Căn cứ vào thực tiễn thi hành các biện pháp chế tài luật quốc tế, có thể hiểu rằng trừng phạt cá thể là hành động của một hay một số quốc gia nhằm trả đũa hoặc giáng trả những hành vi vi
Trang 1NguyÔn ThÞ Yªn *
ột hệ thống pháp luật chỉ thực sự
hiệu quả khi nó có khả năng đảm
bảo sự tuân thủ pháp luật của mỗi chủ thể
đồng thời có đủ các biện pháp trừng phạt
và cưỡng chế cũng như hệ thống thiết chế
cần thiết để chống lại những chủ thể có
hành vi vi phạm pháp luật
Trật tự pháp lí quốc tế được xây dựng
và tồn tại trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng
về chủ quyền giữa các quốc gia Không có
tổ chức siêu quốc gia nào đứng trên các
quốc gia, áp đặt các nguyên tắc, các quy
phạm của mình cho các quốc gia và cưỡng
bức các quốc gia thực hiện chúng Do đó
cơ chế thực thi, tuân thủ luật quốc tế chủ
yếu mang tính chất tự điều chỉnh với
những đảm bảo về pháp lí do các chủ thể
luật quốc tế thoả thuận quy định
Dù vậy, điều đó không có nghĩa là luật
quốc tế hoàn toàn không có những biện
pháp trừng phạt và cưỡng chế Trong thực
tiễn, các chủ thể luật quốc tế có thể áp
dụng các biện pháp cưỡng chế nhất định
dưới hình thức cá thể (riêng lẻ) hay tập
thể với điều kiện phải tuân thủ những
nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế
1 Trừng phạt quốc tế và trừng phạt
kinh tế quốc tế
Trong luật quốc tế nói chung và trong
Hiến chương Liên hợp quốc nói riêng cho tới nay chưa đưa ra được khái niệm trừng phạt quốc tế hay khái niệm trừng phạt kinh tế quốc tế Những khái niệm này chỉ dừng lại trong phạm vi nghiên cứu của khoa học luật quốc tế
Căn cứ vào thực tiễn thi hành các biện pháp chế tài luật quốc tế, có thể hiểu rằng trừng phạt cá thể là hành động của một hay một số quốc gia nhằm trả đũa hoặc giáng trả những hành vi vi phạm pháp luật quốc tế của một chủ thể luật quốc tế nào
đó gây thiệt hại đến quốc gia mình Trừng phạt tập thể là một hình thức thực hiện trách nhiệm pháp lí quốc tế, theo đó một nhóm các quốc gia liên kết với quốc gia bị hại buộc các quốc gia vi phạm chấm dứt ngay một hành động vi phạm pháp luật quốc tế hay hành vi tội ác và buộc các quốc gia vi phạm đó thực hiện các hình thức trách nhiệm theo luật quốc tế hiện đại Như vậy, hình thức trừng phạt tập thể cũng có thể được tiến hành bằng hai phương thức: Bằng biện pháp vũ trang hoặc bằng các biện pháp phi vũ trang Điều 41 Hiến chương Liên hợp quốc
ghi nhận: “Hội đồng bảo an có thẩm
M
* Giảng viên chính Khoa luật quốc tế
Trang 2quyền quyết định những biện pháp nào
phải được áp dụng mà không liên quan tới
việc sử dụng vũ lực để thực hiện các nghị
quyết của Hội đồng và có thể yêu cầu các
thành viên Liên hợp quốc áp dụng những
biện pháp ấy Các biện pháp này có thể là
cắt đứt toàn bộ hay từng phần quan hệ
kinh tế, đường sắt, đường hàng hải, hàng
không, bưu chính, điện tín, vô tuyến điện
và các phương tiện thông tin khác, kể cả
việc cắt đứt quan hệ ngoại giao”.
Như vậy, các biện pháp được liệt kê ở
Điều 41 Hiến chương là những biện pháp
phi vũ trang có thể áp dụng để trừng phạt
là biện pháp kinh tế, giao thông vận tại,
thông tin liên lạc, ngoại giao…
Từ đó, có thể đưa ra một định nghĩa về
trừng phạt kinh tế quốc tế như sau: Trừng
phạt kinh tế là việc sử dụng các biện pháp
kinh tế, tài chính hay các biện pháp khác
nhằm tác động một cách gián tiếp hay trực
tiếp đến nền kinh tế hay quyền lợi vật chất
của chủ thể bị trừng phạt theo các quy
định hiện hành của luật quốc tế
2 Đặc điểm của biện pháp trừng
phạt kinh tế
* Trừng phạt kinh tế là hình thức
cưỡng chế của luật quốc tế
Như đã phân tích ở trên, trong luật
quốc tế không có bộ máy cưỡng chế tập
trung như trong hệ thống pháp luật quốc
gia nhưng vẫn có biện pháp cưỡng chế do
các quốc gia thoả thuận đưa ra Nó được
khẳng định là hình thức thực hiện bắt
buộc Tính bắt buộc được thể hiện trong
tổ chức quốc tế bắt nguồn từ chỗ nó được
thực hiện bởi một thể chế có đủ quyền lực cũng như điều kiện vật chất để đảm bảo các quyết định do mình đưa ra được thực thi trên thực tế
Với số lượng thành viên đông đảo như Liên hợp quốc (tính đến tháng 9/2002 có
191 thành viên), bao gồm trong đó tất cả các siêu cường về quân sự, chính trị, kinh
tế Điều đó khẳng định rằng tổ chức này không chỉ có quyền hạn về mặt pháp lí mà còn cả về mặt thực tiễn bởi nó có đủ tiềm lực kinh tế để thực hiện ý chí của mình
Trừng phạt kinh tế quốc tế trong khuôn khổ Liên hợp quốc có tính tập thể rất cao
Tính tập thể của hình thức trừng phạt kinh
tế thể hiện ở chỗ nó do nhiều quốc gia cùng đồng loạt áp dụng và tiến hành theo một cơ chế thống nhất dưới sự điều khiển của một thể chế thống nhất thể hiện ở chỗ Liên hợp quốc giao cho Hội đồng bảo an
là cơ quan “có trách nhiệm chính trong sự
nghiệp gìn giữ hoà bình và an ninh thế giới” (Điều 24) Như vậy, để áp đặt chế
độ trừng phạt kinh tế theo quy định của Hiến chương Liên hợp quốc, từ giai đoạn tạo cơ sở pháp lí cho đến lúc triển khai thực hiện, Hội đồng bảo an được Liên hợp quốc giao cho quyền hạn này Điều
39 Hiến chương Liên hợp quốc quy định:
“Hội đồng bảo an xác định thực tại mọi
sự đe dọa hoà bình, phá hoại hoà bình hoặc hành vi xâm lược…” Theo đó một hành vi được xem là có nguy cơ đe dọa hoà bình, phá hoại hoà bình hoặc hành vi xâm lược, phụ thuộc vào sự cân nhắc của Hội đồng bảo an Sự cân nhắc này rất
Trang 3quan trọng bởi vì về mặt lí luận cũng như
trên thực tế, một hành vi vi phạm luật
quốc tế chưa chắc đã là một hành vi đe
dọa hoà bình phá hoại hoà bình, hay hành
vi xâm lược Nếu trừng phạt kinh tế do
một hay một nhóm các quốc gia đơn
phương thực hiện đối với quốc gia vi
phạm thì dù các quốc gia này có nền kinh
tế mạnh và đủ sức chi phối nền kinh tế
toàn cầu đến đâu chăng nữa cũng không
có được những quyền hạn tuyệt đối như
Liên hợp quốc Mục đích của các lệnh
trừng phạt kinh tế đơn phương như vậy
thường là để bày tỏ ý kiến bất đồng đối
với một chính sách hay đường lối của một
quốc gia nào đó hoặc nó mang tính chất
như là một hành động trả đũa nếu như
trước đó quốc gia này đã có hành vi vi
phạm đến quyền lợi hay lợi ích vật chất
của quốc gia mình Theo đó, quốc gia bị
hại chỉ có thể sử dụng những biện pháp
tương tự đối với các quốc gia không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng quyền lợi
vật chất của mình Những quốc gia này
thường giao cho cơ quan lập pháp của
mình ban hành văn bản pháp luật rằng có
áp đặt lệnh trừng phạt hay không đối với
quốc gia gây hại Do đó, thời điểm có hiệu
lực cũng như khi nào bãi bỏ các lệnh
trừng phạt kinh tế phụ thuộc vào quan
điểm của chính quốc gia đó Trong khi đó,
một khi lệnh trừng phạt của Liên hợp
quốc đối với quốc gia bất kì nào đó có
hiệu lực thì bất kì thành viên nào của nó
cũng phải tuân thủ một cách triệt để và
như nhau không phụ thuộc vào quan hệ cụ
thể giữa họ với quốc gia vi phạm
* Trừng phạt kinh tế là một giải pháp trung hoà
Trừng phạt kinh tế khác với việc sử dụng lực lượng quân sự ở chỗ việc sử dụng lực lượng quân sự là hình thức cưỡng chế nghiêm khắc và thiệt hại có thể xảy ra là rất nặng nề, mặt khác thể thức áp dụng cực kì phức tạp (các quốc gia thành viên Liên hợp quốc có nghĩa vụ cung cấp quân đội và mọi phương tiện cho Hội đồng bảo an…) Trong khi đó, trừng phạt kinh tế chỉ dùng những biện pháp về kinh
tế, tài chính hay những biện pháp khác tác động một cách trực tiếp hay gián tiếp đến nền kinh tế của quốc gia gây những thiệt hại về vật chất nhất định Các biện pháp này đa dạng và phức tạp như: Bao vây, cấm vận, phong toả kinh tế, phong toả tài sản của quốc gia ở nước ngoài, cắt đứt các hoạt động trao đổi thương mại, lao động, đầu tư, giao thông vận tải, cấm tất cả các giao dịch với quốc gia vi phạm Nhìn chung, các biện pháp này có thể tiến hành một cách nhanh chóng hơn hình thức sử dụng lực lượng quân sự một khi lệnh trừng phạt có hiệu lực Cơ chế tiến hành cũng tương đối gọn nhẹ, chẳng hạn như lập ra một ủy ban trừng phạt, gửi những quan chức giám sát hay nhân viên hải quan đến biên giới quốc gia vi phạm… Trong thực tiễn, Liên hợp quốc thường
sử dụng phổ biến hình thức trừng phạt kinh tế như một công cụ để duy trì và bảo
vệ hoà bình và an ninh thế giới Vì vậy, các quốc gia đều ý thức được rằng một khi
Trang 4hình thức trừng phạt kinh tế được áp dụng
thì quốc gia đó phải đương đầu với muôn
vàn khó khăn và gánh chịu những thiệt hại
nặng nề đến nền kinh tế quốc gia, nó sẽ
tác động sâu sắc đến đại đa số dân cư của
quốc gia đó Ngoài ra, trừng phạt kinh tế
còn có thể nới lỏng hay xiết chặt tuỳ thái
độ của chủ thể vi phạm có những nhân
nhượng nhất định hay là ngoan cố giữ
vững quan điểm của mình Vì vậy, hình
thức cưỡng chế này vừa mềm dẻo nhưng
cũng không kém phần cứng rắn bởi tính
linh hoạt của nó trong quá trình áp dụng
Trừng phạt kinh tế cũng khác với các
giải pháp ôn hoà ở chỗ: Tại Điều 41 Hiến
chương Liên hợp quốc liệt kê những biện
pháp ôn hoà như cắt đứt quan hệ ngoại
giao, cắt đứt quan hệ thể thao văn hoá, cắt
đứt quan hệ thông tin liên lạc… ở khía
cạnh nào đó những giải pháp này không
có ý nghĩa như là một biện pháp cưỡng
chế vì bên cạnh những mục đích chính trị
còn có những mục đích khác như bảo vệ
an toàn cho nhân viên ngoại giao đang
làm việc trên lãnh thổ quốc gia vi phạm
Vì vậy, về thực chất biện pháp này thường
chỉ có ý nghĩa về mặt tinh thần hoặc nếu
gây thiệt hại thì mức độ là không đáng kể
Thể thức tiến hành các biện pháp này
cũng tương đối đơn giản như ra các tuyên
bố cắt đứt quan hệ thể thao, văn hoá, rút
các nhân viên ngoại giao về nước…
Như vậy, có thể khẳng định rằng các
biện pháp trừng phạt kinh tế là một giải
pháp trung dung giữa một bên là việc sử
dụng các lực lượng quân sự và một bên là
các giải pháp ôn hoà Nó khắc phục được nhược điểm của những biện pháp kia nhưng vẫn mang lại những hiệu quả đáng
kể Nó góp phần vào công cuộc gìn giữ hoà bình và an ninh thế giới, đảm bảo một trật tự pháp lí quốc tế ngày càng ổn định
và bền vững
* Trừng phạt kinh tế khác với trả đũa
về kinh tế trong luật quốc tế
Theo quy định hiện hành của luật quốc
tế, trả đũa kinh tế được coi là hình thức trách nhiệm pháp lí quốc tế từ các hành vi
vi phạm pháp luật quốc tế Ví dụ như WTO cho phép EU được áp dụng các biện pháp trả đũa về kinh tế đối với Hoa kì trong lĩnh vực thương mại hàng hoá
Trong quá trình áp dụng biện pháp trả đũa
về kinh tế, quốc gia tiến hành phải tuân thủ nguyên tắc tương xứng được quy định trong luật quốc tế Trong khi đó, vấn đề tuân thủ nguyên tắc này lại không đặt ra đối với trừng phạt kinh tế quốc tế Mức độ
và phạm vi áp dụng các biện pháp trừng phạt về kinh tế quốc tế hoàn toàn phụ thuộc và mức độ vi phạm của chủ thể gây hại, dựa trên cơ sở cân nhắc xem xét của cộng đồng quốc tế kết hợp với các yếu tố
và hoàn cảnh quốc tế quan trọng khác (như các biện pháp trừng phạt kinh tế của Liên hợp quốc đối với Iraq trong thập niên
90 của thế kỉ trước được xác định dựa trên thái độ xử sự của Iraq đối với các yêu cầu
và đòi hỏi của tổ chức quốc tế toàn cầu này chứ hoàn toàn không căn cứ vào nguyên tắc tương xứng vẫn thường được tính đến trong quá trình thực hiện các biện
Trang 5pháp trả đũa kinh tế quốc tế
3 Hiến chương Liên hợp quốc - cơ
sở áp dụng các biện pháp trừng phạt
kinh tế quốc tế
Theo Hiến chương Liên hợp quốc, tổ
chức quốc tế này có thẩm quyền áp dụng
các biện pháp trừng phạt quốc tế cần thiết
nhằm mục đích duy trì hoà bình và an
ninh quốc tế, tăng cường sự phát triển
mạnh mẽ và ổn định của cộng đồng quốc
tế Cụ thể điều 41 và 50 của Hiến chương
cho phép áp dụng các biện pháp trừng
phạt phi vũ trang (trừng phạt kinh tế quốc
tế) nhằm thực hiện các mục tiêu cao cả
nêu trên của Hiến chương Mọi hành vi sử
dụng lực lượng vũ trang bất hợp pháp của
quốc gia này chống lại quốc gia khác bị
luật quốc tế nghiêm cấm tuyệt đối Tuy
nhiên, bên cạnh việc cho phép sử dụng
biện pháp trừng phạt kinh tế quốc tế tại
các điều từ 42 đến 47 và Điều 51, Hiến
chương Liên hợp quốc còn cho phép sử
dụng các biện pháp quân sự cần thiết để
duy trì hoà bình và an ninh quốc tế
Với tư cách là tổ chức quốc tế liên
chính phủ lớn nhất do các quốc gia thành
lập, quyền năng chủ thể luật quốc tế của
tổ chức này phụ thuộc vào phạm vi mà
Hiến chương Liên hợp quốc quy định và
không vượt ra ngoài khuôn khổ đó Vì
vậy, các biện pháp trừng phạt kinh tế do
Liên hợp quốc áp dụng phải tuân thủ theo
quy định của Hiến chương Hiến chương
không những quy định về quyền hạn và
chức năng của các cơ quan thực thi việc
cưỡng chế mà còn quy định trong trường
hợp nào thì các biện pháp chế tài có thể được sử dụng Mặc dù chỉ có 111 điều khoản nhưng Hiến chương Liên hợp quốc
đã trao cho tổ chức này những chức năng
và quyền hạn mà không tổ chức quốc tế nào có thể so sánh được Vấn đề này được thể hiện rõ trong khoản 1 Điều 1 Hiến
chương “Liên hợp quốc theo đuổi những
mục đích duy trì hoà bình và an ninh quốc
tế và để đạt được mục đích đó, thi hành những biện pháp tập thể có hiệu quả, để phòng ngừa và loại trừ mối đe doạ hoà bình, cấm mọi hành vi xâm lược hoặc phá hoại hoà bình khác…” Thi hành trên thực
tế “những biện pháp tập thể có hiệu quả”
kể trên cần phải có một lực lượng, cơ quan cụ thể hoạt động Khoản 1 Điều 24
Hiến chương quy định: “Để đảm bảo cho
Liên hợp quốc hành động nhanh chóng và
có hiệu quả, các thành viên Liên hợp quốc trao cho Hội đồng bảo an trách nhiệm chính trong sự nghiệp duy trì hoà bình và
an ninh quốc tế và thừa nhận khi làm
những nghĩa vụ do trách nhiệm ấy đặt ra thì Hội đồng bảo an hành động với tư cách thay mặt cho các thành viên Liên hợp quốc”. Hội đồng bảo an gồm 15 thành viên (trong đó 5 ủy viên thường trực của Hội đồng bảo an được chỉ rõ trong Hiến chương và có quyền phủ quyết đó là Anh, Pháp, Nga, Mĩ, Trung Quốc và 10 uỷ viên không thường trực được Đại hội đồng bầu theo nhiệm kì 2 năm, chọn theo hai tiêu chuẩn là có đóng góp thích đáng cho việc duy trì hoà bình và an ninh quốc
tế và phân bổ công bằng về địa lí)
Trang 64 Trình tự, thủ tục tiến hành trừng
phạt kinh tế quốc tế theo Hiến chương
Liên hợp quốc
Hội đồng bảo an được triệu tập vào
bất cứ lúc nào khi Chủ tịch Hội đồng bảo
an thấy cần thiết và khi một tranh chấp
hoặc tình thế được trình lên Hội đồng bảo
an xem xét Về nguyên tắc, Hội đồng bảo
an họp công khai nhưng cũng có thể họp
kín (chẳng hạn khi đề cử Tổng thư kí Liên
hợp quốc), các cuộc họp của Hội đồng bảo
an có thể được tiến hành không những chỉ
ở trụ sở Liên hợp quốc mà còn ở bất cứ
nơi nào nếu Hội đồng bảo an xét thấy
thuận tiện cho công việc của mình Hội
đồng bảo an áp dụng phương thức đa số
để thông qua quyết định của mình Phần
lớn các quyết định được thông qua (trong
đó có quyết định trừng phạt kinh tế) khi
có ít nhất 9 phiếu và không có uỷ viên
thường trực nào sử dụng quyền veto
(quyền phủ quyết) Một khi quyết định
của Hội đồng bảo an được thông qua thì
tất cả các quốc gia thành viên đều có
trách nhiệm phải phục tùng và thực hiện
các quyết định đó (Điều 25 Hiến chương)
Như vậy, khác với nghị quyết của các cơ
quan khác của Liên hợp quốc chỉ có tính
chất khuyến nghị, nghị quyết của Hội
đồng bảo an có tính chất bắt buộc, các
quốc gia cần phải tuân thủ và thực thi
Hội đồng bảo an đưa ra những kiến
nghị hoặc quyết định các biện pháp nào
nên áp dụng phù hợp với các điều 41 và
42 để duy trì hoà bình hoặc khôi phục
hoà bình và an ninh quốc tế (Điều 39 Hiến
chương Liên hợp quốc) Trên cơ sở những kiến nghị hoặc quyết định của Hội đồng bảo an, cơ quan có trách nhiệm trong việc thực hiện cưỡng chế chính là Hội đồng bảo an Điều đó cho thấy Hội đồng bảo an vừa có vai trò là cơ quan “làm luật” tức là
cơ quan quyết định trong trường hợp nào thì thi hành một lệnh trừng phạt và biện pháp kinh tế, tài chính nào được sử dụng, vừa có vai trò là cơ quan giám sát hoạt động tuân theo các nghị quyết mà mình đưa ra nhằm mục đích đảm bảo tính cưỡng chế của những quyết định đó Cũng cần nói thêm rằng việc thực thi các biện pháp trừng phạt kinh tế do Liên hợp quốc
áp dụng là một quá trình bao gồm tổng thể các giai đoạn từ khâu thủ tục (ra quyết định, văn bản hướng dẫn thi hành) cho đến các khâu triển khai thực sự trên thực
tế một chế độ trừng phạt kinh tế đối với chủ thể vi phạm, rồi khắc phục hậu quả như trường hợp của Iraq, bên cạnh việc thực thi triệt để lệnh trừng phạt kinh tế chống Iraq, Liên hợp quốc đã cho phép Iraq thực hiện chương trình “đổi dầu lấy lương thực” nhằm khắc phục những hậu quả nghiêm trọng đối với người dân Iraq nhất là phụ nữ và trẻ em phát sinh do lệnh cấm vận của Liên hợp quốc Hiến chương Liên hợp quốc đã giao cho Hội đồng bảo
an toàn quyền hành động và thực hiện các biện pháp cưỡng chế Trong thời gian qua
kể từ khi chiến tranh lạnh kết thúc, Hội đồng bảo an đã thực hiện vai trò này một cách triệt để trên thực tế
Hình thức trừng phạt kinh tế rất đa
Trang 7dạng và có nhiều mức độ được Liên hợp
quốc pháp điển hoá trong Hiến chương đó
là “cắt đứt toàn bộ hay từng phần quan hệ
kinh tế, đường sắt, đường biển, hàng không,
bưu chính, điện tín, vô tuyến điện và các
phương tiện thông tin khác…” (Điều 41)
Ngoài ra, Hội đồng bảo an có thể sử dụng
lực lượng quân sự nếu thấy “những biện
pháp nói ở Điều 41 là không thích hợp hoặc
tỏ ra không thích hợp, hoặc đã mất hiệu lực”
(Điều 42) Điều đó có nghĩa là các hình thức
cưỡng chế phi quân sự trong đó bao gồm
trừng phạt kinh tế nhất thiết phải được tính
tới và cân nhắc xem xét trước khi đi đến một
quyết định về việc áp dụng một biện pháp
mạnh hơn là trừng phạt bằng vũ trang
Vấn đề khắc phục hậu quả do việc thực
thi các lệnh trừng phạt của Liên hợp quốc
nói chung và trừng phạt kinh tế nói riêng
đã được Hiến chương dự liệu trong một
điều khoản rất logic đó là: “Nếu Hội đồng
bảo an áp dụng những biện pháp đề phòng
hoặc cưỡng chế đối với một quốc gia nào
đó thì bất cứ một quốc gia nào khác dù là
thành viên Liên hợp quốc hay không nếu
gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế, do sự thi
hành những biện pháp nói trên gây ra, có
quyền đề xuất ý kiến lên Hội đồng bảo an
về việc giải quyết những khó khăn ấy”
(Điều 50) Điều này cho thấy Hiến chương
Liên hợp quốc đã nhìn nhận một thực tế là
do có sự gần gũi về mặt địa lí hoặc có
những mối quan hệ kinh tế - chính trị - văn
hoá giữa quốc gia bị trừng phạt với một hay
nhiều quốc gia thứ ba, dẫn đến những quốc
gia thứ ba này có thể bị thiệt hại do hậu quả
của các lệnh trừng phạt kinh tế đối với quốc gia vi phạm Trong trường hợp này, các chủ thể bị “vạ lây” đó sẽ được quyền đề xuất ý kiến và đưa ra giải pháp để giải quyết những khó khăn phát sinh Tuy nhiên, việc xem xét thực hiện như thế nào là do Hội đồng bảo an cân nhắc giải quyết từng trường hợp cụ thể Với việc quy định 13 điều tại chương VII về áp dụng các biện pháp trừng phạt của Liên hợp quốc, cùng với quá trình thực hiện trên thực tế cho thấy các biện pháp trừng phạt kinh tế mà Liên hợp quốc sử dụng đã trở thành công cụ hữu hiệu và phổ biến chấm dứt hành vi vi phạm gây ảnh hưởng đến hoà bình và an ninh thế giới Những tác dụng tích cực mà các biện pháp trừng phạt kinh tế mang lại là không thể phủ nhận nhưng hiệu quả của nó đến đâu vẫn là vấn đề tranh cãi Tuy nhiên, việc Liên hợp quốc áp dụng trừng phạt kinh tế
đã, đang và sẽ góp phần đáng kể vào công cuộc duy trì hoà bình và an ninh thế giới Tóm lại, trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đang diễn ra ngày càng sâu rộng và mạnh mẽ, việc sử dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế quốc tế trong khuôn khổ Hiến chương Liên hợp quốc là cực kì quan trọng và cần thiết Hiệu quả của việc
áp dụng các biện pháp này là không thể phủ nhận Vì vậy, có thể khẳng định vai trò không thể thay thế được của cơ chế áp dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế theo Hiến chương Liên hợp quốc nhằm trừng phạt quốc gia vi phạm, chấm dứt hành vi vi phạm, bảo vệ trật tự quan hệ quốc tế hoà bình và ổn định./