1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nuôi bò sữa bò thịt nang suất cao

263 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nuôi Bò Sữa Bò Thịt Năng Suất Cao
Tác giả Nguyễn Văn Thưởng
Trường học Học Viện Nghiên Cứu Và Phổ Biến Kiến Thức Bách Khoa
Chuyên ngành Chăn nuôi
Thể loại Sách tham khảo
Năm xuất bản 2001
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 263
Dung lượng 8,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ khi có nghị quyết 35 CP ngày 5.10.1979 của Hội đồng Bộ trưởng nay là Chính phủ cho phép các thành phần kinh tế được tự do nuôi trâu bò, không hạn chế vé quy mô và số lượng, được tự do

Trang 1

& PHỔ BIẾN KIẾN THỨC BÁCH KHOA

>HỂ BIẾN KIẾN THÚC BÁCH KHOA

NG NGHIỆP & NÔNG THÔN

GS NGUYỄN VĂN THƯỞNG

Trang 2

VIỆN NGHIÊN c ớ ti & PHỔ BIẾN KIÊN THỨC BẮCH KHOA

Trang 3

VIỆN NGHIÊN cứu VẬiPHỌ BIẾN KIẾN THÚC BÁCH KHOA

INSTITUTE FOR RESEARCH AND UNIVERSALIZATION FOR

ENCYLOFAEDIC KNOWLEDGE (IRUEK)

Vãn phòng liên hệ: B4, P411 (53) TT Giảng Võ - Đường Kim Mã

Quận Ba Đình - Ilà Nội.

Đ T (04) 8 463456 - FA X (04) 7260335

Viện Nghiên cứu và Phổ biến kiến thức bách khoa là một tổ chức khoa học tự nguyện của một số trí thức cao tuổi ở Thù đô Hà Nội thành lập theo Nghị định 35/HĐBT ngày 28.1.1992.

Mục đích: Hoạt động nghiên cứu, phổ biến và ứng dụng khoa học nhằm mục đích phục vụ nâng cao dân trí và mục đích nhân đạo.

Lĩnh vực hoạt động khoa họccông nghệ:

, 1 Nghiên cứu các vấn đề văn hoá khoa học.

2 Biên soạn sách phổ biến khoa học công nghệ.

3 Biên soạn các loại từ điển.

Nhiệm vụ cụ thể: Trong những năm tới (từ 2001 đến 2005): phát huy tiềm năng sẩn có (hiện có hơn 200 giáo sư, phó giáo sư tiến sĩ, chuyên gia); Viện

tổ chức nghiên cửu một s ổ vấn đ ề khoa học; biến soạn từ điển; biềri soạn sách

p h ổ biến kiến thức bách khoa (kiến thức khoa học cơ bản, chính xác, hiện đại,

thông dụng) dưới dạng SÁCH HồNG (sách mỏng và chuyên luận) phục vụ độc

giả rộng rãi theo các chủ đề như nông nghiệp và nóng thôn; phòng bệnh và

chữa bệnh; thanh thiếu nhi và học sinh; phụ nữ và người cao tuổi, V.V.,

Phương hướng hoạt động cùa Viện là dựa vào nhiệt tình say mê khoa học, tinh thần tự nguyện của mồi thàrih viên, liên kết với các viện nghiên cứu, các nhà xuất bản.

Hoạt động khoa học của Viện theo hướng “Chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá” (Nghị quyết Đại hội IX).

Vốn hoạt động của Viện là vốn tự có và liên doanh liên kết Viện sẩn sàng hợp tác với các cá nhân, tổ chức trong nước và ngoài nước hoặc nhận đơn đặt hàng nghiên cứu các vấn đề nêu trên.

Rất mong được các nhà từ thiện, các doanh nghiệp, các cơ quan đoàn thể

và Nhà nước động viên, giúp đỡ.

Viện Nghiên cứu & Phổ biến kiến thức bách khoa

Trang 4

LỜI GIỚI THIỆU

Chăn nuôi bò sữa, bỏ thịt không những đã trở thành một trong

những hướng ưu tiên phát triển chăn nuôi hiện nay mà còn là xu thế phát triển chân nuôi trong kinh tế hộ gia đình ở nhiều vùng khác nhau của đất nước Đàn bò sữa năm 1990 mới có 11.000 con, đến cuối năm

2001 đã có 41.200 con, sản xuất được 64.700 tấn sữa/nãm Phấn đấu nãm 2005 đạt 165.000 tấn bò sữa

Bước vào những năm đầu của thế kỉ XXI, nhiều tỉnh như Tuyên Quang, Thanh Hoá, Sơn La, Nghệ An, Long An, Vĩnh Phú, Phú Thọ,

V V đã có chương trình phát triển bò sữa Một số tỉnh đã mạnh dạn nhập bò sữa giống Holstein Friesian của Mĩ và Ôxtrâylia về nuôi tại địa bàn tỉnh trong các nông hộ Đây là nghề sản xuất hoàn toàn mới đối với nông dân, nên bước đầu có nhiều khó khán

Để đáp ứng phần nào nhu cầu kĩ thuật về chăn nuôi bò sữa và góp phần nâng cao kiến thức về tổ chức chăn nuôi bò sữa, bò thịt có kĩ thuật, Viện Nghiên cứu và Phổ biến kiến thức bách khoa cho biên soạn

cuốn “Nuôi bò sữa, bò thịt năng suất cao - nghé mới ở nông thôn Việt

Nam th ế kỉ X X I”.

Để viết quyển sách này, chúng tôi lấy nội dung sách “Kĩ thuật nuôi

bò sữa, bò thịt ở gia đình” xuất bản năm 1995 làm cơ sở có sửa chữa

bổ xung, tham khảo và sử dụng một số tư liệu và chính luận đã viết

Vũ Chí Cương và cs (Viện Chăn nuôi); Đinh Văn Cải và cs (Viện

Trang 5

Khoa học Nông nghiệp Miền Nam); Nguyễn Văn Thiện, Lê Quang Nghiệp và c s (Hội Chăn nuôi Việt Nam), Phùng Quốc Quảng (Cục

phong phú thêm nội dung các chuyên mục: vai trò vi sinh vật dạ cỏ, phân loại các chất dinh dưỡng, kĩ thuật gieo trồng một số loại cây thức ãn, kĩ thuật chế biến và sử dụng thức ăn, đánh giá chất lượng sữa, thịt, v.v

Tác giả chân thành cám ơn các nhà khoa học kể trên và các bạn đồng nghiệp, hi vọng bạn đọc tham gia nhiều ý kiến quý báu

Tác giả

GS TS Nguyễn Văn Thưởng

Trang 6

M Ở ĐẦU

Chân nuôi bò ờ nước ta từ trước đến nay chủ yếu để cung cấp

sức kéo cho nông nghiệp và lâm nghiệp Do tầm vóc bé nhỏ, đàn

bò thường được dùng làm sức kéo ở những vùng đất cát nhẹ, phân

bố rải rác ở hầu hết các tỉnh trong cả nước, nhưng tập trung nhiều hơn ở các tỉnh dọc quốc lộ 1A từ Thanh Hoá đến thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh vùng Tây Nguyên Tuy nhiên, trước những năm 80 của thế kỉ XX, tốc độ phát triển đàn bò hết sức chậm Từ khi có nghị quyết 35 CP ngày 5.10.1979 của Hội đồng

Bộ trưởng (nay là Chính phủ) cho phép các thành phần kinh tế được tự do nuôi trâu bò, không hạn chế vé quy mô và số lượng, được tự do lưu thông, mở chợ và giết thịt - trừ đàn sinh sản, sau

đó là việc khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động theo Chỉ thị 100 (13.1.1981) tạo điều kiện cho chãn nuôi gia đình phát triển, đàn bò đã tăng với tốc độ khá nhanh và nhanh hơn so với đàn trâu, không chỉ ở trung du m iền núi, mà cả ở các tỉnh đồng bằng

Nếu đàn bò năm 1981 mới chỉ có 1.772 nghìn con thì đến năm

1990 đã tăng lên 3.121 nghìn con, bình quân mỗi năm tăng 7,6% Đến nay theo thống kê ngày 1.10.2001 tổng đàn bò trong cả nước

có 4.127 nghìn con

Trang 7

Sở dĩ, đàn bò tăng nhanh hơn đàn trâu vì đã có định hướng chuyển từ cày kéo sang nuôi lấy thịt và sữa Tuy nhiên, lượng thịt

bò trong tiêu dùng vẫn chưa nhiều Cũng theo thống kê ngày 1.10.2001, tổng số thịt trong cả nước nãm 2001 đạt 1.989.291 tấn, trong đó thịt bò mới được 102.030 tấn, chiếm tỉ lệ khoảng 5% Như vậy, rõ ràng tiềm năng sản xuất thịt bò ở nước ta còn rất lớn, nếu ta biết tổ chức chăn nuôi bò thịt có và đúng kĩ thuật Riêng về sữa, trước đây ta chưa có bò sữa, thì đến cuối năm 2001, trong tổng

số đàn bồ trên 4 triệu con đã có đàn bò sữa 41.241 con chiếm khoảng 1 % tổng đàn, sản xuất 64.703 tấn sữa, đáp ứng khoảng 10% nhu cầu tiêu dùng sữa trong cả nước

Thịt, trứng, sữa là những nguồn thực phẩm cỏ giá trị dinh dưỡng cao không thể thiếu đối với mọi người, mọi dân tộc và mỗi quốc gia Thủ tưởng Chính phủ đã có Quyết định số 167/2001/QĐ.TTg ngày 26.10.2001 về một số biện pháp và chính sách phát trỉển chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam thời kì 2001-2010, phấn đấu đến năm 2005 có 100 nghìn bò sửa, đáp ứng trên 20% lượng sữa (165 nghìn tấn sữa tươi), đến năm 2010 đáp ứng trên 40% nhu cầu sữa tiêu dùng trong cả nước, để sau đó đạt 1 triệu tấn sữa/năm

Chạn nuôi bò ở nước ta từ lâu đời là để có sức kéo, bò lại nhỏ con, năng suất thịt rất thấp, lượng sữa chỉ đủ cho bê bú Nay chuyển sang nuôi lấy thịt và sữa đối với nước ta là ngành sản xuất rất mới, còn non trẻ chưa có kinh nghiệm và những kiến thức cần thiết

Do đó, muốn tổ chức chăn nuôi bò sữa, bò thịt năng suất cao, trở thành nghề sản xuất mới ở nông thôn, người chăn nuôi phải

Trang 8

có những hiểu biết nhất định, trong đó những hiểu biết về giông, / thức ãn, kĩ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc và tổ chức quản lí giữ vai

trò hết sức quan trọng

Ở nước ta chưa có giống bò sữa, bò thịt Ta đã nhập giống bò sữa cao sản Holstein Friesian từ năm 1970, nhưng cho đến nay vùng nuôi bò sữa nhập nội bị hạn chế vì những điều kiện khí hậu

và thời tiết Do đó, trước mắt ta phải sử dụng những giống bò hiện

có nuôi lấy thịt và chọn những bò cái Lai Sind sinh sản tốt cho lai với đực giống Holstein Friesian tạo đàn bò lai hướng sữa và lai với bò đực giống chuyên dụng thịt (Charolais, Limousin, Hereford, v.v ) tạo đàn bò lai hướng thịt nuôi được ở nhiều vùng của đất nước nhằm tăng lượng sữa và thịt bò cung cấp cho tiêu dùng ngày một tăng trong những thập kỉ đầu của thế kỉ XXI

Trang 9

CHƯƠNG ì

NHŨNG ĐẶC ĐIỂM ĐẶC TRUNG

CỦA BÒ SỮA, BÒ THỊT

I ĐẶC ĐIỂM CHƯNG

1 Khái niệm chung

Bò (Bos) là vật nuôi đơn thai, dạ dày 4 túi, thuộc lớp Động vật

có vú {Mammalia), bộ Guốc chẵn {Artiodactyla), phân bộ Nhai lại {Ruminantia), họ bò {Bovidae), phân họ Bovinae, gồm 2 nhánh: Bò {Bovina) và Trâu {Bubalina).

giống bò nhà hiện nay

Bò rừng được thuần hoá thành bò nhà khoảng 8.000-7.000 năm trước Công nguyên Lúc đầu bò được thuần hoá và nuôi ở

An Độ, từ đó lan sang Nam A, Địa Trung Hải và Trung Au, vể sau phát triển ở Châu Âu, Châu Á và Châu Phi

Trang 10

Bò nhà trưởng thành cao l,40-l,90m , khối lượng 400-1.500kg tuỳ theo giống Thân hình tương đối vạm vỡ, sọ dài, rộng, sừng rỗng, cổ dày, dưới cổ có yếm, mũi trơn, luôn luôn ướt bóng, lưng thẳng, bụng to, bầu vú 4 núm, đuôi dài, cuối đuôi có túm lông Tuổi đời bò cái 20 năm Tuổi sử dụng bò sữa 9-12 năm Nuôi bò thịt hiệu quả nhất là nuôi bê đến 18-24 tháng tuổi đạt khối lượng giết thịt.

Bò ngừng sinh trưởng lúc 5 tuổi Bê cái thành thục tính dục lúc 7-10 tháng tuổi, bê đực 8-10 tháng tuổi, nhưng chỉ phối giống lúc

bê cái được 16-20 tháng tuổi, bê đực lúc được 15-18 tháng tuổi Bò sữa dáng vóc hình tam giác, xương chậu rộng, mông nở, bầu vú phát triển, cổ thanh và chân hơi thấp Bò thịt dáng hình trụ, ngực

và mông phát triển ngang nhau, mông tròn, ngực sâu và rộng, cơ bắp phát triển

Tuỳ theo giống, bò có bộ lông một màu (vàng, đen, xám, đỏ, nâu, V V ) hoặc hai màu (trắng đen, trắng đỏ, v.v ), hoặc 3 màu (đen, trắng, đỏ) như giống bò Nocmand của Pháp

Trong chăn nuôi bò sữa, bò thịt, bộ sừng phát triển thường không thuận lợi, nên ở nhiều nước, người ta cưa bớt sừng hoặc lai tạo nhũng giống bò sừng ngắn như giống bò Shorthorn của Anh, nhung nuôi để lấy sức kéo như ở các nước nhiệt đới Châu Á, Châu Phi thì bộ sừng vững chắc lại là cần thiết

M ột số giống bò có tầm quan trọng ở địa phương:

- Bò bông Yack (Bos mutus grunniens) còn gọi là bò

quạu, nuôi nhiều ở cao nguyên Tây Tạng Thân hình vạm

Trang 11

vỡ, đầu và cổ to, lông dày có khi rủ tới đất, đặc biệt thích hợp với khí hậu khô, lạnh khắc nhiệt.

- Bò Banteng (Bos Bibos) ở Malaixia dễ thuần hoá

- Bò Gayan (Gayal - Bos Bibos frontalis) còn gọi là bò tót Có

ở Ân Độ, phần lớn sống hoang dã, nhưng cũng dễ thuần hoá.Trên thế giới hiện nay có khoảng trên 500 giống bò với tổng đàn bò khoảng 1.380 triệu con, đứng hàng đầu các vật nuôi nhai lại Đã có những giống bò sữa đạt sản lượng sữa trung bình

6 000-8.000kg sữa/chu kì 305 ngày, bò thịt 12-15 tháng tuổi nặng 420-450kg với tỉ lệ thịt xẻ 60% Châu Á có đàn bò cao nhất khoảng 400 triệu con, nhưng năng suất thấp

Ở nước ta sau khi có chính sách đổi mới, khuyên khích phát triển kinh tế nhiều thành phần, đàn bò phát triển với tốc độ nhanh trong 2 thập kỉ cuối (7,06%/năm) của thế kỉ XX Ngành bò sữa cũng bắt đầu hình thành và phát triển tạo đà cho xây dựng ngành

bò sữa, bò thịt ở Việt Nam

2 Tình hình phát triển bò sữa, bò thịt ở Việt Nam

Ở nhũng nước có nền công nghiệp tiên tiến, ngành chăn nuôi

bò thường được chuyên môn hoá theo 3 hướng sử dụng: chuyên sữa, kiêm dụng sữa-thịt hoặc thịt-sữa và chuyên thịt

Ở nước ta, như đã trình bày, đàn bò nuôi chủ yếu làm sức kéo

từ lâu đời, không được cải tạo, nên không có thiên hướng sản xuất

rõ rệt, lại do chăn nuôi thiếu dinh dưỡng, có gì ăn nấy hết thế hệ này qua thếhệ khác, nên nhỏ con, năng suất thấp Sô' liệu điều tra hai năm 1977-1978 trên 3.000 bò cái sinh sản thuộc các tỉnh

Trang 12

Lạng Sơn, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai cho thấy khối lượng đàn bò cái địa phương cao nhất (230-240kg)

ở tỉnh Tây Ninh và Đồng Nai nhưng số lượng không nhiều, còn

ở các tỉnh khác, dao động từ 180kg (bò Lạng Sơn) đến 220kg (bò Bình Dương, Bình Phước) và bình quân khối lượng đàn bò trong diện điều tra là 200kg với chiều cao vây 102,2cm, dài thân chéo 113,5cm và vòng ngực 140,6cm, tương ứng với đàn bò Vàng Thanh Hoá

Năm 1923, 80 bò Sind thuần được nhập vào nước ta Trước đó,

đã nhập một số giống bò ôn đới Châu Âu: Nocmand, Hòllandais, Tarentais, Charoláis, Từ khi nhận thêm bò Sind thuần của ấn

Độ, người chăn nuôi nhận thấy giống bò Sind dễ nuôi hơn nhiều

so với các giống ôn đới, đã nuôi vắt sữa ở Sài Gòn nay là thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và các vùng phụ cận Tuy lượng sữa không nhiều, nhưng khái niệm nuôi bò sữa ở nước ta xuất hiện từ thuở ấy Dùng bò đực giống Sind phối với đàn bò cái địa phương

đã đưa khối lượng đời con (bò ) khi trưởng thành từ 200kg lên đạt 275±2,09kg tăng 35-40% với chiều cao vây 112,lỊ±0,30cm, dài thân chéo 119,02±0,42cm và vòng ngực 156,82± 0,55cm, sản lượng tăng gấp hai lần từ 300-400kg sữa ở bò Vàng Việt Nam lên đạt 800-950kg sữa ở bò Lai Sind, tỉ lệ thịt xẻ tăng 5% (từ 44 lên 49%), sức kéo cũng tăng lên rõ rệt Tuy nhiên vẫn chưa có sữa hàng hoá

Do đó, vào những nãm 1962-1968, ta đã nhập một số bò sữa Lang trắng đen Bắc Kinh nuôi ở các nông trường Sa Pa, Than Uyên, Tam Đường, Ba Vì Riêng đàn bò nuôi ở Ba Vì thường mắc bệnh kí sinh trùng đường máu, sốt cao chết đột ngột, sản lượng

Trang 13

sữa thấp, trong 3 lứa đầu (I, II, III) chỉ đạt bình quân 1982+ 62,9, 1.921+81,9 và 1.937+ 118,8kg sữa/chu kì 300 ngày vắt sữa Chuyển lên nuôi ở nông trường Mộc Châu (Sơn La) lượng sữa tàng lên đạt tương ứng 2.376+52, 2.999+79 và 3.258±65kg sữa/chu kì.

Năm 1970, ta nhập hàng trăm bò sữa cao sản Holstein Friesian của Cuba nuôi ở Trung tâm Giống bò sữa Hà Lan Sao Đỏ (Mộc Châu-Sơn La) Đàn bò nuôi ở đây qua 10 nãm thích nghi, sinh trưởng và phát triển tốt, sản lượng sữa đạt 3.800-4.200kg sữa/chu

kì, một số con đạt 6.000kg sữa, cá biệt có con đạt 9.000kg sữa/chu kì, tỉ lệ mỡ sữa đạt 3,1-3,2% Từ đó đã kết luận giống bò sữa cao sản Holstein Friesian nuôi được ở Việt Nam và thích họp nhất ở những vùng ẩm độ thấp và nhiệt độ bình quân năm dưới

21°c như Mộc Châu (Sơn La) và Đức Trọng (Lâm Đồng) Như vậy, muốn có đàn bò sữa nuôi rộng rãi ở nhiều vùng khác nhau của đất nước, ngoài giống bò sữa Holstein Friesian nhập nội nuôi

ở Mộc Châu và Lâm Đồng, ta dùng bò đực giống Holstein Friesian cho lai với bò cái Lai Sind tạo đàn bò lai hướng sữa bước đầu có 50-75% bò H olstein Friesian, đạt sản lượng sữa 2.200-2.500kg sữa/chu kì vắt sữa 305 ngày, tỉ lệ mỡ sữa 3,8 -4,2% Kết quả là ta đã tạo được bò lai hướng sữa F1 1/2 HF sail lượng sữa 2.788-3.414kg, F2 3/4 HF sản lượng sữa đạt 3.008-3.615kg/chu

kì ở các tỉnh phía Bắc (chủ yếu ở Hà Nội, Hà Tây) và F1 1/2 HF

sản lượng sữa 3.643+135kg, F2 3/4 HF sản lượng sữa 3.795±159kg, F3 7/8 HF sản lượng sữa 3.414±86kg sữa/chu kì ở các tỉnh phía Nam (chủ yếu ở Biên Hoà và Thành phố Hồ Chí Minh), không kém Cuba (3.656kg sữa/chu kì) và các nước Châu

MI Latinh: Vênêxuêla (3.235kg/chu kì) cao hơn các nước Châu Á: Ấn Độ (3.097kg/chu kì, Pakistan (3.113kg/ehu kì), Thái Lan

Trang 14

(2.745kg/chu kì) và một số nước Châu Phi như: Etiopia (2.079kg sữa/chu kì).

Là một nước trước đây chưa có bò sữa, đến năm 2001 ta đã

có đàn bò sữa 41.241 con trong đó có 36.705 bò lai hướng sữa chiếm khoảng 89%, sản xuất được 64.703 tấn sữa tươi, bình quân 3.300-3.400kg sữa/cái vắt sữa/năm

Phát triển bò thịt chậm hơn nhiều so với phát triển bò sữa mặc

dù ta có trên 4 triệu bò vì thực tế trong thời gian dài, ta chủ trương phát triển bò sinh sản kết hợp cày kéo, còn thịt là tận dụng, chủ yếu là thịt bò già, bò gầy, bò loại thải, chất lượng thịt kém, không ngon, người tiêu dùng chưa thật ưa thích Tuy nhiên, trong những năm từ 1981 đến 1990, thông qua các chương trình khoa học và công nghệ cấp nhà nước 02.08 và 02B, ta đã tiến hành lai kinh tế

bò thịt trên cơ sở lai bò cái Lai Sind với bò đực các giống Charoláis, Santagertrudis, Limousin Bò lai F1 Charoláis và F1 Santagertrudis cho kết quả tốt hơn cả Khối lượng giết thịt lúc 27 tháng tuổi, trong dó có 3 tháng vỗ béo đạt 293-300kg, tỉ lệ thịt xẻ 53,4% tỉ lệ thịt tinh 44,5-44,7% Bò lai F1 Charoláis có độ đồng đều cao hơn bò lai F1 Santa, phù hợp với Tây Nguyên và Duyên hải Miền Trung

Bê Lai Sind được ăn đầy đủ thức ăn xanh thô từ đầu và nuôi

vỗ béo 3 tháng cũng cho khối lượng gần 300kg lúc 27 tháng tuổi như bò lai F1 Charoláis và Santa, tỉ lệ thịt xẻ 46%, tỉ lệ thịt tinh 38,3%

Thí nghiệm nuôi bê đực giống các phẩm giống F1 1/2 HF, F2 3/4 HF đến 27 tháng tuổi, trong đó có 3 tháng vỗ béo cũng đạt trên 300kg, tỉ lệ thịt xẻ 51,74%

Trang 15

Thức ãn nuôi vỗ béo 3 tháng trước khi giết thịt, mỗi ngày Ikg thức ãn tinh và 20-25kg thức ăn xanh thô.

Khi tạo đàn bò lai hướng sữa, những bò cái lai F1 1/2 HF sản lượng sữa thấp, không dùng làm giống vắt sữa, dùng làm cái nền cho lai với đực giống Sind, con lai nuôi thịt đến 22 tháng tuổi đạt 256kg, tỉ lệ thịt xẻ 49,8%

Hiện nay, nước ta có bò đực giống nuôi ở Trung tâm tinh đông lạnh Moneada Ba Vì dùng để sản xuất tinh đông lạnh bảo quản trong môi trường nitơ lỏng, dùng cải tạo đàn bò Vàng Việt Nam như các giống bò Red Sindhi, Sahiwal và Brahman; dùng cho lai cấp tiến với bò Lai Sind tạo đàn bò lai hướng sữa như các giống

bò sữa Holstein Friesian, Jersey và cho lai với một bộ phận bò cái Lai Sind, lai Brahman tạo đàn bò lai hướng thịt trong tưcmg lai như các giống bò thịt: Charoláis, Limousin, Crimousin, Simmental, v.v

Đó là ba hướng chính trong chuyển giống bò Vàng Việt Nam nhỏ con hiện nay thành giống bò lai hướng sữa, hướng thịt trong nông hộ ở nông thôn Việt Nam trong thế kỉ XXI

II NHŨNG ĐẶC ĐIỂM ĐẶC TRUNG

1 Đặc điểm sịnh sản

1.1 S ự thành thục về tính và tuổi sử dụng của bò

Trong sinh sản, muốn có được sinh vật mới, phải có sự tham gia của hai yếu tố: tinh trùng (đực) và trứng (cái), mỗi yếu tố đóng góp 50% gen thành phần của mỗi cá thể thế hệ con Do vậy, sinh sản là quá trình sinh học phức tạp của cơ thể mẹ nhằm sinh

Trang 16

ra một cơ thể mới mang những đặc điểm di truyền của con bố và con mẹ.

Đặc điểm sinh sản đặc thù của bò là sinh sản đơn thai, mỗi lứa chỉ đẻ một bê hoặc đực hoặc cái, rất hiếm trường hợp đẻ sinh đôi.Thành thục về tính với bê đực là lúc trong dịch hoàn xuất hiện tinh trùng; với bê cái là lúc trứng phát triển, chín, rụng và hình thành thể vàng

Trong quá trình sinh trưởng, bê đực bắt đầu có tinh trùng ở

9 - 10 tháng tuổi, bê cái rụng trứng và có thể thụ tinh lúc 10-12 tháng tuổi Tuy nhiên, trong thực tiễn sản xuất, bê đực chỉ có thể cho phối giống, lấy trước khi được 18 tháng tuổi Ở bê cái, tuổi phối giống lần đầu có chửa tốt nhất là 18-20 tháng tuổi là lúc cơ thể có khối lượng bằng 70% khối lượng cơ thể bò trưởng thành Như vậy, dưới 30 tháng tuổi, bò đã đẻ lứa đầu và cho sữa

Ở những nước có ngành công nghiệp sữa phát triển, chế độ dinh dưỡng và kĩ thuật nuôi dưỡng chãm sóc đảm bảo ở mức độ tối ưu, bê cái hậu bị khi được 14-16 tháng tuổi đã cho phối giống

và có chửa lần đầu Bê đực giống dùng cho phối giống cũng ở lứa tuổi này, mặc dù đã có tinh trùng lúc 9-10 tháng tuổi

Tuổi sử dụng bò đực giống thường không quá 7-8 tuổi, sung sức nhất ở độ 3-5 tuổi Tuổi sử dụng bò cái cũng không nên quá10- 12 tuổi

1.2 H oạt động sinh dục của bò đực, bỏ cái

Trong thời gian sinh sản, con vật có hoạt động sinh dục Con đực hoạt động sinh dục thường xuyên, con cái hoạt động theo chu k ì gọi chu kì động Ịiạgi HỌC THÁI n g Ũ v é n

Trang 17

Chu kì động dục là thời gian tính từ lúc bắt đầu động dục cao

độ lần này đến lần động dục cao độ sau Chu kì động dục của bò cái biến động trong khoảng 15-35 ngày tuỳ theo cá thể và giống, bình quân 21 ngày (dao động khoảng 17-24 ngày) Khi động dục được phối giống có chửa, bò không động dục trở lại Thời gian

có chửa của bò cái là 9 tháng 10 ngày (280-285 ngày) Những người nuôi bò cái sinh sản có kinh nghiệm thường cho phối giống

để bò có chửa trở lại ở kì động dục thứ ba tức 2 tháng sau khi đẻ Như vậy mỗi năm, mỗi bò cái sinh sản đẻ được một bê

Là gia súc đơn thai, việc theo dõi phối giống để bò có chửa là khâu rất quan trọng Có vậy mới nhanh chóng tăng đàn và có nhiều sản phẩm thịt, sữa

Mọi hoạt động sinh dục ở bò đực và bò cái đều được điều khiển bởi hệ thần kinh thể dịch Mọi tác động từ bên ngoài thông qua các cơ quan cảm nhận như thị giác, thính giác, khứu giác,

V V đều được truyền đến vỏ đại não, trung khu thần kinh sinh dục (Hypothalamus) và tuyến yên Tuyến yên phân biệt các hocmôn hướng sinh dục và hocmồn sinh dục điều khiển quá trình sinh dục của bò

- Đối với bò đực, tuyến yên tiết hocmôn FSH (Follicle Stimulating Hormone) và LH (Luteing Hocmôn) FSH kích thích

sự phát triển ống sinh tinh, xúc tiến quá trình hình thành tinh trùng LH kích thích tế bào kẽ tiết ra hocmôn Testosteron,

tạo nên đặc tính thứ cấp của con đực và làm tăng quá trình đồng hoá trước hết là đồng hoá prôtêin

Trang 18

Quá trình sinh tinh và sự tác động của các nhân tố điều khiển diễn ra liên tục Vì vậy, hoạt động sinh dục của bò đực diễn ra thường xuyên kể từ khi thành thục về tính dục.

- Đối với bò cái, hocmôn FSH tác động lên buồng trứng kích thích noãn bào phát dục Màng trong noãn bào tiết ra hocmôn Oestrogen gây hiện tượng hưng phấn động dục Oestrogen còn tác động vào bộ phận sinh dục thứ cấp làm bầu vú nở to, âm hộ xung huyết, tử cung dày lên, cong cứng Các tuyến tử cung tăng cường phân tiết niêm dịch LH tác động vào buồng trứng đã chín, trứng rụng, hình thành thể vàng Dưới tác dụng của hocmôn Luteino trofic (LTH), thể vàng tiếp tục phân tiết Progesteron, ức chế tuyến yên phân tiết FSH và LH làm cho gia súc cái ngừng động dục

Nếu bò có chửa, thể vàng tồn tại suốt thời gian mang thai là nhân tố bảo vệ an toàn cho thai phát triển Progesteron tác động làm tăng sinh và giảm co bóp tử cung, hạn chế sự mẫn cảm của

tử cung với Oestrogen và Oxytoxin để ngãn ngừa hiện tượng sẩy thai Nếu bò không có chửa, thể vàng tồn tại đến ngày thứ 15-18 của chu kì, sau đó teo dần làm giảm hàm lượng Progesteron Tuyến yên được giải phóng, hocmôn FSH và LH lại được phân tiết Noãn bào phát triển, con cái động dục trở lại, chu kì động dục mới lại bắt đầu

1.3 Các biểu hiện động dục và thời gian phối giống thích hợp

Vì lợi ích kinh tế, người chăn nuôi luôn chú ý phát hiện những biểu hiện động dục để phối giống kịp thời Chu kì động dục có 4 giai đoạn: giai đoạn trước động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục, giai đoạn cân bằng sinh dục

Trang 19

Thời gian động dục thường dao động 18-48 giờ, trung bình 30 giờ Giai đoạn trước chịu đực 6-10 giờ, giai đoạn chịu đực 10-17 giờ và sau chịu đực 10-14 giờ.

Giai đoạn động dục ứng với thời kì bao noãn chín trong buồng trứng vằ trứng rụng Đó là thời điểm con cái động hớn, đứng im, chịu đực và cho giao phối

Đặc điểm biểu hiện bên ngoài ở giai đoạn này là: âm hộ, tử cung tăng sinh, Xung huyết, chảy nước nhờn kết dính thành ke, nửa trong nửa đục, con vật “mê ì ’” đứng yên cho các con khác nhảy Thời gian xuất hiện động hớn thường kéo dài 10-12 giờ, tuy nhiên cũng có thể kéo dài từ 1-2 giờ đến 1,5-2 ngày và hon.Sau khi trứng rụng, trứng chỉ sống được 6-10 giờ, còn tinh trùng có thể tồn tại trong sừng và cổ tử cung 12-18 giờ Kết quả nghiên cứu cho biết thời gian rụng trứng ở bò cái thường vào lúc 10-12 giờ sau khi kết thúc động dục Dựa vào thời gian sống của tinh trùng và trứng, ta nên phối giống cho bò 2 lần, lần đầu phối ngay sau khi phát hiện động hớn, lần thứ hai nhắc lại sau đó 8-

10 giờ, như vậy tinh trùng sẽ đón được trứng rụng và kết quả thụ thai sẽ cao

Phát hiện động hớn ngoài bãi chăn có đực giống hoặc đực thí tình là dễ nhận biết nhất Trong mùa phối giống nếu đàn bò cái được chăn thả ngoài bãi chăn hoặc ngoài đồng cỏ, sẽ có 83-90%

số bò xuất hiện động hớn vào buổi sáng, có thể chỉ 30-60 phút đầu đã phát hiện 100% Lúc này cho phối giống là thích hợp nhất

Sinh sản là chức năng quan trọng của vật nuôi

Những hiện tượng sinh dục, sinh sản của chúng thường gồm có: thành thục tính dục, thành thục sinh dục, động hớn, giao phối,

Trang 20

thụ tinh, mang thai, đẻ và nuôi con Các quá trình trên xảy ra do các tác động của các tuyến nội tiết dưới sự điều tiết của hệ thần kinh thể dịch thuỳ dưới tuyến yên qua hệ thống các hocmôn, trong đó có hocmôn sinh dục như đã trình bày ở trên.

Sinh sản còn là chỉ tiêu kinh tế, kĩ thuật quan trọng trong phát triển đàn giống và tạo ra sản phẩm vật nuôi Những nhân tố ảnh hưởng đến sinh sản trước hết phải kể đến là khí hậu, thời tiết, mùa

vụ sinh sản, thức ăn, nuôi dưỡng và chăm sóc, trong đó dinh dưỡng, thức ăn và chăm sóc giữ vai trò quan trọng nhất, còn quản

lí là yếu tố không thể thiếu

Những kết quả nghiên cứu và thực tiễn sản xuất cho thấy bò sinh sản được ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng tại chuồng và cỏ tươi ngoài bãi chãn trong vụ đông xuân sẽ có tỉ lệ động hớn và phối giống có chửa cao trong vụ hè thu Bê đẻ cuối vụ đông xuân cũng có thời gian vận động và gặm cỏ tươi ngoài bãi chăn trong suốt vụ hè thu, nên có điều kiện phát triển tốt trong thời gian sinh trưởng của chúng

Những trường hợp vô sinh, nân sổi phần lớn do những nguyên nhân thiếu dinh dưỡng dẫn tới thiểu năng buồng trứng và tồn lưu thể vàng, đều gây thiệt hại lớn cho sản xuất

2 Đãc điểm sinh trưởng và phát triển

Khả nãng sản xuất và nhũng giá trị kinh tế của vật nuôi được hình thành do các yếu tố di truyền, dinh dưỡng, nuôi dưỡng, chăm sóc và huấn luyện trong quá trình phát triển cá thể của chúng Do đó, những kiến thức và hiểu biết về quy luật sinh

Trang 21

trưởng và phát triển theo giai đoạn và lứa tuổi của vật nuôi có ý nghĩa lí luận và thực tiễn hết sức to lớn.

Trong chăn nuôi bò sữa, bò thịt cũng như các giống vật nuôi khác, muốn duy trì, phát triển và nâng cao tính di truyền, ta phải chú ý chọn lọc giống và ghép đôi phối giống để có nhiều cá thể giống năng suất cao Tuy nhiên, tiềm năng di truyền của giống phát huy được hay không còn do tác động của môi trường và con người trên các phứomg diện: thức ăn, nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lí

Năng suất vật nuôi thường bị giảm sút do thiếu thức ăn, không

đủ nước uống cùng với điều kiện ngoại cảnh và môi trường sống của chúng

Trong giai đoạn sinh trưởng từ sơ sinh, nhất là từ sau cai sữa đến 9-12 tháng tuổi, thiếu ăn và không đủ dinh dưỡng, bê sẽ phát triển chậm, tăng trọng kém, ảnh hưởng đến khả năng cho thịt và cho sữa khi bê, bò đưa vào chãn nuôi lấy sản phẩm

Công nghệ sản xuất sữa và thịt bò dựa trên cơ sở các quá trình sinh học biểu thị ở sinh trưởng và phát triển của con sinh, dẫn đến tăng khối lượng, chiều đo, kích thước cơ thể chúng Nếu không được nuôi dưỡng tốt ở giai đoạn này sẽ ảnh hưởng đến năng suất thịt và sữa sau này

Để đánh giá sự thay đổi khối lượng vật nuôi, người ta thường dùng các khái niệm sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối.Sinh trưởng tuyệt đối biểu hiện sự tăng khối lượng cơ thể theo đơn vị thời gian và tính theo công thức

Trang 22

R =

t2 - 1|

Trong đó R: sinh trưởng tuyệt đối tính bằng kg/tháng

W j, w 2: khối lượng ban đầu và lúc kết thúc, tính bằng kgt|, t2: thời gian ban đầu và lúc kết thúc tính bằng tháng

Sinh trưởng tương đối tính bằng % biểu thị sự tăng khối lượng

cơ thể so với khối lượng ban đầu, theo công thức

Trang 23

Hình 1 Đường cong sinh trưởng và tăng trọng theo lứa tuổi

của bê cái được nuôi dưỡng tốt

Chủ thích: 1/ Khối lượng (% so với bò trường thành)

2/ Tàng trọng ngày (% so với tàng trọng tháng đầu)

Đời sống của bò kéo dài 15-20 tuổi, thành thục tính dục lúc 9-12 tháng tuổi và kết thúc sinh trưởng lúc được 5 tuổi

Sinh trưởng và phát triển cơ thể của bò, bê có hai giai đoạn: giai đoạn trong bào thai và giai đoạn sau bào thai

2.1 Sinh trưởng trong bào thai

Sinh trưởng trong bào thai được xác định từ lúc trứng thụ tinh hình thành hợp tử cho đến lúc con vật được sinh ra Sau khi hình thành, hợp tử phát triển và diễn ra sự phân bào lần thứ nhất

Trang 24

chuyển thành phôi Ớ giai đoạn đầu, phôi không lớn lên về kích thước vì chúng còn nằm trong màng trong suốt Khi vỡ màng này, phôi chui ra ngoài, lúc đó tế bào phôi mới phân chia tiếp và di chuyển trong ống dẫn trứng Dinh dưỡng của phôi lúc này dựa vào thể vàng của trứng và dịch tử cung gọi là “sữa tử cung” Sau 4-7 ngày, phôi di chuyển vào tử cung Cho đến ngày thứ 8-9, phôi vẫn còn ở trạng thái tự do chưa bám vào thành tử cung Đây là thời điểm lấy phôi để cấy phôi cho bò mẹ khác Từ ngày chửa thứ

10 đến ngày 19, phôi cố định vào thành tử cung Từ ngày 20 đến ngày chửa thứ 45 phôi chuyển thành phôi thai Trong thời kì này, bắt đầu hình thành vóc dáng của cơ thể với sự biệt hoá và chuyển hoá tế bào Các cơ quan nội tạng như tổ chức thần kinh, tuyến

giống Cường độ sinh trưởng rất mạnh

Từ ngày có chửa thứ 61 trở đi phôi thai phát triển thành cơ thể hoàn chỉnh Khối lượng thai nhi tăng rất nhanh, đặc biệt hai tháng trước khi đẻ: 2/3-3/4 khối lượng bê sơ sinh phát triển ở giai đoạn này và phôi thai có thể tăng trọng bình quân 300-400g/ngày.Theo dõi sự phát triển bào thai của bò Holstein Friesian cho thấy: lúc mới hình thành hợp tử nặng 3g; được hai tháng nặng 8,3g;

Trang 25

Tiêu chuẩn năng lượng cung cấp cho bò cái có chửa ở 3 tháng đầu là 40kcal ME/ngày Từ tháng thứ tư đến tháng thứ 6 là 235kcal ME/ngày, ở các tháng cuối tăng lên 1000kcal ME/ngày Sau khi sinh, bẻ sẽ phát triển tốt với cường độ tối đa.

2.2 Giai đoạn p h á t triển sau bào thai

ì

Giai đoạn này ở bò sữa bắt đầu từ bé sơ sinh qua các thời kì

bú sữa (sơ sinh đến 6 tháng), thời kì sinh trưởng với cường độ cao

và bắt đầu xuất hiện tính dục (9-12 tháng tuổi), thời kì hình thành năng suất (từ thành thục sinh dục đẹn 8-10 tuổi), thời kì già cỗi

và chết

Bò sữa có thể sống được 20-25 tuổi Song trong thực tế, bò cho sữa cao đến lứa thứ 7 nghĩa là vào lúc 9-10 tuổi Sau đó sản lượng sữa giảm dần, vì vậy, ít khi nuôi bò sữa trên 10 tuổi, mà thường loại thải ở tuổi này trước khi bò già

Còn ở bò nuôi thịt, thường chia làm 3 thời kì: thòi kì thứ nhất bắt đầu từ sơ sinh đến khi xuất hiện tính dục Trong thời kì này,

bê phát triển chiểu dài, chiều cao, mô cơ, mô xương Tiếp theo là

thời kì thành thục sinh dục, bò bê phát triển theo chiều rộng và

chiều sâu, kích thước cơ thể đạt mức tối đa và hình thành lượng

mỡ dự trữ Thời kì thứ ba là thời gian già cỗi và chết Lúc này tất

cả các chức năng của cơ thể đều bị rối loạn và mất thăng bằng Chức năng sinh sản bị tê liệt

Trong thực tiễn nuôi bê lấy thịt, người chăn nuôi chỉ nuôi đến thời kì thành thục sinh dục tức là lúc bê được 18 tháng tuổi đạt tuổi giết thịt, không nuôi sang giai đoạn thứ ba

Trang 26

Đặc điểm nổi bật của phát triển cơ thể vật nuôi là sự phát triển không đồng đều theo giai đoạn và lứa tuổi Trong phát triển cá thể này, trao đổi chất và năng lượng luôn thay đổi và ảnh hưởng đến tăng giảm khối lượng cơ thể và năng suất vật nuôi.

Ở bò sữa cũng như bò thịt, hai thời kì sinh trưởng phát triển đầu tiên là quan trọng nhất Nuôi dưỡng tốt, bò sẽ tăng trọng cao, sinh sản sớm, cho nhiều sữa ở giai đoạn cho sữa và nhiều thịt ở giai đoạn nuôi thịt và vỗ béo

Ở thời kì bú sữa, sữa mẹ là nguồn thức ãn có giá trị dinh dưỡng cao, bê tăng trọng cao Nhưng sau cai sữa, bê rất dễ bị khủng hoảng sinh trưởng do bị mất nguồn sữa và ăn không được nhiều thức án thô xanh Không chú ý đến chế độ nuôi dưỡng ở thời kì này, bê sẽ chậm phát triển và rất dễ bị còi cọc, ảnh hưởng đến năng suất sau này

Nhũng người chăn nuôi bò giỏi có kinh nghiệm và có kĩ thuật thường tập cho bê ăn sớm và ãn cỏ khi bê mới được 1,5-2 tháng tuổi trong giai đoạn bú sữa, để dạ dày phát triển thành dạ dày 4 túi và bê ăn được nhiều thức ãn thô xanh ở thời kì sau cai sữa

3 Đặc điểm về sinh lí tiêu hoá thức ăn

Trên thực tế, nuôi bê muốn có nhiều sữa, nhiều thịt phải cho

bò ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng: prôtêin, gluxit, lipit, khoáng

và vitamin như các vật nuôi khác

Các chất dinh dưỡng này khi vào đường tiêu hoá, dưới tác dụng của vi sinh vật dạ cỏ và các men tiêu hoá phân giải thành các axit amin, glixêrin, các dạng đường và các axit béo dễ hấp thu rồí tổng hợp thành các tế bào trong cơ thể

Trang 27

3.1 S ự hình thành và cẩu tạo dạ dày của bò sữa, bò thịt

Bò là loài động vật nhai lại có dạ dày 4 túi, nên động thái tiêu hoá thức ăn trong đường tiêu hoá khác so với ở gia súc dạ dày đơn

- Trong giai đoạn đầu sinh trưởng của bê từ sơ sinh đến cai sữa,

dạ dày 4 túi chưa phát triển, chỉ có dạ múi khế làm chức năng như

dạ dày đơn ở lợn, chưa có khả năng tiêu hoá các chất dinh dưỡng

từ các loại thức ãn nhiều xơ, nên nhất thiết phải có thức ăn giàu dinh dưỡng như sữa nguyên và thức ăn hỗn hợp có giá trị prôtêin cao Thời kì này ở dạ cỏ có một cái rãnh do thành dạ tổ ong và những lá của dạ lá sách khép lại hình thành, dùng vận chuyển sữa, thức ăn và nước từ thực quản xuống thẳng dạ múi khế

Khi bê được 4 tháng tuổi, khối lượng dạ cỏ tăng gấp 2-3 lần

so với khối lượng dạ múi khế và đến 6 tháng tuổi đã bằng khối lượng của cả 3 túi kia gộp lại

Khối lượng, tính chất của thức ãn và khẩu phần ảnh hưởng rất

rõ nét đến phát triển của dạ dày và ruột gia súc nhai lại Nhiều thí nghiệm cho thấy khi cho bê ăn khẩu phần có nhiều thức ăn thô xanh, dạ cỏ và dạ tổ ong có dung tích lớn hơn (37%) và ruột dài hơn (17%) so với bê ăn khẩu phần có nhiều thức ăn tinh

Cho bê 1,5 tuổi ăn nhiều thức ăn tinh cũng nhận thấy dạ cỏ phát triển kém hơn, bề dày thành dạ cỏ phát triển cũng mỏng hơn (24,6%) so với đối chứng Do đó phải luyện tập cho bê ăn thức án xanh thô từ 2 tháng tuổi để kích thích dạ dày sớm phát triển thành

dạ dày 4 túi, để sau cai sữa bê ăn được nhiều thức ăn xanh thô

- Ở bò trưởng thành, dạ dày nằm ở phía hông trái, chiếm 3/4 xoang bụng gồm 4 túi: dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách và dạ múi khế

Trang 28

Dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách gọi chung là dạ dày trước, dạ múi khế gọi là dạ dày thực có các tuyến tiêu hoá như dạ dày đơn.+ Dạ cỏ chiếm 9/10 khối lượng dạ dày có dung tích 150-200 lít nằm bên phải xoang bụng, làm chức năng nhào bóp trộn thức

ăn để vi sinh vật lên men thức ãn như một phòng thí nghiệm

1 Dạ cò; 2 Dạ tổ ong; 3 Dạ lá sách

Hình 3. Dạ dày 4 túi ở loài nhai lại

1 Dạ cỏ; 2 Dạ tổ ong; 3 Dạ lá sách; 4 Dạ múi khế; 5 Thực quản; 6 Ruột non

Trang 29

+ Dạ tổ ong có dung tích 4-5 lít, kết cấu giống như một tổ ong, có tác dụng làm tăng bề mặt tiếp xúc với thức ăn và giữ lại các vật lạ.

+ Dạ lá sách gồm những lá to, nhỏ, niêm mạc hình thành những nếp nhăn hình lưỡi liềm xếp thành lá như những trang sách Mặt lá có gai thịt diện tiếp xúc rất lớn với thức ăn để co bóp

và hấp thu các chất dinh dưỡng

+ Dạ múi khế có nhiều nếp gấp ở bên trong, cấu trúc này làm tăng diện tích hấp thu các chất dinh dưỡng

Ở dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách không có tuyến tiết dịch tiêuhoá, nên tác dụng chủ yếu là tiếp nhận thức ăn, ợ trở lại miệng để nhai lại và nghiên nát

3.2 Đ ộng thái nhai lại

Hình 4 Động thái nhai lại

I Thức ăn xuống dạ cỏ và từ dạ tổ ong trở lại miệng để nhai lại

II Sau khi nhai lại, thức ăn từ miệng xuống thẳng dạ lá sách và dạ múi khế.

Trang 30

- Nhai lại là đặc điểm tiêu hoá đáng chú ý ở loài có dạ dày 4 túi Ở bò, thức ăn qua miệng được nhai giập rồi nuốt xuống dạ

cỏ Ở dạ cỏ, thức ăn được nhào bóp, trộn đều với thức ăn cũ, những thức ăn nhỏ được đưa vào dạ tổ ong, dạ lá sách và dạ múi khế, còn nhũng loại to thì ợ trở lại miệng để nhai lại nhiều lần hay ít tuỳ theo loại và chất lượng thức ăn Nói chung thức ăn thô thường phải nhai lại lâu và khi ăn rơm, bò nhai lại nhiều gấp hai lần so với ăn cỏ tươi

Bò thường nhai lại khi yên tĩnh hoặc sau khi ãn 30-45 phút Trong một ngày đêm, bò thường nhai lại 5-6 lần, bê 15-16 lần Bình quân tổng số giờ nhai lại ngày đêm của bò khoảng 7 giờ Nếu chán thả ngoài bãi chăn, khi đã ăn no, bò nhai lại 45-60 phút, rồi lại tiếp tục ãn Ban đêm, bò nhai lại nhiều nhất từ 22 giờ đến 2-3 giờ sáng Trong khi nhai lại, mỗi phút dạ cỏ nhu động 2-3 lần.Nhờ có động thái nhai lại và hệ vi sinh vật dạ cỏ, khả nãng tiêu hoá chất xơ ở bò rất cao, lên tới 57-60%, trong khi đó ở ngựa chỉ

có 11% và ở thỏ 22%

Sở dĩ bò có khả năng tiêu hoá chất xơ cao hơn các giống vật nuôi khác là nhờ hệ vi sinh vật cộng sinh trong dạ cỏ

3.3 Vai trò của hệ vỉ sình vật dạ cỏ

Hệ vi sinh vật dạ cỏ rất đa dạng và phong phú bao gồm vi

khuẩn (bacteria), các động vật nguyên sinh (protozoa) và nấm (fungi).

- Vừ khuẩn

Chiếm số lượng lớn nhất và cũng phong phú nhất về chủng loại Hiện nay đã phát hiện trên 200 loài vi khuẩn trong dạ cỏ

Trang 31

cùng tham gia tiêu hoá xenlulôzơ, cacbon hiđrat và prôtêin Khoảng 30% vi khuẩn sống tự do trong dịch dạ cỏ và khoảng 70% sống bám vào các mẩu thức ăn, một số ít khác trú ngụ ở các nếp gấp biểu mô hoặc bám vào cơ thể protozoa.

Vi khuẩn có vai trò quan trọng trong phân giải chất xơ (xenlulôzơ

và hemixenlulôzơ) thành các axit lactic, axetic, propionic, butiric,

V V tiêu biểu là Bacteroides succỉnogenes, Ruminococcus aìbus,

Butyrivibrio fibrisolvens và một số loài Clostridia spp.

Các vi khuẩn còn tham gia phân giải bột đường (Streptococcus

bovis, Selenomonas, Clostridium butyricum, Bifidobacteria bifidus, V V J phần giải prôtêin và các sản phẩm prôtêin (chủ yếu

là các vi khuẩn gram dương) sử dụng các axit sinh ra trong quá trình tiêu hoá ở dạ cỏ như axit lactic, axit axetic, axit butiric, axit

- Động vật nguyên sinh (Protozoa)

Protozoa có số lượng ít hơn vi khuẩn Khi trong khẩu phần có nhiều tinh bột, đường, số lượng Protozoa tãng lên Protozoa phân giải tinh bột và đường là chính Protozoa tiêu hoá và ăn vi khuẩn, tổng hợp thành prôtêin của cơ thể chúng có giá trị sinh học cao

Protozoa được chia thành 2 nhóm chính: Entodineomorphia

và Hoỉatriche Khi trong khẩu phần của bò sữa có nhiều xơ và

được bổ sung rỉ mật hoặc cỏ non thì nhóm thứ 2 phát triển mạnh.Trong nhóm động vật nguyên sinh quan trọng nhất là vi sinh vật phân giải xenlulôzơ và bột đường thành đường đơn, nhất là

các loại: Entodỉnỉum, Diplodỉnium, Dasotriche, ỉsotriche phân

giải xenlulôzơ, glucôzơ thành axit butiric, H2 và C 0 2, v.v

Trang 32

- Nấm (Fungi)

Những nấm chính được phân lập và phân loại từ dịch dạ cỏ của

bò là Neocallỉmastixfi'ontalis, Pimnomas communis, Sphaeromonas

communis.

Loài nấm có roi và roi hoạt động rất mạnh là vi sinh vật đầu tiên xâm nhập và tiêu hoá thành tế bào thực vật, làm cho cấu trúc này giảm độ bền vững, góp phần làm tăng sự phá vỡ thức ăn khi nhai lại và cho phép các vi khuẩn bám vào cấu trúc tế bào tiếp tục tiêu hoá xenlulôzơ

3.4 H oạt động tiêu hoá của vi sinh vật trong dạ cỏ

- Tiêu hoá chất xơ ịxenlulôĩơ)

Xenlulôzơ là màng khó tiêu hoá của tế bào thực vật, có hàm lượng lớn, chiếm khoảng 40-50% khối lượng của rơm, cỏ và các phụ phẩm khác Protozoa cũng ăn một phần chất dinh dưỡng ấy

để cung cấp năng lượng từ xenlulôzơ cho hoạt động của chúng.Chất xơ dưới tác dụng của vi khuẩn lên men rất mạnh và cuối cùng tạo ra nhiều chất khí (CH4, C 0 2) và các axit béo bay hơi (axit axetic, axit butiric, axit valeric) Những sản phẩm này được hấp thụ vào máu qua thành dạ cỏ để tham gia vào quá trình trao đổi chất

Vi khuẩn còn lên men hemixenlulôzơ tạo thành pentôzơ và hexôzơ, lên men pectin tạo thành một số axit béo bay hơi khác

- Tiêu hoá tinh bột và đường

Trong các phụ phẩm như cám, vỏ dứa, ngọn mía, rỉ mật đều

có nhiều tinh bột và chất đường, cung cấp nãng lượng cho vi sinh

Trang 33

vật hoạt động và có tác dụng cho sự phát triển hệ vi sinh vật trong

dạ cỏ Vi khuẩn và Protozoa phân giải tinh bột thành polisaccarit, glicogen, amilopectin Những đường này lên men tạo thành axit béo bay hơi Riêng sự lên men từ từ của amilopectin sẽ ngăn cản

sự lên men quá mức khi bò ăn nhiều cỏ tươi, cỏ non do đó tránh được hiện tượng trướng bụng đầy hơi

Các axit béo này được hấp thu hoàn toàn qua thành dạ cỏ vào máu đến gan, một phần được dự trữ ở gan để được ôxi hoá cung cấp năng lượng cho bò hoạt động, phần khác được chuyển đến

mô bào, nhất là mô mỡ và mô tuyến sữa, tạo thành mỡ sữa và mỡ

- Tiêu hoá prôtếin

Các loại rơm, cỏ và phụ phẩm có hàm lượng prôtêin rất thấp,

do đó giá trị dinh dưỡng cũng thấp Nhờ có hệ vi sinh vật dạ cỏ tiêu thụ lượng prôtêin thực vật ít ỏi này biến thành prôtêin động vật có giá trị sinh học cao trong cơ thể chúng Hệ vi sinh vật này

di chuyển theo thức ăn xuống dạ múi khế và ruột non, trở thành nguồn prôtêin động vật cho bò, nhờ đó 60-70% prôtêin thực vật trong rơm, cỏ, phụ phẩm công nghiệp được chuyển thành prôtêin

vi sinh vật Phần prôtêin thực vật không được vi sinh vật lên men

và phân giải, sẽ chuyển tới dạ múi khế và ruột non để tiêu hoá Như vậy, nguồn prôtêin ở ruột non sẽ có 2 loại: prôtêin của vi sinh vật

và prôtêin “nguyên xi” trong thức ăn gọi là “prôtêin thoát qua”

Trang 34

Vi sinh vật dạ cỏ còn có khả năng biến các chất chứa nitơ không phải prôtêin như urê, muối amôn, cacbamit thành prôtêin của bản thân chúng Do đó, người ta thường bổ sung urê vào khẩu phần cho bò hoặc xử lí rơm rạ, thân cây ngô sau thu hoạch với urê dùng làm thức ăn cho bò sữa, bò thịt.

Tóm lại, hệ vi sinh vật dạ cỏ có khả nàng lên men phân huỷ

xơ thành các chất dinh dưỡng được dùng làm thức ăn cho bản thân vi sinh vật phát triển Vi sinh vật dạ cỏ có khả năng phân giải urê có trong thức ăn thành amôniac (NH3) được vi sinh vật tổng hợp biến thành prôtêin của bản thân

Theo số liệu phân tích, thành phần axit amin trong vi sinh vật

dạ cỏ không thua kém thành phần axit amin bột cá, trừ metionin

Vì vậy khi cho bò ãn đầy đủ thức ăn xanh thô, chỉ cần bổ sung sunfua (lưu huỳnh) là có thể thoả mãn cơ thể chúng về prôtêin

và axit amin Vi sinh vật sinh sôi nảy nở trong dạ cỏ, khi chuyển xuống hành tá tràng và ruột non là nguồn thức ăn giàu prôtêin cho bò sữa, bò thịt

thụ 200g vi sinh vật từ dạ cỏ xuống dạ múi khế và ruột non.Thức ăn thô xanh có thể thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng cho bò sữa, bò thịt và các động vật nhai lại khác là vì lẽ đó

4 Khả năng cho sữa, cho thịt của bò sữa, bò thịt

4.1 K h ả năng cho sữa

Sữa là nguồn thực phẩm đặc biệt được tiết ra từ tuyến sữa ở động vật có vú sau khi đẻ để nuôi con Sữa được tạo thành từ

Trang 35

những chất dinh dưỡng của máu trong tuyến sữa Muốn tạo được

1 lít sữa phải có khảng 400-500 lít máu vận chuyển các chất dinh dưỡng qua tĩnh mạch vú về tuyến sữa

Sữa là hộ thống keo phức tạp, một chất lỏng màu trắng ánh vàng, chứa hàng trăm chất khác nhau như mỡ sữa, prôtêin sữa, đường sữa, chất khoáng, vitam in, men, kháng thể, kích

dưỡng hoàn thiện nhất và dễ hấp thu

Trong sữa bò có khoảng 12,5-13% chất khô, trong đó mỡ 3,6-3,8% , prôtèin 3,3%, đường 4,8% và khoáng (đa lượng, vi lượng) 1% Ngoài ra, trong sữa còn có một số chất với lượng không lớn, nhưng có hoạt tính sinh học cao như kích thích tố,

trò quan trọng trong trao đổi chất, cần thiết cho các hoạt động sống của cơ thể

Trong mỡ sữa có trên 150 axit béo Trong prôtêin sữa có đủ các axit amin không thay thế (trên 20 axit amin) với hàm lượng cao, khồng có loại thực phẩm nào có thể so sánh được: lizin 14,2%, metionin 6%, tryptophan 1,4%, histidin 7,4%, acginin 8,1%, treonin 7,9%, pheninalanin 9,2%, valin 14,6%, v.v Sữa của tất cả các giống gia súc như trâu, bò, dê, ngựa đều

là nguồn thực phẩm có giá trị cho người Hầu hết các thành phần cơ bản của sữa đều được cơ thể người hấp thu với tỉ lệ cao: mỡ sữa 95%, prôtêin sữa 96% và đường sữa 98%

Từ mỡ sữa có thể chế biến thành bơ sữa và từ casein sữa sản xuất phomat là những sản phẩm của sữa có giá trị dinh dưỡng cao, dễ hấp thu

Trang 36

Nếu nuôi dưỡng tốt và quản lí bò sữa đúng kĩ thuật, thì bò sữa sau khi sinh con được 2 tháng, phối giống ừở lại sẽ lại có chửa Như vậy khi bò vắt sữa đến hết tháng thứ 10, bò đã có chửa được 7 tháng, phải ngùng vắt sữa hai tháng để thai nhi trong bụng mẹ phát triển Sau đó

bò mẹ đẻ và lại tiếp tục được khai thác sữa

Thời gian vắt sữa 10 tháng (300-305 ngày) gọi là chu kì sữa Thời gian ngừng vắt sữa 2 tháng gọi là thời kì cạn sữa Kéo dài

thời gian vắt sữa cũng như kéo dài thời gian cạn sữa thể hiện bò phối giống không kịp thời và tỉ lệ đẻ của bò thấp

Một bò sữa cho nhiều hay ít sữa trong năm còn phụ thuộc vào các yếu tố: giống, đặc điểm cá thể trong cùng một giống, tuổi,

dưỡng chiếm vị trí rất quan trọng

Trang 37

- G iống:

Giống là nhân tô' di truyền quyết định năng suất và sản lượng sữa của bò sữa: ví dụ giống bò Holstein Friesian có sản lượng sữa 5500-6000kg sữa, bò Lang trắng đen 4200-4500kg, còn bò Nâu Thuỵ Sỹ 3100-3200kg và bò Sind, bò Sahiwal 1200-2700kg sữa/chu kì 305 ngày

Ở những nước có nền công nghệ sản xuất sữa tiên tiến, người

ta nuôi chủ yếu những giống bò chuyên sữa để có được sản lượng sữa cao như giống bò Holstein Friesian, bò Khômôgô, v.v Sau đấy mới đến các giống bò kiêm dụng thịt sữa như bò Nâu Thuỵ

Sĩ, bò Đỏ Đan Mạch Cùng một giống bò, nhưng nuôi ở nhiều nước, sản lượng sữa của chúng ở mỗi nước cũng khác nhau Giống bò Holstein Friesian gốc Hà Lan nuôi ở Liên Xô (cũ) đạt sản lượng sữa 4200-4500kg, ở các nước Tây Âu 5000-5500kg và

ở Mĩ 6000-7000kg/chu kì Hiện tượng này nói lên mối tương tác giữa môi trường và ngoại cảnh với di truyền là rất lớn

Đ àn bò H olstein Friesian Cuba nuôi ở nước ta từ 1970 đến 1980 tại Sao Đỏ, M ộc Châu có sản lượng sữa bình quân 4000-4200kg sữa/chu kì, một số con đạt 6000kg sữa/chu kì, con cao nhất 9000kg sữa/chu kì, bình quân 30kg sữa/ngày với chi phí 0,8 đơn vị thức ăn cho lkg sữa Điều này nói lên sự khác biệt của từng cá thể trong cùng một giống, giúp cho những nhà chọn giống

và người chăn nuôi có biện pháp chọn lọc những bò sữa có sản lượng sữa cao để giữ giống, nhân giống và cải thiện năng suất đàn

- T u ổi:

Sản lượng sữa ở bò sữa thay đổi đáng kể tuỳ theo lứa tuổi của

bò Theo kết quả của nhiều công trình nghiên cứu, bò sữa cho sản

Trang 38

lượng sữa cao nhất từ chu kì thứ ba cho đến chu kì thứ sáu Sản lượng sữa ở những chu kì này tãng khoảng 40-50% so với sản lượng sữa chu kì thứ nhất Sau đấy, lượng sữa giảm dần và sẽ giảm rất nhanh nếu bò sữa không được cho ăn và chăm sóc đầy

đủ Ngược lại, nếu bò sữa được nuôi dưỡng và chăm sóc tốt, bò

sẽ tiếp tục cho sữa đến lứa đẻ thứ 10-12 Trong trường hợp này,

- Chu kì sữa và đường cong tiết sữa:

Sản lượng sữa của bò cũng thay đổi đáng kể trong chu kì sữa Chu kì sữa có 10 tháng Trong 7-10 ngày đầu sau khi đẻ, bò mẹ tiết một loại sữa gọi là sữa đầu là chất lỏng đặc sánh, màu vàng hơi mặn và có mùi vị đặc biệt Sữa đầu khác với sữa thường ở chỗ

có độ axit cao, lượng chất khô cao, nhất là prôtêin, mỡ và vitamin (A, B12, E) Sữa đầu là thức ăn không thể thiếu được của gia súc non mới sinh nói chung và bê sơ sinh nói riêng Trong sữa đầu có nhiều kháng thể và chất chống nhiễm độc của cơ thể mẹ truyền sang cho con khi con bú Nhờ đó, vật sơ sinh chống được nhiễm khuẩn đường ruột và hoạt động tiêu hoá bình thường

Thành p h ầ n sữa đ ầu (5 % ) ở m ột s ố g ia súc

(m ẫu lấ y ngay sau khi đ ẻ )

Sữa đầu Nưốc Chất

khô

Prôtêin Mỡ Dẫn xuất

không đam

Chất khoáng

Trang 39

Thông thường năng suất sữa bắt đầu giảm khi bò sữa có chửa tháng thứ năm, khớp với tháng cho sữa thứ bảy Từ tháng vắt sữa thứ tám trở đi, khi bò có chửa ở tháng thứ sáu, năng suất sữa giảm rất nhanh Ở bò sữa và bò kiêm dụng sữa thịt, hệ số sụt sữa bình quân (theo tháng) tính từ tháng cho sữa cao nhất đến tháng cho sữa thứ tám thường là 5-9%.

- Thức ăn và n u ô i dưỡng:

Ngoài yếu tố giống, thức ăn và nuôi dưỡng là yếu tố bao trùm

có ảnh hưởng và tác động rất lớn đến năng suất và sản lượng sữa Trong thí nghiệm của chúng tôi nếu bò sữa Fị HF được ăn 6,5 đơn vị thức ăn một ngày, sản lượng sữa đạt 1800-2000kg sữa/chu

kì, nhưng khi cho khẩu phần 9,5 đơn vị thức ãn/ngày, lượng sữa tãng lên 2700-2800kg sữa/chu kì Chi phí thức ăn cho sản xuất

lk g sữa không thay đổi, nhưng sản lượng sữa bình quân/con tăng lên được 44-45%

tháng vát sữa

Hình 5. Đường cong tiết sữa theo tháng

— bò F| HF, SLS 2660kg

~ •— bò F| HF, SLS 1910kg sữa/chu kì

Trang 40

4.2 K hả năng cho thịt

Công nghệ sản xuất bò thịt khác với bò sữa ở chỗ: ở bò sữa ta khai thác khả năng sản xuất sữa của chúng đôi khi đến 11-12 tuổi, còn ở bò thịt, thì tận dụng giai đoạn bê sinh trưởng với cường độ cao nhất và nuôi thâm canh đạt khối lượng cao, giết thịt

ở 15-18 tháng tuổi, còn ở nước ta giết thịt ở 18-21 hoặc 21-24 tháng tuổi

Ở những nước có ngành bò thịt phát triển, bò thịt phải là bê đực (hoặc cái) của các bò chuyên dụng thịt như giống bò Charoláis, Limousin của Pháp, bò Hereford, Shorthorn, Aberdin angus của Anh, bò Santa-gertrudis, Simbrah của Mỹ và những con lai giữa các giống trên với giống chuyên dụng sữa và kiêm dụng sữa thịt (hoặc thịt sữa) nuôi 15-18 tháng tuổi đạt 450-500kg

ờ bò thuần, 400-450kg ở bò lai với tãng trọng binh quân 780-850g/ngày Tỉ lệ thịt xẻ 55-57% ở bò lai và 62-65% ở bò thuần Nuôi bê đực lấy thịt có cường độ phát triển nhanh hơn bê cái và bê đực thiến

Hình 6. Thân thịt xẻ (bổ làm 2 nửa)

Ngày đăng: 28/02/2023, 00:00

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w