Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 2020 Tập 2 Journal of Oncology Viet Nam Issue N5 2020 Vol 2 463 KHẢ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI CHẨN ĐOÁN – ĐIỀU TRỊ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ VÚ TẠI BỆNH VIỆN[.]
Trang 1KHẢ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI CHẨN ĐOÁN – ĐIỀU TRỊ VÀ CÁC YẾU
TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ VÚ TẠI BỆNH VIỆN
UNG BƯỚU THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VÕ Ý LAN1
Địa chỉ liên hệ: Võ Ý Lan
Email: ylan.pharm@gmail.com Ngày nhận bài: 08/10/2020 Ngày phản biện: 03/11/2020
Ngày chấp nhận đăng: 05/11/2020
1 CN Khoa Y tế Công cộng - Đại học Y Dược TP HCM
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư ngày càng phổ biến, là nguyên nhân
gây tử vong đứng hàng thứ 2 trên thế giới và ước
tính khoảng 9,6 triệu ca tử vong trong năm 2018[12]
Việt Nam cũng không ngoại lệ, ung thư vú đứng đầu
trong các ung thư ở nữ giới ở Miền Bắc với tỉ lệ mắc
chuẩn theo tuổi là 27,3/ 100.000 người, ở Miền Nam
tỉ lệ này là 17,1/ 100.000 người Trung bình có
khoảng 15.000 ca mắc mới mỗi năm, trong đó tỷ lệ
tử vong khoảng 35%, cao hơn các nước phát triển,
bệnh có xu hướng trẻ hóa và tăng dần qua các
năm[1]
Hầu hết, các bệnh nhân ung thư cảm thấy sốc
khi nhận được chẩn đoán của bác sĩ Họ rơi vào tình
trạng lo âu, sợ hãi, không kiểm soát được hành vi và
cảm xúc bản thân Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu, cho thấy việc can thiệp khả năng ứng phó ở bệnh nhân ung thư vú có thể thúc đẩy các khía cạnh tích cực, giúp bệnh nhân cảm thấy tốt hơn và mạnh
mẽ hơn Khả năng ứng phó giúp họ nhận ra sự sống không phải là mục tiêu quan trọng duy nhất; mà chất lượng cuộc sống, các mối quan hệ, giá trị cuộc sống
và tâm linh cũng xứng đáng để họ chú ý và nỗ lực[3] Chính rào cản tâm lý góp phần tiêu cực vào quá trình phục hồi về thể lý và tâm lý của bệnh nhân/người thân, đặc biệt trong giai đoạn điều trị, phục hồi và tái hòa nhập cuộc sống sau một thời gian dài Trên thế giới hiện đã có nhiều nghiên cứu đánh giá khả năng ứng phó của bệnh nhân ung thư
vú Tuy nhiên, tại Việt Nam, các nghiên cứu về khả năng
TÓM TẮT
Mục tiêu : Xác định tỷ lệ về khả năng ứng phó với chẩn đoán - điều trị và các yếu tố liên quan ở bệnh
nhân ung thư vú tại Bệnh Viện Ung Bướu Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2020.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 261 bệnh nhân ung thư
vú đang điều trị tại Khoa Nội 4, Ngoại 4, Xạ 4 của bệnh viện Ung Bướu TPHCM Lấy mẫu bằng phương pháp phân tầng tỷ lệ theo từng khoa, sau đó lấy mẫu thuận tiện tại các khoa Nghiên cứu sử dụng thang
đo Brief-COPE để đánh giá khả năng ứng phó, thang APGAR đo mức độ hỗ trợ gia đình, thang HADS đánh giá mức độ trầm cảm - lo âu, thang GHSQ đo lường tìm kiếm trợ giúp
Kết quả: Độ tuổi trung bình của đối tượng tham gia nghiên cứu là 51,29 ± 9,56 Đa số đối tượng có
khả năng ứng phó vừa (88,51%), khả năng ứng phó thấp (11,11%), khả năng ứng phó cao (0,38%) Phần lớn đối tượng sử dụng chiến lược ứng phó Hỗ trợ cảm xúc, Tự phân tâm và Nhận sự hỗ trợ Có mối liên quan giữa khả năng ứng phó với nhóm tuổi, tình trạng kinh tế, tôn giáo, hình thức điều trị, mức độ trầm cảm
Kết luận: Kết quả khả năng ứng phó ở bệnh nhân ung thư vú có chiều hướng tích cực Những bệnh
nhân bị trầm cảm thì khả năng ứng phó thấp Nghiên cứu chỉ ra rằng chăm sóc bệnh nhân ung thư vú cần quan tâm về sức khỏe thể chất, tâm lý, xã hội, đồng thời áp dụng chiến lược ứng phó cá nhân để hạn chế tác động của ung thư vú đối với tâm lý bệnh nhân
Từ khóa: Ứng phó, ung thư vú, Brief-COPE, trầm cảm, Bệnh viện Ung Bướu TP HCM
Trang 2ứng phó trên bệnh nhân ung thư còn khá hiếm
Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu nhằm đánh
giá khả năng ứng phó với chẩn đoán - điều trị và các
yếu tố liên quan ở bệnh nhân ung thư vú tại bệnh
viện Ung Bướu thành phố Hồ Chí Minh
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Đối tượng
Bệnh nhân được chẩn đoán ung thư vú và đang
điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí
Minh
Tiêu chí chọn vào
Bệnh nhân nữ đang điều trị ngoại trú, nội trú
bệnh ung thư vú tại Bệnh Viện Ung Bướu Thành phố
Hồ Chí Minh trong thời gian nghiên cứu
Bệnh nhân đủ 18 tuổi trở lên
Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chí loại ra
Bệnh nhân đang bị rối loạn tâm thần hoặc rối
loạn nhận thức, khiếm thính hoặc khiếm thị, không
có khả năng nói và nghe hiểu tiếng Việt
Bệnh nhân đang trong tình trạng quá yếu,
không thể tham gia nghiên cứu, bệnh nhân đang ở
giai đoạn IV
Phương pháp
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện Ung
Bướu Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 3/2020 đến
tháng 6/2020
Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu
Cỡ mẫu được xác định trên công thức ước
lượng một tỉ lệ cho nghiên cứu cắt ngang mô tả, với
xác suất sai lầm loại I là 0,05 (α = 0,05), sai số biên
là 0,05 (d = 0,05) và dự trù mất mẫu 5% tính được
cỡ mẫu tối thiểu là 248 người
Chọn mẫu thuận tiện phân tầng theo 3 khoa Xạ
4 (nội - ngoại trú), Nội 4, Ngoại 4 dựa theo số lượt
khám bệnh của bệnh nhân ung thư vú ở mỗi khoa
phòng, đưa ra tỷ lệ: 27,3% Xạ 4 - Ngoại trú, 0,8% Xạ
4 - Nội trú, 70,3% Nội 4, 1,6% Ngoại 4
Thiết kế nghiên cứu: Sử dụng thiết kế nghiên
cứu cắt ngang mô tả
Công cụ nghiên cứu
Sử dụng thang đo khả năng ứng phó
Brief-COPE Thang gồm 28 câu hỏi thuộc 14 khía cạnh
đánh giá khả năng ứng phó cá nhân tương đối ổn
định trên các loại yếu tố gây căng thẳng khác nhau
Kết quả được tính tổng điểm các câu Có 4 mức độ
khả năng ứng phó: Không có khả năng ứng phóm (≤28 điểm), Có khả năng ứng phó thấp (29 - 56 điểm), Có khả năng ứng phó vừa (57 - 84 điểm), có khả năng ứng phó cao (≥85 điểm)
Sử dụng thang đo lo âu, trầm cảm tại bệnh viện HADS (Hospital Anxiety and Depression Scale) Có
14 câu trong đó 7 câu đánh giá về lo âu, 7 câu đánh giá về trầm cảm Thang đo tập trung ở các triệu chứng chủ yếu liên quan tới lo âu, trầm cảm Kết quả được phân tích theo tổng điểm các câu theo 3 mức độ: Không (≤7 điểm), Có triệu chứng của trầm cảm / lo âu (8 - 10 điểm), Trầm cảm / Lo âu (≥11 điểm)
Sử dụng thang đo chức năng hỗ trợ từ gia đình (APGAR) Kết quả được phân tích theo tổng điểm của 5 câu với các mức độ: Gia đình gắn kết tốt (8 - 10 điểm), Gia đình gắn kết không tốt (4 - 7 điểm), Gia đình không gắn kết (0 - 3 điểm)
Sử dụng thang đo lường tìm kiếm sự trợ giúp:
là biến số định lượng, được tính bằng tổng điểm của
10 câu hỏi trong thang GHSQ Điểm càng cao thì thể hiện khả năng tìm kiếm sự trợ giúp càng cao
Ngoài ra, các thông tin liên quan tới đặc điểm dân số - kinh tế - xã hội, tình trạng bệnh được thiết
kế trong bộ câu hỏi phỏng vấn
Kỹ thuật thu thập thông tin
Thu thập thông tin bằng cách phỏng vấn mặt đối mặt dựa trên bộ câu hỏi soạn sẵn
Xử lý và phân tích thống kê
Số liệu sau khi được làm sạch được nhập vào máy tính và quản lý bằng phần mềm Epidata 3.1 Các thống kê mô tả được thực hiện thông qua tính toán giá trị trung bình, trung vị, độ lệch chuẩn cho các biến định lượng Phân tích được thực hiện thông qua các test thống kê thích hợp và mô hình hồi quy
đa biến Poisson Mức ý nghĩa thống kê α = 0,05 được áp dụng
Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được chấp nhận về mặt y đức của Hội đồng Khoa học Công nghệ Bệnh viện Ung Bướu TP.HCM số 140/BVUB - HĐĐĐ và Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Đại học Y Dược TP.HCM số 134/ HĐĐĐ
KẾT QUẢ
Trong thời gian nghiên cứu có 261 bệnh nhân
đủ tiêu chí lựa chọn và đồng ý tham gia nghiên cứu
Độ tuổi trung bình là 51,29 (± 9,56), hơn ¾ đối tượng sinh sống tại các nơi khác (77,78%) Dân tộc Kinh chiếm chủ yếu (95,79%) Đa phần các bệnh
Trang 3nhân theo tôn giáo chiếm 80,46%, chủ yếu là Phật
giáo (64,37%) Trình độ học vấn cấp II (34,1%),
nghề nghiệp nội trợ (28,74%), tiếp đến là nông dân
(23,75%) Kinh tế đủ sống chiếm 65,9%, đã kết hôn
(72,8%) và họ sống chung với con/cháu (75,86%)
Tất cả các bệnh nhân đều có bảo hiểm y tế, bảo
hiểm y tế chi trả một phần (77,78%) Bệnh nhân có
xu hướng giảm cân (44,83%) Thời gian mắc bệnh
dưới 1 năm (65,13%), giai đoạn II (51,72%) Gần
một nửa bệnh nhân có bệnh lý kèm theo (45,59%),
đa phần bệnh tăng huyết áp (27,73%)
Phần lớn bệnh nhân cảm nhận gia đình mình có
sự gắn kết tốt (82,38%) Kết quả nghiên cứu cho
thấy, 3,83% đối tượng vừa bị trầm cảm vừa bị lo âu,
7,28% đối tượng chỉ bị lo âu, 6,13% đối tượng chỉ bị
trầm cảm Ngoài ra, 82,76% đối tượng không bị trầm
cảm và lo âu Điểm trung bình tìm kiếm sự trợ giúp (GHSQ) là 26,29 (± 6,6)
Nhìn chung, đa số đối tượng tham gia nghiên cứu có khả năng ứng phó vừa (88,51%), một số ít có khả năng ứng phó thấp (11,11%) và chỉ có 1 đối tượng có khả năng ứng phó cao (0,38%) 28 câu hỏi thuộc 14 khía cạnh của thang Brief-COPE, khía cạnh
sử dụng nhiều nhất là Hỗ trợ cảm xúc (6,41 ± 1,16)
có trung vị là 7 (6 - 7), kế đến là Tự phân tâm (6,37 ± 1,28) có trung vị là 7 (6 – 7), xếp thứ 3 là Nhận sự hỗ trợ (6,33 ± 1,23) có trung vị là 7 (6 - 7) Khía cạnh được sử dụng ít nhất là Sử dụng chất (2,03 ± 0,3) có trung vị là 2 (2 - 2) và Quản lý hành vi (2,89 ± 1,16) có trung vị là 2 (2 - 4)
Bảng 1 Mối liên quan giữa đặc điểm dân số - kinh tế - XH với khả năng ứng phó
P
PR (KTC 95%)
Nhóm tuổi
Tôn giáo
Học vấn
*Phân tích theo khuynh hướng **Kiểm định Fisher
Trang 4Kết quả bảng 1 cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa khả năng ứng phó với nhóm tuổi, tôn giáo, kinh tế Chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa khả năng ứng phó trên bệnh nhân ung thư
vú với nơi sống, dân tộc, học vấn, nghề nghiệp, sống cùng con cháu (p>0,05)
Bảng 2 Mối liên quan giữa khả năng ứng phó và tình trạng bệnh
P
PR (KTC 95%)
Hình thức điều
trị
Khoảng thời
gian mắc bệnh
Giai đoạn
Kết quả bảng 2 cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa khả năng ứng phó với hình thức điều trị Chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa khả năng ứng phó trên bệnh nhân ung thư vú với khoảng thời gian mắc bệnh, giai đoạn, hóa trị (p>0,05)
Bảng Mối liên quan giữa khả năng ứng phó với các thang
Chức năng hỗ
trợ gia đình
Trầm cảm
Lo âu
*Phân tích theo khuynh hướng
Kết quả bảng 3 cho thấy có mối liên quan có tính khuynh hướng giữa khả năng ứng phó và trầm cảm Chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa khả năng ứng phó trên bệnh nhân ung thư vú với chức năng hỗ trợ gia đình, lo âu, tìm kiếm sự hỗ trợ (p>0,05)
Bảng 4 Mô hình hồi quy đa biến giữa khả năng ứng phó với các yếu tố (n = 261)
Trang 5Có triệu chứng 0,303 0,93 (0,81 - 1,07)
Nhóm tuổi
Tôn giáo
Không tôn giáo
Hình thức điều trị Nội trú
Sau khi kiểm soát các yếu tố liên quan theo mô hình hồi quy đa biến Poisson (bảng 4), yếu tố có mối liên quan chặt chẽ nhất với khả năng ứng phó ở bệnh nhân ung thư vú là mức độ trầm cảm, nhóm tuổi, tôn giáo, kinh tế, hình thức điều trị
BÀN LUẬN
Điểm Brief-COPE trung bình của nghiên cứu
này là 65,24 ± 7 Kết quả nghiên cứu tương đối cao
hơn nghiên cứu năm 2017 tại Iran được thực hiện
trên 187 bệnh nhân ung thư vú, có điểm khả năng
ứng phó trung bình trước khi điều trị là 46,37 ± 11,
và sau khi điều trị là 51,48 ± 9[7] Bên cạnh đó, một
nghiên cứu tại Ấn Độ trên đối tượng bệnh nhân ung
thư và bệnh nhân sống sót sau ung thư có điểm khả
năng ứng phó lần lượt là 33,27 ± 4,18 và
55,13 ± 4,02[6].Trong nghiên cứu này, tỉ lệ bệnh nhân
ung thư vú sử dụng chiến lược đối phó Hỗ trợ cảm
xúc cao nhất (6,41 ± 1,16) Tương đồng với nghiên
cứu của Kershaw là 6,86 ± 1,6[11] và nghiên cứu của
Silva[8] Được sử dụng phổ biến thứ hai là chiến lược
Tự phân tâm (6,37 ± 1,28) Bên cạnh đó, chiến lược
ứng phó Nhận sự hỗ trợ (6,33 ± 1,23) và Chấp thuận
(5,77 ± 0,95) cũng được đối tượng tham gia nghiên
cứu sử dụng phổ biến
Khi xem xét trong mô hình đa biến, kết quả
nghiên cứu đã tìm thấy mối liên quan giữa khả năng
ứng phó và nhóm tuổi, nhóm tuổi càng cao thì khả
năng ứng phó càng thấp, nhóm tuổi trên 40 có tỷ lệ
khả năng ứng phó thấp hơn 11% - 13% so với nhóm
dưới 40 tuổi Theo nghiên cứu của Rudolf H Moos,
người lớn tuổi sẽ có nhiều vấn đề cá nhân và tài
chính / công việc, người cao tuổi đánh giá các vấn
đề sức khỏe là mối đe dọa đáng quan tâm nhất và
có xu hướng tránh né giải quyết vấn đề đó[13] Theo
nghiên cứu của Carolyn, người cao tuổi ít nỗ lực đối
phó hơn người trung niên và trẻ tuổi[4] Có mối liên
quan giữa khả năng ứng phó và tôn giáo, người theo
nhóm tôn giáo khác có khả năng ứng phó cao hơn người không theo tôn giáo 13%, KTC 95% là (1,02 - 1,25) Kết quả tương tự đã được báo cáo trong một nghiên cứu khác, và đã được báo cáo rằng sử dụng tôn giáo và tâm linh làm nguồn lực và cách đối phó là phổ biến ở bệnh nhân, và nó cũng
có thể có vai trò trong việc điều chỉnh lâu dài đối với bệnh ung thư bằng cách mang lại sự thoải mái về cảm xúc và cảm giác hy vọng[10] Có mối liên quan giữa khả năng ứng phó và tình trạng kinh tế, người
có kinh tế đủ sống có khả năng ứng phó thấp hơn người kinh tế không đủ sống 13%, KTC 95% là (0,79 - 0,97) Tương đồng với nghiên cứu của Phillip (2002), cho thấy cá nhân thu nhập thấp sử dụng chiến lược ứng phó nhiều hơn thu nhập cao Một lời giải thích cho sự phát hiện này là các đối tượng thu nhập thấp được báo cáo bệnh mãn tính và căng thẳng hằng ngày cao, mà mức độ căng thẳng cao sẽ tạo điều kiện sử dụng nhiều hơn các chiến lược ứng phó, với mục đích làm giảm trạng thái căng thẳng, chống chọi bệnh tật và cải thiện chất lượng cuộc sống[5] Người bị trầm cảm sẽ giảm khả năng ứng phó đi 28% so với người không bị trầm cảm, KTC 95% (0,55 - 0,94) Theo nghiên cứu của Stanton (2019), thì khả năng ứng phó càng cao thông qua chấp nhận tích cực thì triệu chứng trầm cảm càng giảm[9] Nghiên cứu Orzechowska (2013), nhận định rằng bệnh nhân trầm cảm trong các tình huống căng thẳng thường sử dụng các chiến lược dựa trên sự tránh né và từ chối và gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tìm kiếm các khía cạnh tích cực của các vấn đề căng thẳng[2] Bệnh nhân ngoại trú có tỉ lệ khả năng ứng phó thấp hơn 16% so bệnh nhân bệnh nhân
Trang 6điều trị nội trú, KTC 95% 0,71 - 0,99 Việc xếp hàng
chờ đợi đến lượt khám và không khí đông đúc của
bệnh viện tạo nên cảm giác mệt mỏi và căng thẳng
ở bệnh nhân Bệnh nhân điều trị ngoại trú hạn chế
việc chia sẻ cảm xúc, nhận được sự đồng cảm từ
người khác Bên cạnh đó, việc phân tầng chọn mẫu
theo khoa, các bệnh nhân nội trú được đưa vào
nghiên cứu chủ yếu từ Khoa Ngoại 4, bệnh nhân
thường áp dụng phương pháp điều trị phẫu thuật và
ở giai đoạn đầu nên có thể ảnh hưởng đến kết quả
nghiên cứu
Điểm mạnh và điểm hạn chế
Điểm mạnh của nghiên cứu là nghiên cứu tiến
hành với cỡ mẫu vừa đủ, phù hợp với nhiều nghiên
cứu liên quan về khả năng ứng phó trên bệnh nhân
Nghiên cứu viên thu thập thông tin bằng phương
pháp phỏng vấn mặt đối mặt nên thông tin chính xác
và đầy đủ Nghiên cứu áp dụng đầy đủ các biện
pháp kiểm soát sai lệch thông tin, sai lệch chọn lựa,
nên kết quả nghiên cứu có tính khách quan và khoa
học Điểm hạn chế là nghiên cứu đã áp dụng lấy
mẫu thuận tiện nên ảnh hưởng đến tính đại diện của
nghiên cứu Mặc khác, nghiên cứu chỉ thực hiện tại
3 khoa của bệnh viện Ung Bướu TP HCM và bộ câu
hỏi Brief - COPE chưa được chuẩn hóa tại
Việt Nam
KẾT LUẬN
Kết quả khả năng ứng phó ở bệnh nhân ung
thư vú có chiều hướng tích cực (88,51% bệnh nhân
có khả năng ứng phó vừa) Những bệnh nhân bị
trầm cảm thì khả năng ứng phó thấp Nghiên cứu chỉ
ra rằng chăm sóc bệnh nhân ung thư vú cần quan
tâm về sức khỏe thể chất, tâm lý, kinh tế - xã hội,
đồng thời bệnh nhân nên áp dụng chiến lược ứng
phó cá nhân để hạn chế tác động của việc điều trị và
chẩn đoán ung thư vú lên tâm lý bệnh nhân Mặt
khác, cộng đồng kết nối với đội công tác xã hội tạo
điều kiện, hỗ trợ bệnh nhân về mặt kinh phí hoặc
quy trình khá chữa bệnh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Y tế (2018) Ung thư vú,
https://mch.moh.gov.vn/pages/news/17188/Ung-thu-vu.html,
2 A Orzechowska, Zajączkowska, M., Talarowska,
M., & Gałecki, P (2013) "Depression and ways of
coping with stress: A preliminary study" Medical
Science Monitor, 19, PP.1050-1056
3 Andrew K , Ernest R., Isadora R.R (2019)
http://med.stanford.edu/survivingcancer/coping-with-cancer/coping-with-cancer.html,
4 Carolyn M.A, Karen J.S., Gina C., and Avron Spiro (1996) "Age Differences in Stress, Coping, and Appraisal: Findings From the Normative Aging Study" Journal of Gerontology: PSYCHOLOGICAL SCIENCES, 51B, PP179
-188
5 Phillip J B , Erin L O., Glenn J.and Dan J M (2002) "The Influence of Income Level and Ethnicity on Coping Strategies" Journal of Psychopathology and Behavioral Assessment,
24, PP.39 - 45
6 Ravindran OS, Shankar A, Murthy T (2019) "A Comparative Study on Perceived Stress, Coping, Quality of Life, and Hopelessness between Cancer Patients and Survivors" Indian J Palliat Care, 25 (3), PP.414 - 420
7 Sajadian A , RajiLahiji M, Motaharinasab A, Kazemnejad A, Haghighat S (2017) "Breast Cancer Coping Strategies after Diagnosis: A Six-month Follow-up." Multidiscip Cancer Investig, 1 (4), PP.12-16
8 Silva SM, Crespo C, Canavarro MC (2012)
"Pathways for psychological adjustment in breast cancer: a longitudinal study on coping strategies and posttraumatic growth." Psychol Health, 27 (11), PP.1323 - 1341
9 Stanton, Annette L et al (2018) "Cancer-related coping processes as predictors of depressive symptoms, trajectories, and episodes." Journal
of consulting and clinical psychology, 86 (10), PP.820-830
10 Thuné-Boyle IC , Stygall J, Keshtgar MR, Davidson TI, Newman SP (2011) "Religious coping strategies in patients diagnosed with breast cancer in the UK" Psychooncology, 20 (7), PP.771 - 782
11 Trace Kershaw, Laurel N., Charuwan K., Ann S
& Darlene M (2004) "Coping strategies and quality of life in women with advanced breast cancer and their family caregivers" Psychology
& Health, 19 (2), PP.139 - 155
12 WHO (2019) Cancer, https://www.who.int/health-topics/cancer#tab=tab - 1, 08/11/2019
13 Moos RH, Brennan PL, Schutte KK, Moos BS (2006) "Older adults' coping with negative life events: common processes of managing health, interpersonal, and financial/work stressors" Int J Aging Hum Dev, 62 (1), PP.39 - 59
Trang 7ABTRACT
Ability of response with diagnosis - treatment and associated factors in breast cancer patients at
Oncology Hospital Ho Chi Minh City Objective: Determine the proportion of response to diagnosis - treatment and associated factors in breast
cancer patients at Oncology Hospital Ho Chi Minh city in 2020
Method: Cross-sectional study was conducted on 261 breast cancer patients being treated at the
Department of Internal Medicine 4, External 4, X-ray 4 of the HCM City Oncology Hospital Sampling was based on the proportion of stratification by each department, then convenient sampling in the departments The study utilized the Brief-COPE scale to measure responsiveness, the level of family support was measured by the APGAR scale, the HADS scale was utilized to measure the level of depression - anxiety, and the GHSQ scale was utilized to measure the seeking help
Result: The mean age was 51.29 years (sd = 9.56) The proportion of ability of response among breast
cancer patients in medium, low, high were 88.51%, 11.11%, 0.38%, respectively Majority of response ability among breast cancer patients were Emotional Support, Self-Distraction and Instrumental Support There were significant difference in response ability between age group, economic status, religion, type of treatment, and severity of depression
Discussion: The result of response ability in breast cancer patients tend to be positive Depressed patients
had a low coping capacity This study shows that caring for breast cancer patients needs to be concerned about physical, psychological and social health, and apply individual response strategies to limit the impact of breast cancer on psychology patient
Keywords: Cope, breast cancer, Brief-COPE, depression, Oncology Hospital