với công tác khuyến nông nói chung và tổ chức khuyến nông nói riêng
2 KHÁI NIỆM KHUYẾN NÔNG
Khuyến nông là một thuật ngữ khó định nghĩa một cách chính xác, vì khuyến nông được tổ chức bằng nhiều cách khác nhau, để phục vụ nhiều mục đích rộng rãi, do đó có nhiều quan niệm và định nghĩa về khuyến nông, nhưng từ những sự hiểu biết khác nhau đó, chúng ta cũng có thể thống nhất được những điểm chung của khuyến nông Dưới đây là một số các
quan niệm và khái niệm về khuyến nông
Theo nghĩa chữ Hán, “khuyến“ có nghĩa là khuyên người ta
cố gắng sức trong công việc, còn “Khuyến nông” nghĩa là khuyên mở mang phát triển trong nông nghiệp
Trang 18Thuật ngữ “Extension” có nguồn gốc ở Anh, sau đó được
mở rộng tới các Hội giáo dục khác ở Anh và các nước khác
“Extension” với nghĩa ban đầu là “triển khai” hay “mở rộng”, khi ghép với từ “Agriculture” thành “Agricultural Extension” thì dịch là
“khuyến nông”
“Khuyến nông là phương pháp động, nhận thông tin có lợi tới người dân và giúp họ thu được những kiến thức, kỹ năng và những quan điểm cần thiết nhằm sử dụng một cách có hiệu quả
thông tin hoặc kỹ thuật này” (B.E Swanson và J.B.Claar)
“Khuyến nông, khuyến lâm là một sự giao tiếp thông tin tỉnh táo nhằm giúp nông dân hình thành các ý kiến hợp lý và tạo ra
các quyết định đúng đắn” (A.W.Van den Ban và H.S Hawkins - Khuyến nông, 1988)
“Khuyến nông, khuyến lâm được xem như một tiến trình của việc hoà nhập các kiến thức khoa học kỹ thuật hiện đại, các quan điểm, kỹ năng để quyết định cái gì cần làm, cách thức làm trên cơ sở cộng đồng địa phương sử dụng các nguồn tài nguyên tại chỗ với sự trợ giúp từ bên ngoài để có khả năng
vượt qua các trở ngại gặp phải.” (D.Sim và H.A.Hilmi - FAO Forestry paper 80, 1987, FAO Rome)
“Khuyến nông, khuyến lâm là làm việc với nông dân, lắng nghe những khó khăn, các nhu cầu và giúp họ tự quyết định
giải quyết vấn đề chính của họ” (Malla - A Manual for training Field Workers, 1989)
“Khuyến nông, khuyến lâm là một quá trình giáo dục Các
hệ thống khuyến nông khuyến lâm thông báo, thuyết phục và kết nối con người, thúc đẩy các dòng thông tin giữa nông dân
và các đối tượng sử dụng tài nguyên khác, các nhà nghiên cứu,
các nhà quản lý và các nhà lãnh đạo.” (Falconer, J - Forestry, A
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
Review of Key Issues, Social Forestry Network Paper 4e, 1987,
O D I., London)
“Khuyến nông là một từ tổng quát để chỉ tất cả các công việc có liên quan đến sự nghiệp phát triển nông thôn, đó là một
hệ thống giáo dục ngoài nhà trường, trong đó có người già và
người trẻ học bằng cách thực hành” (Thomas, G Floes)
Qua rất nhiều định nghĩa, chúng ta có thể tóm tắt lại và có thể hiểu khuyến nông theo hai nghĩa:
- Khuyến nông hiểu theo nghĩa rộng, là khái niệm chung để
chỉ tất cả những hoạt động hỗ trợ sự nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn Khuyến nông là ngoài việc hướng dẫn cho nông dân tiến bộ kỹ thuật mới, còn phải giúp họ liên kết với nhau để chống lại thiên tai, tiêu thụ sản phẩm, hiểu biết các chính sách, luật lệ Nhà nước, giúp nông dân phát triển khả năng tự quản lý, điều hành, tổ chức các hoạt động xã hội như thế nào cho ngày càng tốt hơn
- Khuyến nông hiểu theo nghĩa hẹp, là một tiến trình giáo
dục không chính thức mà đối tượng của nó là nông dân Tiến trình này đem đến cho nông dân những thông tin và những lời khuyên nhằm giúp họ giải quyết những vấn đề hoặc những khó khăn trong cuộc sống Khuyến nông hỗ trợ phát triển các hoạt động sản xuất, nâng cao hiệu quả canh tác để không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống của nông dân và gia đình họ Khuyến nông là sử dụng các cơ quan nông lâm ngư, các trung tâm khoa học nông lâm ngư để phổ biến, mở rộng các kết quả nghiên cứu tới nông dân bằng các phương pháp thích hợp để
họ có thể áp dụng nhằm thu được nhiều sản phẩm hơn
Trên cơ sở đúc kết hoạt động khuyến nông ở Việt Nam,
chúng ta có thể định nghĩa về khuyến nông như sau: Khuyến nông là cách đào tạo và rèn luyện tay nghề cho nông dân, đồng
Trang 20thời giúp cho họ hiểu được những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, những thông tin thị trường, để họ có đủ khả năng tự giải quyết được các vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn.
Khuyến nông là cách giáo dục ngoài học đường cho nông dân Khuyến nông là quá trình vận động, quảng bá, khuyến cáo, cho nông dân theo nguyên tắc tự nguyện, không áp đặt; đồng thời đó là quá trình tiếp thu kiến thức và kỹ năng một cách dần dần và tự giác của nông dân
3 NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA KHUYẾN NÔNG
Hiện nay, hoạt động khuyến nông đang được mở rộng trên phạm vi toàn quốc Nhà nước đã và đang dành nhiều khoản tiền lớn để đào tạo cán bộ khuyến nông, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho mạng lưới khuyến nông và đầu tư cho nhiều chương trình và dự án khuyến nông khác nhau Tuy vậy để hoạt động có hiệu quả, khuyến nông cần được dựa trên một số nguyên tắc sau:
3.1 Khuyến nông cùng làm với dân, không làm thay cho dân
Khuyến nông cùng làm với dân Chỉ có bản thân người nông dân mới có thể quyết định được phương thức canh tác trên mảnh đất của gia đình họ Cán bộ khuyến nông không thể quyết định thay cho nông dân Nông dân hoàn toàn có thể đưa
ra những quyết định đúng đắn để giải quyết những khó khăn của họ nếu như họ được cung cấp đầy đủ thông tin và những giải pháp khác nhau Khi tự mình đưa ra quyết định, người
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
nông dân sẽ tin vào bản thân hơn so với khi bị áp đặt Cán bộ khuyến nông cần cung cấp thông tin, trao đổi, thảo luận với nông dân trên cơ sở điều kiện cụ thể của nông trại: đất đai, khí hậu, nguồn vốn, nhân lực, các thuận lợi, các khó khăn trở ngại, các cơ hội có thể đạt được, từ đó khuyến khích họ tự đưa ra quyết định cho mình
3.2 Khuyến nông là một công việc đầy trách nhiệm
Một mặt, khuyến nông chịu trách nhiệm trước Nhà nước là
cơ quan quyết định những chính sách phát triển nông thôn, cho nên phải tuân theo đường lối và chính sách của Nhà nước trong khi thực thi nhiệm vụ Mặt khác, khuyến nông là người
Trang 22phục vụ tận tuỵ của nông dân, có trách nhiệm đáp ứng những nhu cầu của nông dân trong vùng Điều đó có nghĩa là người nông dân có quyền đánh giá hiệu quả của hoạt động khuyến nông Tính hiệu quả của hoạt động khuyến nông, trước hết được đánh giá trên cơ sở đường lối, chính sách phát triển nông thôn hoặc chương trình khuyến nông của Nhà nước có được thực hiện tốt hay không Ngoài ra, nó còn được đánh giá trên
cơ sở thu nhập và cuộc sống của nông dân, có phải nhờ khuyến nông mà được cải thiện hay không Do đó, các chương trình khuyến nông phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của nông dân nói riêng và nhu cầu phát triển nền kinh tế nông thôn nói chung Nhiệm vụ của người cán bộ khuyến nông là thoả mãn một cách hài hoà hai nhu cầu đó
3.3 Khuyến nông là nhịp cầu cho thông tin hai chiều
Khuyến nông là một nhịp cầu vừa chuyển giao kiến thức khoa học kỹ thuật của các cơ quan nghiên cứu đến cho nông dân, vừa tiếp nhận thông tin của nông dân chuyển đến các cơ quan nghiên cứu Khuyến nông không chỉ trao mà còn phải sẵn
Ví dụ, mục tiêu của Nhà nước là tăng sản lượng lương thực hà ng năm, đồng thời người dân đòi hỏi phải đủ lương thực cho gia đình sinh sống và thức ăn cho chăn nuôi Như vậy khi khuyến khích, giúp đỡ nông dân sử dụng giống mới và áp dụng những biện pháp canh tác mới để nâng cao năng suất, khuyến nông sẽ đồng thời thoả mãn
được cả mục tiêu của Nhà nước lẫn nhu cầu của nông
dân
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
sàng tiếp nhận những sáng kiến, những đề xuất hay những vấn
đề của nông dân
bộ khuyến nông có thể giúp những người làm nghiên cứu tiếp xúc trực tiếp với nông dân để đảm bảo chắc chắn đề xuất của những người làm nghiên cứu luôn phù hợp với nhu cầu của nông dân
Khi thực nghiệm những đề xuất tại hiện trường: Một khuyến cáo mới có thể tốt trong khu vực thí nghiệm nhưng chưa chắc chắn đã có hiệu quả trên đất đai của nông dân Vì vậy, mọi nghiên cứu khi được làm trên đất đai của nông dân luôn tạo cơ hội tốt để đánh giá đúng hiệu quả của nó và cung cấp thông tin phản hồi cho người làm nghiên cứu Vì vậy, khuyến nông cần giúp những người làm nghiên cứu tiến hành các thực nghiệm trên đất đai của nông dân
Khi nông dân áp dụng những đề xuất nghiên cứu: Đôi khi, người nông dân có thể phát hiện ra những vấn đề bị bỏ
Trang 24sót trong quá trình nghiên cứu Những phát hiện này rất
có ích nếu như nó được cán bộ khuyến nông phản ánh kịp thời cho người làm nghiên cứu để điều chỉnh hoặc bổ sung
Vì vậy, khuyến nông phải là nhịp cầu truyền đạt thông tin hai chiều giữa nông dân và những người làm nghiên cứu Đó là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động khuyến nông
3.4 Khuyến nông không áp đặt, không mệnh lệnh
Mỗi hộ nông dân là một đơn
vị kinh tế độc lập, đời sống của
họ do họ quyết định Vì vậy
nhiệm vụ của khuyến nông là tìm
hiểu cặn kẽ những yêu cầu,
nguyện vọng của họ trong sản
xuất nông nghiệp, đưa ra những
kỹ thuật tiến bộ sao cho phù hợp
để họ tự cân nhắc, lựa chọn Vụ
này chưa áp dụng vì họ thấy
chưa đủ điều kiện, chưa thật tin
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
3.5 Khuyến nông hợp tác với những tổ chức phát triển nông thôn khác
Khuyến nông phải hợp tác chặt chẽ với những tổ chức đang cung cấp những dịch vụ cơ bản khác cho nông dân Khuyến nông chỉ là một trong nhiều hoạt động kinh tế, văn hoá,
xã hội và chính trị của sự nghiệp phát trển nông thôn Vì cùng chung một mục đích hỗ trợ nông dân, khuyến nông phải sẵn sàng phối hợp với các tổ chức
khác có mặt trong địa bàn hoạt
phương đều rất nhiệt tình với
công tác khuyến nông Nếu
biết hợp tác và tranh thủ sự
giúp đỡ của họ, khuyến nông
sẽ dễ dàng tiếp cận nông dân
hơn và cũng đạt được hiệu
quả cao hơn
Các tổ chức dịch vụ: Đó là những cơ quan cung cấp tín dụng hoặc những loại dịch vụ khác nhau cho sản xuất nông nghiệp Khuyến nông cần phối hợp với họ để tạo điều kiện cho những dịch vụ đó được cung cấp đầy đủ, đúng lúc, đúng chỗ theo nhu cầu của nông dân
Các cơ quan y tế: Khi phối hợp với các cơ quan y tế, cán bộ khuyến nông sẽ nắm được các vấn đề liên quan đến sức khoẻ của nông dân, tình hình kế hoạch hoá gia đình, đặc biệt
Trang 26là tình trạng dinh dưỡng là hai vấn đề liên quan chặt chẽ với nhau Vì vậy, cán bộ khuyến nông cần liên hệ thường xuyên với các cơ quan y tế để có thể làm cho các chương trình khuyến nông luôn phù hợp với nhu cầu y tế tại địa phương
Trường phổ thông các cấp: Phần đông học sinh các trường học
ở nông thôn sẽ trở thành những nông dân trong tương lai Cán
bộ khuyến nông cần phối hợp với nhà trường để sớm trang bị cho học sinh những kiến thức và những kỹ năng cần thiết
Các tổ chức quần chúng và phi chính phủ: Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên, v.v hoặc những tổ chức phi chính phủ quốc tế hoặc của Việt Nam đang hoạt động tại địa bàn Đây là những tổ chức có cùng mục tiêu giáo dục với khuyến nông Khi phối hợp với họ, khuyến nông có thể giúp đỡ họ phát triển được những chương trình hành động mang tính cộng đồng Điều quan trọng là người cán bộ khuyến nông phải biết được những đồng nghiệp của mình trong các cơ quan dịch vụ và các tổ chức phi chính phủ đang làm gì trong vùng Ngược lại, các tổ chức đó cũng phải biết được khuyến nông đang làm gì Hợp tác chặt chẽ giữa khuyến nông với những cơ quan đó sẽ tránh được hiện tượng lặp lại những việc của người khác đã
và đang làm, tạo ra những cơ hội để phối hợp hài hoà giữa các chương trình phát triển nông thôn khác nhau
3.6 Khuyến nông làm việc với các đối tượng khác nhau
Ở nông thôn, không phải mọi hộ nông dân đều có những vấn đề như nhau Những hộ có nhiều đất đai thường ham muốn những cách làm ăn mới Những hộ có ít nguồn lực thường thận trọng hoặc dè dặt hơn Vì vậy, không thể chỉ có duy nhất một chương trình khuyến nông cho tất cả mọi người Cần xác định
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
những nhóm nông dân có tiềm năng và lợi ích khác nhau để phát triển những chương trình khuyến nông phù hợp với điều kiện của từng nhóm
Sẽ là sai lầm nếu khuyến nông chỉ tập trung đầu tư cho những nông dân tiên tiến và hy vọng họ phổ biến thông tin hoặc kiến thức cho những nông dân khác Thực tế không phải bao giờ cũng như vậy bởi vì những nông dân tiên tiến cũng có những vấn đề của họ Khi đã có nhiều đất đai và kinh nghiệm, họ sẽ đầu tư thời gian làm nhiều hơn để có thêm sản phẩm bán và làm giầu cho gia đình Những hộ nghèo nhất là nhóm đối tượng cần được đặc biệt quan tâm vì
họ thiếu những nguồn lực cần thiết để có thể tham gia các chương trình khuyến nông chung
Vì vậy, khuyến nông cần nhận thức được một thực tế rằng
ở nông thôn, cộng đồng nào cũng có những nhóm nông dân có
Trang 28những nguồn lực và kỹ năng khác nhau và những nhu cầu khác nhau Ví dụ như những hộ nghèo, đối tượng là phụ nữ, thanh niên, với từng nhóm đối tượng, khuyến nông cần có một chương trình riêng phù hợp với khả năng và nhu cầu của họ.Theo Nghị định số 56/2005/NĐ-CP ban hành ngày 26/4/2005 của Chính phủ về khuyến nông - khuyến ngư đã chỉ
rõ 5 nguyên tắc hoạt động khuyến nông như sau:
Xuất phát từ nhu cầu của người sản xuất và yêu cầu phát triển nông nghiệp;
Tạo sự liên kết chặt chẽ giữa nhà quản lý, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp với người sản xuất và giữa người sản xuất với nhau
Xã hội hóa hoạt động khuyến nông
Dân chủ, công khai, có sự tham gia tự nguyện của người sản xuất
Các hoạt động khuyến nông phải phù hợp và phục vụ chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn; ưu tiên vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng sản xuất hàng hóa phục vụ yêu cầu xuất khẩu
4 VAI TRÕ CỦA KHUYẾN NÔNG
4.1 Vai trò của cán bộ khuyến nông
Người cán bộ khuyến nông chịu trách nhiệm cung cấp thông tin giúp nông dân hiểu được và dám quyết định về một vấn đề cụ thể (Ví dụ: áp dụng một cách làm ăn mới, gieo trồng một loại giống mới) Khi nông dân đã quyết định, người cán bộ khuyến nông phải chuyển giao kiến thức để nông dân áp dụng thành công cách làm ăn mới đó Như vậy vai trò của cán bộ
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
khuyến nông là đem kiến thức đến cho dân và giúp họ sử dụng kiến thức đó Người cán bộ khuyến nông được đào tạo để thực hiện nhiệm vụ, được trang bị đầy đủ các thông tin và kiến thức
kỹ thuật để giúp đỡ nông dân Tuy nhiên, khi làm nhiệm vụ khuyến nông, người cán bộ khuyến nông phải dựa vào đường lối, chính sách hiện hành của Đảng và Nhà nước về sự phát triển nông nghiệp nông thôn
Theo quan điểm khuyến nông mới, người cán bộ khuyến nông thường ít bị ràng buộc vào những chỉ tiêu kế hoạch cụ thể của từng chương trình khuyến nông (Ví dụ: trồng được bao nhiêu cây, nuôi được bao nhiêu con lợn, thu hoạch được bao nhiêu tấn thóc, ) Điều quan trọng hơn là từ các mục tiêu, nhiệm vụ của chương trình khuyến nông thì người cán bộ khuyến nông phải chủ động, nỗ lực cố gắng động viên, tổ chức người dân tham gia tích cực vào hoạt động khuyến nông Muốn vậy người cán bộ khuyến nông phải thường xuyên hỗ trợ và động viên nông dân phát huy những tiềm năng và sáng kiến của họ để chủ động giải quyết những vấn đề trong cuộc sống Một cán bộ khuyến nông thực thụ sẽ có những vai trò rất quan trọng đối với nông dân về 12 mặt sau đây:
1 Người đào tạo 5 Người cố vấn 9 Người cung cấp
2 Người tổ chức 6 Người bạn 10 Người thông tin
3 Người lãnh đạo 7 Người tạo điều kiện 11 Người hành
động
4 Người quản lý 8 Người môi giới 12 Người trọng tài
Trang 30Điều đó cho chúng ta
thấy vai trò rất đa dạng
của người cán bộ khuyến
nông trong sự nghiệp phát
triển nông thôn Vì thế
người cán bộ khuyến nông
phải hiểu được tầm quan
Kiến thức về mặt kỹ thuật: Người cán bộ khuyến nông
cần được đào tạo đầy đủ về các lĩnh vực kỹ thuật trong phạm vi trách nhiệm công tác của mình, vì các hoạt động
ở nông thôn tương đối toàn diện và đa ngành: trồng trọt, chăn nuôi, trồng rừng, nuôi cá, nghề phụ , nên người cán
bộ khuyến nông không chỉ hiểu sâu một chuyên ngành nào đó mà còn phải biết rộng về các chuyên ngành khác,
có như vậy mới có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình (ví dụ: một kỹ sư trồng trọt thì cũng cần hiểu về một số kỹ thuật cơ bản về chăn nuôi hay trồng rừng, )
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
Kiến thức về xã hội và cuộc sống nông thôn: Người cán
bộ khuyến nông cần hiểu được những vấn đề liên quan đến nhân văn và xã hội của đời sống nông thôn nơi mình đang công tác, đặc biệt là phải hiểu được các phong tục, tập quán, truyền thống văn hoá và những giá trị tinh thần của người dân
Kiến thức về đường lối, quan điểm và chính sách của Nhà nước: Người cán bộ khuyến nông phải nắm được chủ
trương, đường lối và những chính sách cơ bản của Đảng
và Nhà nước về phát triển nông thôn Những chính sách
cụ thể của địa phương (tỉnh, huyện, ) về phát triển nông nghiệp và nông thôn trên địa bàn Đồng thời cũng phải hiểu được những vấn đề khác có liên quan và ảnh hưởng đến đời sống nông thôn như các chương trình phát triển, chương trình tín dụng, hoặc các thủ tục pháp lý và hành chính ở nông thôn
Kiến thức về giáo dục người lớn: Do khuyến nông là một
tiến trình giáo dục mà đối tượng của nó là nông dân, nên người cán bộ khuyến nông phải biết cách tiếp cận và giáo dục người lớn, cần phải nắm được những kỹ thuật lôi cuốn sự tham gia của người dân vào các chương trình khuyến nông
4.2.2 Năng lực cá nhân
Thật khó xác định được tất cả những năng lực cá nhân của một cán bộ khuyến nông để mà đào tạo Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp năng lực cá nhân không phải chỉ do đào tạo mà có, năng lực cá nhân còn phụ thuộc vào năng khiếu, vào sự rèn luyện bền bỉ, kiên trì, sự tích luỹ kinh nghiệm trong quá trình công tác thực tiễn của bản thân
Trang 32 Năng lực tổ chức và lập kế hoạch: Người cán bộ khuyến
nông cần có khả năng lập kế hoạch các hoạt động khuyến nông và tổ chức nông dân thực hiện những kế hoạch đó, ngoài ra còn phải biết cách quản lý một cách có hiệu quả văn phòng và các hoạt động khuyến nông của văn phòng mình
Năng lực truyền đạt thông tin: Người cán bộ khuyến nông
phải có khả năng nói và viết tốt, bởi vì cán bộ khuyến nông sẽ phải sử dụng thường xuyên những kỹ năng này
để giao tiếp với mọi người trong công tác khuyến nông
Năng lực phân tích và đánh giá: Người cán bộ khuyến
nông phải có khả năng đánh giá những tình huống anh ta đối mặt hàng ngày, nhận thức và hiểu rõ được các vấn đề
để có thể đề xuất được các giải pháp kịp thời và hợp lý
Năng lực lãnh đạo: Người cán bộ khuyến nông phải tự tin
và biết tin tưởng vào những đối tượng mình đang phục
vụ, phải gương mẫu trước quần chúng và có khả năng lãnh đạo quần chúng thực hiện thành công các chương trình khuyến nông
Năng lực sáng tạo: Người cán bộ khuyến nông thường
phải làm việc trong các điều kiện độc lập và ít chịu sự giám sát của cấp trên, vì vậy cần phải có khả năng sáng tạo, tự tin vào công việc của chính mình, chứ không phải lúc nào cũng dựa vào sự chỉ đạo và hỗ trợ của cấp trên
4.2.3 Phẩm chất cá nhân
Phẩm chất cá nhân là những đức tính tốt mà mỗi người làm khuyến nông đều phải có, nó bao gồm rất nhiều các nội dung Tuy nhiên có một số phẩm chất nổi bật cần quan tâm là:
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
Sẵn sàng làm việc ở những vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh với tinh thần vì nhân dân
Là niềm tin, là chỗ dựa cho người nông dân trong công tác khuyến nông, người cán bộ khuyến nông là người không những được cán bộ cấp trên tín nhiệm mà còn được nông dân tin tưởng khi đưa ra những lời khuyên
Lòng nhân đạo, tình cảm yêu mến đối với bà con nông dân và tính hài hước nhẹ nhàng trong công việc Cán bộ khuyến nông cần biết thông cảm với những ước muốn và những tình cảm của người dân, đồng thời khi làm việc cũng phải biết tôn trọng và lắng nghe ý kiến của họ
Tin tưởng vào năng lực của chính mình và quyết tâm làm được một điều gì đó để góp phần vào sự nghiệp phát triển nông thôn Vì làm việc trong điều kiện độc lập và ít
có sự giám sát của cấp trên, nếu không tin tưởng vào chính bản thân mình và không có lòng quyết tâm thì khó
có thể làm tốt vai trò của người cán bộ khuyến nông Những điều nói về kiến thức, năng lực và phẩm chất cá nhân nói trên không phải nhằm mục đích tạo ra cơ sở để đánh giá tư cách bất kỳ một cán bộ khuyến nông nào Tất cả chỉ nhằm cho chúng ta thấy khuyến nông là một công việc khó khăn và đòi hỏi rất cao Đó cũng là một hướng dẫn cần thiết cho chúng ta khi tuyển lựa và đào tạo cán bộ khuyến nông để phục vụ cho sự nghiệp phát triển nông thôn
4.2.4 Khả năng nói trước quần chúng
Nói trước quần chúng là một năng lực và kỹ năng mà người cán bộ khuyến nông phải thường xuyên rèn luyện Một trong những công việc chính của cán bộ khuyến nông là truyền đạt
Trang 34thông tin Điều đó đòi hỏi cán bộ khuyến nông phải thường xuyên tiếp xúc với nhiều người để giải thích một vấn đề nào đó, trình bày một ý tưởng hay để người dân áp dụng, hoặc tham gia vào một cuộc thảo luận nhóm, v.v Khả năng nói trước quần chúng sẽ giúp người cán bộ khuyến nông truyền đạt thông tin tới người nghe một cách có hiệu quả và khi trình bày điều quan trọng không phải chỉ trình bày kiến thức về khoa học kỹ thuật mà còn phải truyền được cả tâm huyết của mình cho người dân
Khi giao tiếp với nông dân, muốn bài giảng hoặc bài nói chuyện của mình có hiệu quả tốt với người nghe, người cán bộ khuyến nông không có cách nào khác là phải chuẩn bị trước để lời nói trôi chảy, lưu loát và tạo ấn tượng cho người nghe Đối với nông dân, thật không có gì buồn ngủ hơn là phải nghe một diễn giả mắt lúc nào cũng cắm vào tờ giấy, nói năng ngắc ngứ, quên mất những điều quan trọng hoặc cứ thao thao bất tuyệt những chuyện trên trời dưới biển, chẳng liên quan gì đến những vấn đề của họ
Không phải ai sinh ra là đã có khả năng nói tốt trước đám đông Người cán bộ khuyến nông hoàn toàn có thể rèn luyện cho mình kỹ năng này Để làm tốt được điều trên, cần chú ý một số điểm sau:
Chuẩn bị kỹ bài nói chuyện hoặc bài giảng, tập thử một vài lần trước khi trình bày với mọi người;
Luôn động viên người nghe nêu ý kiến và sẵn sàng khuyến khích mọi người thảo luận;
Tránh những cuộc thảo luận chỉ có một mình độc thoại hoặc chỉ có duy nhất hỏi và trả lời, điều đó làm mất tính đối thoại chân chính và tính giáo dục của khuyến nông;
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
Không nên có những cuộc thảo luận hoặc những bài nói chuyện quá kéo dài, vì có thể gây chán nản cho người nghe;
Luôn luôn đặt câu hỏi cho người nghe để khuyến khích thảo luận và thông tin hai chiều
4.2.5 Kỹ năng viết báo cáo
Cũng như nói trước quần chúng, viết báo cáo là một kỹ năng cần thiết mà người cán bộ khuyến nông phải rèn luyện cho mình Muốn viết được một báo cáo tốt cần ghi nhớ một số gợi ý sau đây:
Chuẩn bị đầy đủ thông tin và các loại số liệu sẽ đưa vào báo cáo;
Lập dàn ý cho bản báo cáo, báo cáo bao gồm các nội dung gì? sẽ được trình bày như thế nào?
Sắp xếp các nội dung báo cáo theo một trật tự logic: Phần giới thiệu chung, mục đích báo cáo, nội dung báo cáo, kết luận và những đề xuất;
Nội dung báo cáo ngắn gọn, súc tích, chính xác và dễ hiểu: các báo cáo không nên dài lê thê mà cần ngắn gọn, nên sử dụng hình thức bảng biểu trong báo cáo
4.2.6 Cách tiếp cận và làm việc với các lãnh đạo địa phương
Một khuyến nông viên giỏi phải luôn biết cách tiếp cận và
sử dụng những nguồn lực có sẵn ở địa phương trong công tác khuyến nông, biết động viên khuyến khích họ tham gia công tác khuyến nông và phát triển cộng đồng Làm khuyến nông không chỉ có các khuyến nông viên, mà cần phải mở rộng và phát triển mạng lưới khuyến nông viên cơ sở, họ có thể là các cán bộ thôn, bản, hoặc công tác đoàn thể ở địa phương, hoặc những
Trang 36người có kinh nghiệm sản xuất giỏi, những người có uy tín trong thôn bản, v.v Có thể phân chia thành hai dạng lãnh đạo tại địa phương:
Lãnh đạo chính thức: Những người đang giữ vị trí trong
bộ máy hành chính tại địa phương hoặc nhân viên nhà nước như: Chủ tịch xã, chủ nhiệm hợp tác xã, trưởng thôn, hội trưởng phụ nữ, hội làm vườn, hội cựu chiến binh,
Lãnh đạo không chính thức: Những người tuy không giữ
một cương vị gì ở địa phương, nhưng do năng lực và phẩm chất cá nhân, họ có uy tín và tiếng nói nhất định trong dân chúng như lão nông tri điền, người sản xuất giỏi, già làng, bộ đội phục viên, cán bộ về hưu, hoặc các cha xứ ở nơi theo đạo Thiên Chúa, Đó là những người
mà khuyến nông cần hợp tác và sử dụng ảnh hưởng của
họ vào công tác khuyến nông Tuỳ theo tính chất của mỗi hoạt động khuyến nông, nên tham khảo ý kiến của các nhân vật này hoặc mời họ tham gia các cuộc họp hoặc các chương trình khuyến nông, có thể bồi dưỡng và đào tạo họ trở thành những khuyến nông viên ở địa phương Nếu tranh thủ được sự hỗ trợ của họ, hoạt động khuyến nông sẽ có một chỗ dựa vững chắc
Trong công tác khuyến nông tại cơ sở, cán bộ khuyến nông nên chú trọng xây dựng mối quan hệ của mình với lãnh đạo địa phương, cả chính thức lẫn không chính thức Đó là những mối quan hệ cá nhân quan trọng và luôn thường trực giúp đỡ các hoạt động khuyến nông Thông thường, khuyến nông có thể hợp tác với lãnh đạo địa phương theo những phương thức sau:
- Tuyển lựa họ làm khuyến nông viên theo hình thức tự nguyện, sau đó đào tạo, tập huấn cho họ về phương pháp
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
khuyến nông, một số kỹ thuật cơ bản về cây trồng vật nuôi, cách tổ chức một cuộc trình diễn hoặc cách điều hành một cuộc họp
- Thông báo cho họ biết những hoạt động khuyến nông và những đề xuất xây dựng những chương trình mới Cung cấp các tài liệu khuyến nông cho họ Đến thăm họ ở mức độ vừa phải, đủ làm cho họ không cảm thấy bị bỏ quên Cố gắng đến thăm họ một cách đều đặn để những cuộc đến thăm của bạn thực sự đi vào đời sống của gia đình họ
- Khuyến khích họ chủ động tham gia và đi đầu trong các chương trình khuyến nông Cần nhớ rằng vai trò của họ càng được nhận biết và tôn trọng, sự tham gia của họ càng tích cực
và có hiệu quả bao nhiêu thì ảnh hưởng của khuyến nông trong địa bàn càng lớn bấy nhiêu
Những vấn đề chú ý có thể xảy ra trong khi tiếp cận và làm việc tại cơ sở: Nếu dành quá nhiều thời gian cho một hoặc hai người, thì những nông dân khác sẽ cho rằng khuyến nông thiên
vị, chỉ muốn đến với những người có vai vế ở địa phương Lãnh đạo địa phương là những người truyền đạt thông tin và những kiến thức, kinh nghiệm cho người nông dân khác Tuy nhiên, không phải bao giờ điều đó cũng xảy ra như chúng ta mong muốn, bởi họ cũng có vấn đề của họ như bận nhiều công việc, hoặc họ muốn giữ lại một số bí quyết cho bản thân gia đình họ chẳng hạn Cho nên sau khi giao việc cho họ, cần kiểm tra xem
họ có làm tốt hay không Nếu có ai không làm được vai trò chuyển giao đó, cần tìm hiểu nguyên nhân để có biện pháp khắc phục thích hợp
Có những người thường tỏ ra quá tự tin vào bản thân mình nên hay có những tư tưởng áp đặt với những nông dân khác
Trang 38Họ cũng có thể lợi dụng lợi thế và uy tín của mình để vụ lợi cho
cá nhân
Một vài người do năng lực có hạn nên cũng có thể mắc sai lầm và đưa ra những lời khuyên không đúng đắn với những nông dân khác Do vậy khi giao cho họ làm công việc khuyến nông, cần kiểm tra để đảm bảo chắc chắn rằng những thông tin
họ truyền đạt cho dân là đúng đắn
Cán bộ khuyến nông là một trong những nhân tố chính trong toàn bộ tiến trình khuyến nông Nếu không có họ trực tiếp hướng dẫn, chỉ đạo và giám sát các hoạt động khuyến nông ở địa phương, sẽ không có dịch vụ khuyến nông cho nông dân Vai trò và mối quan hệ của người cán bộ khuyến nông với nông dân là có tính quyết định đối với các chương trình khuyến nông Kinh nghiệm khuyến nông trong những năm qua cho thấy,
sự nghiệp phát triển nông thôn đòi hỏi phải có những cán bộ khuyến nông:
- Biết dành thời gian rèn luyện những kỹ năng cho mình để giúp đỡ nông dân có hiệu quả hơn chứ không phải chỉ biết tập trung toàn bộ những cố gắng của mình vào việc đạt được những mục tiêu cụ thể của các dự án khuyến nông đơn thuần;
- Biết thường xuyên đến với nông dân chứ không phải lúc nào cũng ngồi ở văn phòng khuyến nông như một nhân viên bàn giấy;
- Biết khuyến khích nông dân phát huy sáng kiến, phát huy tinh thần tự lực cánh sinh chứ không phải chỉ áp đặt cho nông dân những cách làm ăn theo bài bản có sẵn
- Biết hướng tới sự phát triển bền vững và lâu dài chứ không phải chỉ tìm kiếm những thành công nhất thời
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
5 MỤC TIÊU, CHỨC NĂNG VÀ NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG KHUYẾN NÔNG
5.1 Mục tiêu của khuyến nông
Nâng cao nhận thức về chủ trương, chính sách, pháp luật, kiến thức, kỹ năng về khoa học kỹ thuật, quản lý, kinh doanh cho người sản xuất
Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, phát triển sản xuất theo hướng bền vững, tạo việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
và nông thôn
Huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia khuyến nông
5.2 Chức năng của khuyến nông
Chức năng cơ bản của khuyến nông không những là truyền bá thông tin và huấn luyện nông dân mà còn biến những thông tin, kiến thức được truyền bá, những kỹ năng đã đào tạo thành những kết quả cụ thể trong sản xuất và đời sống
- Đào tạo, tập huấn nông dân: Tổ chức các khoá tập huấn, xây dựng mô hình, tham quan, hội thảo đầu bờ cho nông dân
- Thúc đẩy, tạo điều kiện cho người nông dân đề xuất các ý tưởng, sáng kiến và thực hiện thành công các ý tưởng sáng kiến của họ Phát triển các hình thức liên kết hợp tác của nông dân nhằm mục tiêu phát triển nông lâm nghiệp và nông thôn
Trang 40- Trao đổi truyền bá thông tin: Bao gồm việc xử lý, lựa chọn các thông tin cần thiết, phù hợp từ các nguồn khác nhau để phổ biến cho nông dân giúp họ cùng nhau chia sẻ và học tập
- Giúp nông dân giải quyết các vấn đề khó khăn tại địa phương: Tạo điều kiện giúp họ có thể phát hiện, nhận biết và phân tích được các vấn đề khó khăn trong sản xuất, đời sống
và bàn bạc cùng nông dân tìm biện pháp giải quyết Phát triển các chương trình khuyến nông khuyến lâm với các phương pháp và cách tiếp cận thích hợp Trên cơ sở cùng người dân/cộng đồng phân tích thực trạng địa phương, xây dựng kế hoạch, thực hiện các chương trình khuyến nông khuyến lâm phù hợp, đáp ứng được nhu cầu và lợi ích của nhiều đối tượng người dân trong cộng đồng
- Giám sát và đánh giá hoạt động khuyến nông Đây là một nội dung rất quan trọng, nếu làm tốt được công việc giám sát đánh giá, có nghĩa là chúng ta đã cụ thể hóa được quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác dân chủ ở cơ sở: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý và hưởng thụ”
- Phối hợp với nông dân tổ chức các thử nghiệm phát triển
kỹ thuật mới, hoặc thử nghiệm kiểm tra tính phù hợp của kết quả nghiên cứu trên hiện trường, từ đó làm cơ sở cho việc khuyến khích lan rộng
- Hỗ trợ nông dân về kinh nghiệm quản lý kinh tế hộ gia đình, phát triển sản xuất quy mô trang trại
- Tìm kiếm và cung cấp cho nông dân các thông tin về giá
cả, thị trường tiêu thụ sản phẩm
Thực tiễn hoạt động của ngành nông nghiệp trong những năm đổi mới vừa qua, tổng kết rút kinh nghiệm hoạt động khuyến nông trên toàn quốc có một số nội dung hoạt động của công tác khuyến nông Việt Nam trong giai đoạn mới như sau: