1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Khả năng ứng phó với chẩn đoán – điều trị và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân ung thư vú tại bệnh viện ung bướu thành phố hồ chí minh

7 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khả năng Ứng Phó Với Chẩn Đoán – Điều Trị Và Các Yếu Tố Liên Quan Ở Bệnh Nhân Ung Thư Vú Tại Bệnh Viện Ung Bướu Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Vừ í Lan
Trường học Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y học
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2020
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 245,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 2020 Tập 2 Journal of Oncology Viet Nam Issue N5 2020 Vol 2 463 KHẢ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI CHẨN ĐOÁN – ĐIỀU TRỊ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ VÚ TẠI BỆNH VIỆN[.]

Trang 1

KHẢ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI CHẨN ĐOÁN – ĐIỀU TRỊ VÀ CÁC YẾU

TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ VÚ TẠI BỆNH VIỆN

UNG BƯỚU THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

VÕ Ý LAN1

Địa chỉ liên hệ: Võ Ý Lan

Email: ylan.pharm@gmail.com Ngày nhận bài: 08/10/2020 Ngày phản biện: 03/11/2020

Ngày chấp nhận đăng: 05/11/2020

1 CN Khoa Y tế Công cộng - Đại học Y Dược TP HCM

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư ngày càng phổ biến, là nguyên nhân

gây tử vong đứng hàng thứ 2 trên thế giới và ước

tính khoảng 9,6 triệu ca tử vong trong năm 2018[12]

Việt Nam cũng không ngoại lệ, ung thư vú đứng đầu

trong các ung thư ở nữ giới ở Miền Bắc với tỉ lệ mắc

chuẩn theo tuổi là 27,3/ 100.000 người, ở Miền Nam

tỉ lệ này là 17,1/ 100.000 người Trung bình có

khoảng 15.000 ca mắc mới mỗi năm, trong đó tỷ lệ

tử vong khoảng 35%, cao hơn các nước phát triển,

bệnh có xu hướng trẻ hóa và tăng dần qua các

năm[1]

Hầu hết, các bệnh nhân ung thư cảm thấy sốc

khi nhận được chẩn đoán của bác sĩ Họ rơi vào tình

trạng lo âu, sợ hãi, không kiểm soát được hành vi và

cảm xúc bản thân Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu, cho thấy việc can thiệp khả năng ứng phó ở bệnh nhân ung thư vú có thể thúc đẩy các khía cạnh tích cực, giúp bệnh nhân cảm thấy tốt hơn và mạnh

mẽ hơn Khả năng ứng phó giúp họ nhận ra sự sống không phải là mục tiêu quan trọng duy nhất; mà chất lượng cuộc sống, các mối quan hệ, giá trị cuộc sống

và tâm linh cũng xứng đáng để họ chú ý và nỗ lực[3] Chính rào cản tâm lý góp phần tiêu cực vào quá trình phục hồi về thể lý và tâm lý của bệnh nhân/người thân, đặc biệt trong giai đoạn điều trị, phục hồi và tái hòa nhập cuộc sống sau một thời gian dài Trên thế giới hiện đã có nhiều nghiên cứu đánh giá khả năng ứng phó của bệnh nhân ung thư

vú Tuy nhiên, tại Việt Nam, các nghiên cứu về khả năng

TÓM TẮT

Mục tiêu : Xác định tỷ lệ về khả năng ứng phó với chẩn đoán - điều trị và các yếu tố liên quan ở bệnh

nhân ung thư vú tại Bệnh Viện Ung Bướu Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2020.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 261 bệnh nhân ung thư

vú đang điều trị tại Khoa Nội 4, Ngoại 4, Xạ 4 của bệnh viện Ung Bướu TPHCM Lấy mẫu bằng phương pháp phân tầng tỷ lệ theo từng khoa, sau đó lấy mẫu thuận tiện tại các khoa Nghiên cứu sử dụng thang

đo Brief-COPE để đánh giá khả năng ứng phó, thang APGAR đo mức độ hỗ trợ gia đình, thang HADS đánh giá mức độ trầm cảm - lo âu, thang GHSQ đo lường tìm kiếm trợ giúp

Kết quả: Độ tuổi trung bình của đối tượng tham gia nghiên cứu là 51,29 ± 9,56 Đa số đối tượng có

khả năng ứng phó vừa (88,51%), khả năng ứng phó thấp (11,11%), khả năng ứng phó cao (0,38%) Phần lớn đối tượng sử dụng chiến lược ứng phó Hỗ trợ cảm xúc, Tự phân tâm và Nhận sự hỗ trợ Có mối liên quan giữa khả năng ứng phó với nhóm tuổi, tình trạng kinh tế, tôn giáo, hình thức điều trị, mức độ trầm cảm

Kết luận: Kết quả khả năng ứng phó ở bệnh nhân ung thư vú có chiều hướng tích cực Những bệnh

nhân bị trầm cảm thì khả năng ứng phó thấp Nghiên cứu chỉ ra rằng chăm sóc bệnh nhân ung thư vú cần quan tâm về sức khỏe thể chất, tâm lý, xã hội, đồng thời áp dụng chiến lược ứng phó cá nhân để hạn chế tác động của ung thư vú đối với tâm lý bệnh nhân

Từ khóa: Ứng phó, ung thư vú, Brief-COPE, trầm cảm, Bệnh viện Ung Bướu TP HCM

Trang 2

ứng phó trên bệnh nhân ung thư còn khá hiếm

Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu nhằm đánh

giá khả năng ứng phó với chẩn đoán - điều trị và các

yếu tố liên quan ở bệnh nhân ung thư vú tại bệnh

viện Ung Bướu thành phố Hồ Chí Minh

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

Đối tượng

Bệnh nhân được chẩn đoán ung thư vú và đang

điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí

Minh

Tiêu chí chọn vào

Bệnh nhân nữ đang điều trị ngoại trú, nội trú

bệnh ung thư vú tại Bệnh Viện Ung Bướu Thành phố

Hồ Chí Minh trong thời gian nghiên cứu

Bệnh nhân đủ 18 tuổi trở lên

Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chí loại ra

Bệnh nhân đang bị rối loạn tâm thần hoặc rối

loạn nhận thức, khiếm thính hoặc khiếm thị, không

có khả năng nói và nghe hiểu tiếng Việt

Bệnh nhân đang trong tình trạng quá yếu,

không thể tham gia nghiên cứu, bệnh nhân đang ở

giai đoạn IV

Phương pháp

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện Ung

Bướu Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 3/2020 đến

tháng 6/2020

Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu

Cỡ mẫu được xác định trên công thức ước

lượng một tỉ lệ cho nghiên cứu cắt ngang mô tả, với

xác suất sai lầm loại I là 0,05 (α = 0,05), sai số biên

là 0,05 (d = 0,05) và dự trù mất mẫu 5% tính được

cỡ mẫu tối thiểu là 248 người

Chọn mẫu thuận tiện phân tầng theo 3 khoa Xạ

4 (nội - ngoại trú), Nội 4, Ngoại 4 dựa theo số lượt

khám bệnh của bệnh nhân ung thư vú ở mỗi khoa

phòng, đưa ra tỷ lệ: 27,3% Xạ 4 - Ngoại trú, 0,8% Xạ

4 - Nội trú, 70,3% Nội 4, 1,6% Ngoại 4

Thiết kế nghiên cứu: Sử dụng thiết kế nghiên

cứu cắt ngang mô tả

Công cụ nghiên cứu

Sử dụng thang đo khả năng ứng phó

Brief-COPE Thang gồm 28 câu hỏi thuộc 14 khía cạnh

đánh giá khả năng ứng phó cá nhân tương đối ổn

định trên các loại yếu tố gây căng thẳng khác nhau

Kết quả được tính tổng điểm các câu Có 4 mức độ

khả năng ứng phó: Không có khả năng ứng phóm (≤28 điểm), Có khả năng ứng phó thấp (29 - 56 điểm), Có khả năng ứng phó vừa (57 - 84 điểm), có khả năng ứng phó cao (≥85 điểm)

Sử dụng thang đo lo âu, trầm cảm tại bệnh viện HADS (Hospital Anxiety and Depression Scale) Có

14 câu trong đó 7 câu đánh giá về lo âu, 7 câu đánh giá về trầm cảm Thang đo tập trung ở các triệu chứng chủ yếu liên quan tới lo âu, trầm cảm Kết quả được phân tích theo tổng điểm các câu theo 3 mức độ: Không (≤7 điểm), Có triệu chứng của trầm cảm / lo âu (8 - 10 điểm), Trầm cảm / Lo âu (≥11 điểm)

Sử dụng thang đo chức năng hỗ trợ từ gia đình (APGAR) Kết quả được phân tích theo tổng điểm của 5 câu với các mức độ: Gia đình gắn kết tốt (8 - 10 điểm), Gia đình gắn kết không tốt (4 - 7 điểm), Gia đình không gắn kết (0 - 3 điểm)

Sử dụng thang đo lường tìm kiếm sự trợ giúp:

là biến số định lượng, được tính bằng tổng điểm của

10 câu hỏi trong thang GHSQ Điểm càng cao thì thể hiện khả năng tìm kiếm sự trợ giúp càng cao

Ngoài ra, các thông tin liên quan tới đặc điểm dân số - kinh tế - xã hội, tình trạng bệnh được thiết

kế trong bộ câu hỏi phỏng vấn

Kỹ thuật thu thập thông tin

Thu thập thông tin bằng cách phỏng vấn mặt đối mặt dựa trên bộ câu hỏi soạn sẵn

Xử lý và phân tích thống kê

Số liệu sau khi được làm sạch được nhập vào máy tính và quản lý bằng phần mềm Epidata 3.1 Các thống kê mô tả được thực hiện thông qua tính toán giá trị trung bình, trung vị, độ lệch chuẩn cho các biến định lượng Phân tích được thực hiện thông qua các test thống kê thích hợp và mô hình hồi quy

đa biến Poisson Mức ý nghĩa thống kê α = 0,05 được áp dụng

Đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu được chấp nhận về mặt y đức của Hội đồng Khoa học Công nghệ Bệnh viện Ung Bướu TP.HCM số 140/BVUB - HĐĐĐ và Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Đại học Y Dược TP.HCM số 134/ HĐĐĐ

KẾT QUẢ

Trong thời gian nghiên cứu có 261 bệnh nhân

đủ tiêu chí lựa chọn và đồng ý tham gia nghiên cứu

Độ tuổi trung bình là 51,29 (± 9,56), hơn ¾ đối tượng sinh sống tại các nơi khác (77,78%) Dân tộc Kinh chiếm chủ yếu (95,79%) Đa phần các bệnh

Trang 3

nhân theo tôn giáo chiếm 80,46%, chủ yếu là Phật

giáo (64,37%) Trình độ học vấn cấp II (34,1%),

nghề nghiệp nội trợ (28,74%), tiếp đến là nông dân

(23,75%) Kinh tế đủ sống chiếm 65,9%, đã kết hôn

(72,8%) và họ sống chung với con/cháu (75,86%)

Tất cả các bệnh nhân đều có bảo hiểm y tế, bảo

hiểm y tế chi trả một phần (77,78%) Bệnh nhân có

xu hướng giảm cân (44,83%) Thời gian mắc bệnh

dưới 1 năm (65,13%), giai đoạn II (51,72%) Gần

một nửa bệnh nhân có bệnh lý kèm theo (45,59%),

đa phần bệnh tăng huyết áp (27,73%)

Phần lớn bệnh nhân cảm nhận gia đình mình có

sự gắn kết tốt (82,38%) Kết quả nghiên cứu cho

thấy, 3,83% đối tượng vừa bị trầm cảm vừa bị lo âu,

7,28% đối tượng chỉ bị lo âu, 6,13% đối tượng chỉ bị

trầm cảm Ngoài ra, 82,76% đối tượng không bị trầm

cảm và lo âu Điểm trung bình tìm kiếm sự trợ giúp (GHSQ) là 26,29 (± 6,6)

Nhìn chung, đa số đối tượng tham gia nghiên cứu có khả năng ứng phó vừa (88,51%), một số ít có khả năng ứng phó thấp (11,11%) và chỉ có 1 đối tượng có khả năng ứng phó cao (0,38%) 28 câu hỏi thuộc 14 khía cạnh của thang Brief-COPE, khía cạnh

sử dụng nhiều nhất là Hỗ trợ cảm xúc (6,41 ± 1,16)

có trung vị là 7 (6 - 7), kế đến là Tự phân tâm (6,37 ± 1,28) có trung vị là 7 (6 – 7), xếp thứ 3 là Nhận sự hỗ trợ (6,33 ± 1,23) có trung vị là 7 (6 - 7) Khía cạnh được sử dụng ít nhất là Sử dụng chất (2,03 ± 0,3) có trung vị là 2 (2 - 2) và Quản lý hành vi (2,89 ± 1,16) có trung vị là 2 (2 - 4)

Bảng 1 Mối liên quan giữa đặc điểm dân số - kinh tế - XH với khả năng ứng phó

P

PR (KTC 95%)

Nhóm tuổi

Tôn giáo

Học vấn

*Phân tích theo khuynh hướng **Kiểm định Fisher

Trang 4

Kết quả bảng 1 cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa khả năng ứng phó với nhóm tuổi, tôn giáo, kinh tế Chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa khả năng ứng phó trên bệnh nhân ung thư

vú với nơi sống, dân tộc, học vấn, nghề nghiệp, sống cùng con cháu (p>0,05)

Bảng 2 Mối liên quan giữa khả năng ứng phó và tình trạng bệnh

P

PR (KTC 95%)

Hình thức điều

trị

Khoảng thời

gian mắc bệnh

Giai đoạn

Kết quả bảng 2 cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa khả năng ứng phó với hình thức điều trị Chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa khả năng ứng phó trên bệnh nhân ung thư vú với khoảng thời gian mắc bệnh, giai đoạn, hóa trị (p>0,05)

Bảng Mối liên quan giữa khả năng ứng phó với các thang

Chức năng hỗ

trợ gia đình

Trầm cảm

Lo âu

*Phân tích theo khuynh hướng

Kết quả bảng 3 cho thấy có mối liên quan có tính khuynh hướng giữa khả năng ứng phó và trầm cảm Chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa khả năng ứng phó trên bệnh nhân ung thư vú với chức năng hỗ trợ gia đình, lo âu, tìm kiếm sự hỗ trợ (p>0,05)

Bảng 4 Mô hình hồi quy đa biến giữa khả năng ứng phó với các yếu tố (n = 261)

Trang 5

Có triệu chứng 0,303 0,93 (0,81 - 1,07)

Nhóm tuổi

Tôn giáo

Không tôn giáo

Hình thức điều trị Nội trú

Sau khi kiểm soát các yếu tố liên quan theo mô hình hồi quy đa biến Poisson (bảng 4), yếu tố có mối liên quan chặt chẽ nhất với khả năng ứng phó ở bệnh nhân ung thư vú là mức độ trầm cảm, nhóm tuổi, tôn giáo, kinh tế, hình thức điều trị

BÀN LUẬN

Điểm Brief-COPE trung bình của nghiên cứu

này là 65,24 ± 7 Kết quả nghiên cứu tương đối cao

hơn nghiên cứu năm 2017 tại Iran được thực hiện

trên 187 bệnh nhân ung thư vú, có điểm khả năng

ứng phó trung bình trước khi điều trị là 46,37 ± 11,

và sau khi điều trị là 51,48 ± 9[7] Bên cạnh đó, một

nghiên cứu tại Ấn Độ trên đối tượng bệnh nhân ung

thư và bệnh nhân sống sót sau ung thư có điểm khả

năng ứng phó lần lượt là 33,27 ± 4,18 và

55,13 ± 4,02[6].Trong nghiên cứu này, tỉ lệ bệnh nhân

ung thư vú sử dụng chiến lược đối phó Hỗ trợ cảm

xúc cao nhất (6,41 ± 1,16) Tương đồng với nghiên

cứu của Kershaw là 6,86 ± 1,6[11] và nghiên cứu của

Silva[8] Được sử dụng phổ biến thứ hai là chiến lược

Tự phân tâm (6,37 ± 1,28) Bên cạnh đó, chiến lược

ứng phó Nhận sự hỗ trợ (6,33 ± 1,23) và Chấp thuận

(5,77 ± 0,95) cũng được đối tượng tham gia nghiên

cứu sử dụng phổ biến

Khi xem xét trong mô hình đa biến, kết quả

nghiên cứu đã tìm thấy mối liên quan giữa khả năng

ứng phó và nhóm tuổi, nhóm tuổi càng cao thì khả

năng ứng phó càng thấp, nhóm tuổi trên 40 có tỷ lệ

khả năng ứng phó thấp hơn 11% - 13% so với nhóm

dưới 40 tuổi Theo nghiên cứu của Rudolf H Moos,

người lớn tuổi sẽ có nhiều vấn đề cá nhân và tài

chính / công việc, người cao tuổi đánh giá các vấn

đề sức khỏe là mối đe dọa đáng quan tâm nhất và

có xu hướng tránh né giải quyết vấn đề đó[13] Theo

nghiên cứu của Carolyn, người cao tuổi ít nỗ lực đối

phó hơn người trung niên và trẻ tuổi[4] Có mối liên

quan giữa khả năng ứng phó và tôn giáo, người theo

nhóm tôn giáo khác có khả năng ứng phó cao hơn người không theo tôn giáo 13%, KTC 95% là (1,02 - 1,25) Kết quả tương tự đã được báo cáo trong một nghiên cứu khác, và đã được báo cáo rằng sử dụng tôn giáo và tâm linh làm nguồn lực và cách đối phó là phổ biến ở bệnh nhân, và nó cũng

có thể có vai trò trong việc điều chỉnh lâu dài đối với bệnh ung thư bằng cách mang lại sự thoải mái về cảm xúc và cảm giác hy vọng[10] Có mối liên quan giữa khả năng ứng phó và tình trạng kinh tế, người

có kinh tế đủ sống có khả năng ứng phó thấp hơn người kinh tế không đủ sống 13%, KTC 95% là (0,79 - 0,97) Tương đồng với nghiên cứu của Phillip (2002), cho thấy cá nhân thu nhập thấp sử dụng chiến lược ứng phó nhiều hơn thu nhập cao Một lời giải thích cho sự phát hiện này là các đối tượng thu nhập thấp được báo cáo bệnh mãn tính và căng thẳng hằng ngày cao, mà mức độ căng thẳng cao sẽ tạo điều kiện sử dụng nhiều hơn các chiến lược ứng phó, với mục đích làm giảm trạng thái căng thẳng, chống chọi bệnh tật và cải thiện chất lượng cuộc sống[5] Người bị trầm cảm sẽ giảm khả năng ứng phó đi 28% so với người không bị trầm cảm, KTC 95% (0,55 - 0,94) Theo nghiên cứu của Stanton (2019), thì khả năng ứng phó càng cao thông qua chấp nhận tích cực thì triệu chứng trầm cảm càng giảm[9] Nghiên cứu Orzechowska (2013), nhận định rằng bệnh nhân trầm cảm trong các tình huống căng thẳng thường sử dụng các chiến lược dựa trên sự tránh né và từ chối và gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tìm kiếm các khía cạnh tích cực của các vấn đề căng thẳng[2] Bệnh nhân ngoại trú có tỉ lệ khả năng ứng phó thấp hơn 16% so bệnh nhân bệnh nhân

Trang 6

điều trị nội trú, KTC 95% 0,71 - 0,99 Việc xếp hàng

chờ đợi đến lượt khám và không khí đông đúc của

bệnh viện tạo nên cảm giác mệt mỏi và căng thẳng

ở bệnh nhân Bệnh nhân điều trị ngoại trú hạn chế

việc chia sẻ cảm xúc, nhận được sự đồng cảm từ

người khác Bên cạnh đó, việc phân tầng chọn mẫu

theo khoa, các bệnh nhân nội trú được đưa vào

nghiên cứu chủ yếu từ Khoa Ngoại 4, bệnh nhân

thường áp dụng phương pháp điều trị phẫu thuật và

ở giai đoạn đầu nên có thể ảnh hưởng đến kết quả

nghiên cứu

Điểm mạnh và điểm hạn chế

Điểm mạnh của nghiên cứu là nghiên cứu tiến

hành với cỡ mẫu vừa đủ, phù hợp với nhiều nghiên

cứu liên quan về khả năng ứng phó trên bệnh nhân

Nghiên cứu viên thu thập thông tin bằng phương

pháp phỏng vấn mặt đối mặt nên thông tin chính xác

và đầy đủ Nghiên cứu áp dụng đầy đủ các biện

pháp kiểm soát sai lệch thông tin, sai lệch chọn lựa,

nên kết quả nghiên cứu có tính khách quan và khoa

học Điểm hạn chế là nghiên cứu đã áp dụng lấy

mẫu thuận tiện nên ảnh hưởng đến tính đại diện của

nghiên cứu Mặc khác, nghiên cứu chỉ thực hiện tại

3 khoa của bệnh viện Ung Bướu TP HCM và bộ câu

hỏi Brief - COPE chưa được chuẩn hóa tại

Việt Nam

KẾT LUẬN

Kết quả khả năng ứng phó ở bệnh nhân ung

thư vú có chiều hướng tích cực (88,51% bệnh nhân

có khả năng ứng phó vừa) Những bệnh nhân bị

trầm cảm thì khả năng ứng phó thấp Nghiên cứu chỉ

ra rằng chăm sóc bệnh nhân ung thư vú cần quan

tâm về sức khỏe thể chất, tâm lý, kinh tế - xã hội,

đồng thời bệnh nhân nên áp dụng chiến lược ứng

phó cá nhân để hạn chế tác động của việc điều trị và

chẩn đoán ung thư vú lên tâm lý bệnh nhân Mặt

khác, cộng đồng kết nối với đội công tác xã hội tạo

điều kiện, hỗ trợ bệnh nhân về mặt kinh phí hoặc

quy trình khá chữa bệnh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Y tế (2018) Ung thư vú,

https://mch.moh.gov.vn/pages/news/17188/Ung-thu-vu.html,

2 A Orzechowska, Zajączkowska, M., Talarowska,

M., & Gałecki, P (2013) "Depression and ways of

coping with stress: A preliminary study" Medical

Science Monitor, 19, PP.1050-1056

3 Andrew K , Ernest R., Isadora R.R (2019)

http://med.stanford.edu/survivingcancer/coping-with-cancer/coping-with-cancer.html,

4 Carolyn M.A, Karen J.S., Gina C., and Avron Spiro (1996) "Age Differences in Stress, Coping, and Appraisal: Findings From the Normative Aging Study" Journal of Gerontology: PSYCHOLOGICAL SCIENCES, 51B, PP179

-188

5 Phillip J B , Erin L O., Glenn J.and Dan J M (2002) "The Influence of Income Level and Ethnicity on Coping Strategies" Journal of Psychopathology and Behavioral Assessment,

24, PP.39 - 45

6 Ravindran OS, Shankar A, Murthy T (2019) "A Comparative Study on Perceived Stress, Coping, Quality of Life, and Hopelessness between Cancer Patients and Survivors" Indian J Palliat Care, 25 (3), PP.414 - 420

7 Sajadian A , RajiLahiji M, Motaharinasab A, Kazemnejad A, Haghighat S (2017) "Breast Cancer Coping Strategies after Diagnosis: A Six-month Follow-up." Multidiscip Cancer Investig, 1 (4), PP.12-16

8 Silva SM, Crespo C, Canavarro MC (2012)

"Pathways for psychological adjustment in breast cancer: a longitudinal study on coping strategies and posttraumatic growth." Psychol Health, 27 (11), PP.1323 - 1341

9 Stanton, Annette L et al (2018) "Cancer-related coping processes as predictors of depressive symptoms, trajectories, and episodes." Journal

of consulting and clinical psychology, 86 (10), PP.820-830

10 Thuné-Boyle IC , Stygall J, Keshtgar MR, Davidson TI, Newman SP (2011) "Religious coping strategies in patients diagnosed with breast cancer in the UK" Psychooncology, 20 (7), PP.771 - 782

11 Trace Kershaw, Laurel N., Charuwan K., Ann S

& Darlene M (2004) "Coping strategies and quality of life in women with advanced breast cancer and their family caregivers" Psychology

& Health, 19 (2), PP.139 - 155

12 WHO (2019) Cancer, https://www.who.int/health-topics/cancer#tab=tab - 1, 08/11/2019

13 Moos RH, Brennan PL, Schutte KK, Moos BS (2006) "Older adults' coping with negative life events: common processes of managing health, interpersonal, and financial/work stressors" Int J Aging Hum Dev, 62 (1), PP.39 - 59

Trang 7

ABTRACT

Ability of response with diagnosis - treatment and associated factors in breast cancer patients at

Oncology Hospital Ho Chi Minh City Objective: Determine the proportion of response to diagnosis - treatment and associated factors in breast

cancer patients at Oncology Hospital Ho Chi Minh city in 2020

Method: Cross-sectional study was conducted on 261 breast cancer patients being treated at the

Department of Internal Medicine 4, External 4, X-ray 4 of the HCM City Oncology Hospital Sampling was based on the proportion of stratification by each department, then convenient sampling in the departments The study utilized the Brief-COPE scale to measure responsiveness, the level of family support was measured by the APGAR scale, the HADS scale was utilized to measure the level of depression - anxiety, and the GHSQ scale was utilized to measure the seeking help

Result: The mean age was 51.29 years (sd = 9.56) The proportion of ability of response among breast

cancer patients in medium, low, high were 88.51%, 11.11%, 0.38%, respectively Majority of response ability among breast cancer patients were Emotional Support, Self-Distraction and Instrumental Support There were significant difference in response ability between age group, economic status, religion, type of treatment, and severity of depression

Discussion: The result of response ability in breast cancer patients tend to be positive Depressed patients

had a low coping capacity This study shows that caring for breast cancer patients needs to be concerned about physical, psychological and social health, and apply individual response strategies to limit the impact of breast cancer on psychology patient

Keywords: Cope, breast cancer, Brief-COPE, depression, Oncology Hospital

Ngày đăng: 28/02/2023, 08:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w