1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận văn thạc sĩ tác động của đa dạng hóa đến giá trị doanh nghiệp nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam , luận văn thạc sĩ

59 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác Động Của Đa Dạng Hóa Đến Giá Trị Doanh Nghiệp - Nghiên Cứu Thực Nghiệm Tại Việt Nam
Tác giả Hoàng Thị Phương Anh
Người hướng dẫn PGS.TS. Phan Thị Bích Nguyệt
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Những nghiên cứu trước đây (12)
    • 1.1. Tác động của đa dạng hóa đến giá trị doanh nghiệp (12)
      • 1.1.1. Chi phí của Đa dạng hóa: Đa dạng hóa làm giảm giá trị doanh nghiệp (0)
      • 1.1.2. Lợi ích của đa dạng hóa: đa dạng hóa làm gia tăng giá trị doanh nghiệp (0)
    • 1.2. Bằng chứng thực nghiệm (18)
      • 1.2.1. Sơ lược về những bằng chứng thực nghiệm trước đây (18)
      • 1.2.2. Giải thích sự gia tăng/giảm giá trị doanh nghiệp của các nghiên cứu (20)
  • 2. Vấn đề nghiên cứu của đề tài (29)
  • 3. Phương pháp nghiên cứu: Chọn mẫu, các biến và mô hình kinh tế (31)
    • 3.1. Chọn mẫu (31)
    • 3.2. Các biến (33)
      • 3.2.1. Biến thể hiện cho giá trị doanh nghiệp (33)
      • 3.2.2. Biến thể hiện cho mức độ đa dạng hóa (35)
      • 3.2.3. Các biến kiểm soát (35)
    • 3.3. Mô hình kinh tế và phương pháp ước lượng (36)
  • 4. Thảo luận kết quả nghiên cứu (36)
    • 4.1. Kết quả từ thống kê mô tả (36)
      • 4.1.1. Kết quả thống kê mô tả giữa công ty đơn ngành và công ty đa ngành (36)
      • 4.1.2. Kết quả thống kê mô tả theo mức độ đa dạng hóa (38)
    • 4.2. kết quả phân tích thực nghiệm (39)
      • 4.2.1. Phân tích mối quan hệ giữa đa dạng hóa và giá trị doanh nghiệp (39)
      • 4.2.2. Phân tích mối quan hệ giữa mức độ đa dạng hóa và giá trị doanh nghiệp (42)
      • 4.2.3. Phân tích các đặc tính của công ty tác động đến việc đa dạng hóa (45)
      • 4.2.4. Tóm tắt kết quả nghiên cứu (49)
      • 4.2.5. Một số các gợi ý chính sách cho việc đa dạng hóa (50)
  • 5. Những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu xa hơn trong tương lai (52)

Nội dung

Phân tích sâu hơn mức độ của đa dạng hóa thì bài nghiên cứu cho thấy rằng khi mức độ đa dạng hóa nhiều từ 4 ngành trở lên thì có một sự gia tăng đáng kể trong chỉ số tobinQ của các công

Những nghiên cứu trước đây

Tác động của đa dạng hóa đến giá trị doanh nghiệp

Trong thị trường vốn hoàn hảo theo giả định của Modigliani-Miller, đa dạng hóa không ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp, và cổ đông có thể tự đa dạng hóa để giảm rủi ro Các lý thuyết phát triển trong nhiều thập kỷ qua tập trung vào các loại chi phí và lợi ích liên quan đến quyết định đa dạng hóa, như chi phí đại diện, đầu tư không hiệu quả do hoạt động rent-seeking, và các hành vi tối đa hóa giá trị có thể làm giảm giá trị doanh nghiệp Lợi ích của đa dạng hóa doanh nghiệp có thể xuất phát từ các lý thuyết về hiệu quả thị trường vốn nội bộ, đồng bảo hiểm nợ, kinh tế do quy mô sản xuất (economies of scope), và gia tăng sức mạnh thị trường, góp phần nâng cao giá trị doanh nghiệp.

1.1.1 Chi phí của việc Đa dạng hóa

Hoạt động rent-seeking là những hoạt động mà các bộ phận trong công ty thực hiện nhằm gia tăng mức xếp hạng tín nhiệm từ người giám sát, nhưng điều này có thể làm giảm giá trị thặng dư của công ty so với các hoạt động khác mà họ có thể thực hiện Thường thì các nhà quản lý dành phần lớn thời gian và nỗ lực để tác động đến việc cải thiện danh tiếng và xếp hạng tín nhiệm, mặc dù điều này không nhất thiết mang lại lợi ích tối đa cho công ty (Prendergast, 1999).

Đa dạng hóa thường dẫn đến giảm giá trị doanh nghiệp vì nó phân tán nguồn lực và sự chú ý khỏi hoạt động chính của công ty, làm giảm hiệu quả quản lý và lợi nhuận Các nghiên cứu cho thấy rằng khi doanh nghiệp mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác nhau, khả năng tập trung vào chiến lược cốt lõi giảm, dẫn đến hiệu suất kém hơn và giá trị giảm theo thị trường Thêm vào đó, đa dạng hóa có thể tạo ra sự phức tạp trong quản lý và điều hành, gây khó khăn trong việc ra quyết định nhanh chóng và chính xác Chính vì vậy, nhiều chuyên gia cho rằng, việc duy trì sự tập trung vào lĩnh vực chủ đạo mới giúp tối ưu hóa giá trị doanh nghiệp hơn là mở rộng đa dạng quá mức.

Lý thuyết đại diện thường được nhấn mạnh trong việc phân tích giảm giá trị doanh nghiệp do đa dạng hóa, xuất phát từ các xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và cổ đông Nhà quản lý thường thực hiện các hoạt động nhằm nâng cao lợi ích riêng của mình, đôi khi gây tổn hại đến lợi ích của cổ đông Jensen (1986) cho rằng các nhà quản lý có xu hướng thâu tóm và quản lý nguồn lực để tăng quy mô cá nhân, điều này giúp họ kiểm soát và củng cố quyền lực cũng như uy tín cá nhân.

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

1.1.1.2 Sự không hiệu quả của thị trường vốn nội bộ

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

Rajan et al (2000) chỉ ra rằng động lực gây ra phân bổ không hiệu quả trong tập đoàn đa dạng hóa xuất phát từ sự đa dạng của các cơ hội đầu tư và nguồn lực các bộ phận Các công ty có hai loại cơ hội đầu tư chính là đầu tư hiệu quả và đầu tư phòng thủ, và thặng dư tạo ra phải được chia sẻ giữa các bộ phận Khi các bộ phận có nguồn lực và cơ hội giống nhau, thặng dư hầu như không khác biệt, khiến các nhà quản lý không có động cơ để đầu tư hiệu quả hơn Ngược lại, khi các bộ phận khác nhau về nguồn lực và cơ hội, các nhà quản lý có xu hướng thực hiện đầu tư phòng thủ để giữ phần thặng dư của mình, gây ra sự không hiệu quả trong phân bổ nguồn lực Trụ sở chính không thể ép các nhà quản lý tuân theo quy tắc chia sẻ, nhưng có thể điều chỉnh việc chuyển vốn để giảm chênh lệch thặng dư giữa các bộ phận, qua đó thúc đẩy các nhà quản lý lựa chọn đầu tư hiệu quả hơn Sự trợ cấp chéo nguồn lực nhằm hạn chế mặt tiêu cực của đầu tư phòng thủ và giảm thiểu sự phân bổ không hiệu quả trong tập đoàn.

Choe và Yin (2009) chỉ ra rằng, giảm giá trị doanh nghiệp của các công ty đa dạng hóa không do phân bổ sai nguồn lực trong thị trường vốn nội bộ, mà xuất phát từ chi phí thuê thông tin mà các giám đốc bộ phận phải trả Các quyết định phân bổ nguồn lực tại trụ sở chính phụ thuộc vào thông tin từ các quản lý bộ phận về tình hình hoạt động của họ Khi bộ phận nhận nhiều nguồn lực hơn, họ có thể thực hiện các hoạt động đầu tư lớn hơn, tạo ra doanh thu cao hơn và mang lại lợi ích lớn hơn cho các quản lý Do đó, các quản lý bộ phận có động cơ che giấu tình trạng thực của bộ phận nhằm duy trì lợi ích cá nhân và tránh mất phần thưởng hoặc nguồn lực.

Choe và Yin (2009) đề xuất rằng thưởng cho những tiết lộ trung thực của nhà quản lý như một hình thức thuê thông tin là cách duy nhất để thu thập thông tin trung thực Họ chỉ ra rằng giá thuê thông tin thường cao hơn trong các tập đoàn lớn so với các công ty nhỏ hoặc đa ngành Cuối cùng, họ lập luận rằng khi chi phí thuê thông tin vượt quá lợi ích từ đầu tư vào các dự án có lợi nhuận ròng dương, các tập đoàn sẽ giảm giá trị dự án (giảm giá trị chiết khấu), còn khi chi phí thấp hơn lợi ích, giá trị của các dự án sẽ tăng lên.

1.1.1.3 Lợi ích của việc đa dạng hóa

1.1.1.4 Sự hiệu quả của thị trường vốn nội bộ

Thị trường vốn bên ngoài thường không hoàn hảo, gây ra chi phí cao cho các doanh nghiệp Chính vì lý do này, nhiều công ty chọn hoạt động trên thị trường vốn nội bộ để giảm thiểu chi phí và tận dụng khả năng kiểm soát tốt hơn Williamson nhấn mạnh rằng thị trường nội bộ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí giao dịch và tối ưu hóa nguồn lực nội bộ.

Các nghiên cứu từ năm 1970 đến 1975 cho thấy rằng các công ty thường đa dạng hóa để tận dụng tối đa các nguồn lực nội bộ thông qua thị trường vốn nội bộ, giúp nâng cao hiệu quả hoạt động Thị trường vốn bên ngoài và nội bộ khác nhau về quyền kiểm soát phần thặng dư trên tài sản của công ty; trong đó, tài trợ bên ngoài như ngân hàng không sở hữu công ty mà họ cho vay, trong khi tài trợ nội bộ, ví dụ như từ trụ sở chính, sở hữu và kiểm soát phần thặng dư này.

Gertner et al (1994) chỉ ra rằng việc tài trợ nội bộ đem lại nhiều lợi ích cho công ty, bao gồm thúc đẩy giám sát chặt chẽ hơn và tối ưu hóa việc sử dụng tài sản Giám sát tốt hơn giúp đảm bảo lợi nhuận cao hơn trong tương lai, vì theo lý thuyết của Alchian, các công ty ưu tiên nguồn vốn nội bộ do nó tạo ra sự hợp tác hiệu quả hơn trong việc chia sẻ thông tin giữa nhà cung cấp và người sử dụng khoản vốn Ngoài ra, các công ty đa dạng hóa có khả năng sử dụng tài sản của mình tốt hơn, đặc biệt khi những đơn vị yếu kém có thể chuyển giao tài sản cho các bộ phận khác để sử dụng hiệu quả hơn Trong khi đó, đối với các công ty hoạt động đơn ngành gặp khó khăn, tài sản của họ không thể chuyển nhượng dễ dàng mà phải bán đi với giá trị thấp hơn, gây thiệt hại về mặt tài chính.

Lý thuyết "winner-picking" của Stein (1997) cho thấy các công ty đa dạng hóa có thể tạo ra giá trị bằng cách cho phép trụ sở chính kiểm soát các nguồn tài nguyên và nhận lợi ích riêng từ các dự án được kiểm soát Trụ sở chính sẽ thu lợi nhiều hơn từ các dự án có lợi nhuận cao, thúc đẩy họ thực hiện các dự án mang lại lợi nhuận lớn hơn để tăng lợi ích riêng Ngoài ra, trụ sở chính có thể chuyển nguồn lực từ bộ phận này sang bộ phận khác nơi lợi nhuận cao hơn hoặc dùng tài sản của bộ phận làm tài sản thế chấp để tăng cường tài trợ, nhằm tối đa hóa lợi ích và giá trị doanh nghiệp.

Bằng chứng thực nghiệm

1.2.1 Sơ lược về những bằng chứng thực nghiệm trước đây

Bảng 1.1: Thể hiện những nghiên cứu thực nghiệm chính và kết quả họ tìm được trong bài nghiên cứu:

Theo Edwards (1955), giả thuyết về sự nhường nhịn lẫn nhau trong tình trạng cạnh tranh đa thị trường cho rằng các công ty tập đoàn hoạt động trên nhiều thị trường đã hình thành triết lý "sống và để sống" Bất kỳ hành động không hợp lệ nào của một công ty trong một thị trường cụ thể đều có thể kích hoạt phản ứng trả đũa tại các thị trường khác, nơi công ty đó dễ bị tổn thương hơn Điều này dẫn đến việc sự phổ biến của các công ty tập đoàn có thể làm giảm cạnh tranh ngay cả trong các thị trường có cấu trúc tương đối cạnh tranh.

Tác giả Thời gian nghiên cứu Đất nước nghiên cứu

1978-1990 Mỹ File Thông tin doanh nghiệp của

1986-91 Mỹ Dữ liệu phân khúc ngành của

1961-1976 Mỹ Compustat, Dun & Bradstreet‟s Million

Giảm giá mạnh ở thập niên

1960 Không giảm giá ở thập niên

Cơ sở dữ liệu Worldscope Không giảm giá ở Đức

Giảm ở Anh và nhật Khanna and

1993 Ấn Độ Trung tâm giám sát kinh tế Ấn Độ và thị trường chứng khoán Bombay Gia tăng

Bernardo et al 1980-1998 Mỹ Compusat, CRSP Giảm giá

1985-1994 Mỹ Dữ liệu phân khúc ngành của compustat Giảm giá

Cơ sở dữ liệu Worldscope Giảm giá

1978-1995 Mỹ Dữ liệu phân khúc ngành Compustat, dữ liệu chứng khoán, dữ liệu các công ty mua lại và sáp nhập

1978-1996 Mỹ Dữ liệu phân khúc ngành của compustat Giảm giá ngay lập tức và gia tăng về sau Schoar (2002) 1987 Mỹ Cơ sở dữ liệu nghiên cứu theo chiều dọc

(LRD) tại Cục điều tra dân số Hoa Kỳ

Gia tăng khi đo lường bằng lợi nhuận và giảm giá khi đo lường bằng giá trị tăng thêm Mansi và

1988-1999 Mỹ Công bố cơ sở dữ liệu Worldscope, cơ sở dữ liệu thu nhập cố định của Lehman Brothers

Giảm giá ngay lập tức nhưng nó biến mất sau đó

1988-1998 Úc Files báo cáo thường niên của AGMS,

Kết nối 4 cơ sở dữ liệu, dòng dữ liệu

Giảm giá ngay lập tức nhưng nó biến mất sau đó Villalonga(20

1989-1996 Mỹ Chuỗi theo dõi thông tin doanh nghiệp

Gia tăng khi dùng dữ liệu BIT, giảm giá khi dùng

Nhiều nghiên cứu tại các công ty Mỹ đã cho thấy kết quả hỗn hợp về tác động của đa dạng hóa doanh nghiệp Các học giả như Lang và Stulz (1994), Berger và Ofek (1995), Bernardo et al (2000), Anderson et al (2000) và Graham et al (2002) phát hiện rằng đa dạng hóa làm giảm giá trị doanh nghiệp, dựa trên dữ liệu từ COMPUSTAT trong giai đoạn 1978-1998 Trong khi đó, Servaes (1996) nghiên cứu từ năm 1961 đến 1976 và nhận thấy giảm giá trị doanh nghiệp trong thập niên 1960, nhưng ảnh hưởng này biến mất vào thập niên 1970 Các kết quả này cho thấy mối quan hệ phức tạp giữa đa dạng hóa và giá trị doanh nghiệp tại thị trường Mỹ qua các thời kỳ khác nhau.

Năm 2002, Mansi & Reeb đã phát hiện ra rằng giá trị doanh nghiệp giảm trong giai đoạn đầu của nghiên cứu, nhưng cuối cùng sự giảm giá trị này biến mất hoặc chuyển thành sự tăng trưởng Schoar (2002) cũng ghi nhận cả sự giảm và tăng giá trị doanh nghiệp, sử dụng hai phương pháp khác nhau dựa trên dữ liệu từ cơ sở dữ liệu nghiên cứu theo chiều dọc (LRD) của Cục điều tra dân số.

Các nghiên cứu về tác động của đa dạng hóa doanh nghiệp đối với giá trị doanh nghiệp tại Mỹ cho thấy kết quả không đồng nhất Mỹ Villalonga (2004) phát hiện sự gia tăng giá trị doanh nghiệp khi sử dụng Chuỗi theo dõi thông tin doanh nghiệp (BIT), nhưng lại ghi nhận giảm giá trị khi dựa trên dữ liệu từ COMPUSTAT giai đoạn 1989-1996 Trong khi đó, He, Xi (2009) sử dụng dữ liệu COMPUSTAT và nhận thấy giá trị doanh nghiệp giảm trước năm 1997, sau đó tăng trưởng sau năm 1997 Các nghiên cứu này cho thấy chưa thể kết luận rõ ràng về ảnh hưởng của đa dạng hóa doanh nghiệp đến giá trị doanh nghiệp tại Mỹ, và những khác biệt trong kết quả có thể xuất phát từ phương pháp luận hoặc nguồn dữ liệu sử dụng khác nhau.

Nghiên cứu quốc tế cho thấy rằng đa dạng hóa có ảnh hưởng khác nhau đến giá trị doanh nghiệp tùy thuộc vào quốc gia, với một số nước như Nhật Bản, Vương quốc Anh, Hồng Kông và Ấn Độ, đa dạng hóa làm giảm giá trị doanh nghiệp Các công trình của Lins và Servaes (1999, 2002) đã chỉ ra rằng trong các công ty tại những thị trường này, đa dạng hóa thường có tác dụng tiêu cực đến giá trị doanh nghiệp Trong khi đó, một số nghiên cứu khác như của Lee et al đã xác nhận mối quan hệ này dựa trên dữ liệu từ compustat Những kết quả này làm nổi bật sự khác biệt về tác động của đa dạng hóa đối với giá trị doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau, phù hợp với các điều kiện kinh tế và quản trị riêng biệt của từng thị trường.

1984-1996 Hàn Quốc KFTC, KSE, Ngân hàng Hàn Quốc,

Dịch vụ Giám sát tài chính

Gia tăng ban đầu nhưng biến thành giảm giá theo thời gian

Mỹ Compustat Giảm giá khi sử dụng dữ liệu trước năm 1997 và gia tăng khi sử dụng dữ liệu sau năm

Nghiên cứu quốc tế chỉ ra rằng tác động của đa dạng hóa doanh nghiệp đến giá trị công ty phụ thuộc vào từng quốc gia và điều kiện thể chế Các công ty tại Indonesia, Malaysia, Singapore, Hàn Quốc và Thái Lan cho thấy đa dạng hóa thường làm tăng giá trị, trong khi tại Đức lại không thấy hiện tượng này Khanna và Palepu (2000) khẳng định rằng đa dạng hóa gia tăng giá trị doanh nghiệp tại Ấn Độ, trong khi Lins và Servaes (2002) lại chứng minh ngược lại dựa trên dữ liệu khác Fleming et al (2003) phát hiện các công ty đa dạng hóa của Úc giảm giá trị trong giai đoạn 1988-1998, nhưng chỉ khi loại bỏ các công ty hiệu suất thấp khỏi mẫu Nghiên cứu của Lee et al (2008) cho thấy các công ty Hàn Quốc ban đầu tăng giá trị sau khi đa dạng hóa, nhưng theo thời gian, giá trị này giảm Những khác biệt này phản ánh ảnh hưởng của thể chế, phương pháp nghiên cứu, nguồn dữ liệu và quá trình chọn mẫu trong các nghiên cứu về hiệu quả đa dạng hóa doanh nghiệp.

1.2.2 Giải thích sự gia tăng/giảm giá trị doanh nghiệp của các nghiên cứu

Các nghiên cứu hiện tại chưa đủ để kết luận rõ ràng về tác động của đa dạng hóa công ty đối với giá trị doanh nghiệp Việc phân tích kỹ các yếu tố ảnh hưởng trong các nghiên cứu này là vô cùng quan trọng để đưa ra các chiến lược phù hợp Nếu xác định được các yếu tố gây giảm giá trị doanh nghiệp do đa dạng hóa, các công ty có thể áp dụng các biện pháp hạn chế để tăng giá trị doanh nghiệp của mình Ngược lại, nếu các yếu tố thúc đẩy tăng giá trị doanh nghiệp từ đa dạng hóa được xác định rõ ràng, các công ty đa dạng hóa có thể tận dụng để nâng cao giá trị của họ Bài viết này sẽ trình bày cách các tác giả lý giải và diễn giải các kết quả nghiên cứu của họ về vấn đề này.

Lang và Stultz (1994) giải thích sự giảm giá trị của đa dạng hóa qua hiệu ứng ngành, quy mô, tiếp cận thị trường vốn, mật độ nghiên cứu và phát triển, cùng với lý thuyết thị trường vốn nội bộ Hiệu ứng ngành giải thích mối tương quan nghịch giữa hệ số Tobin Q và mức độ đa dạng hóa, khi các công ty đa dạng hóa tập trung trong các ngành có ít cơ hội tăng trưởng Dù hiệu ứng ngành làm giảm giá trị doanh nghiệp, nghiên cứu cho thấy sự đa dạng hóa vẫn còn tác động tiêu cực đến giá trị doanh nghiệp ngay cả sau khi đã điều chỉnh hiệu ứng này Do đó, ảnh hưởng của ngành không thể hoàn toàn giải thích tại sao đa dạng hóa làm giảm giá trị doanh nghiệp, mà cần xem xét các biến như quy mô, tiếp cận thị trường vốn và mật độ nghiên cứu phát triển ảnh hưởng đến hệ số Tobin Q.

Berger và Ofek (1995) lập luận rằng đầu tư quá mức và trợ cấp chéo góp phần làm giảm giá trị của đa dạng hóa doanh nghiệp Họ cũng chỉ ra rằng lợi ích thuế từ đa dạng hóa có thể giảm thiểu tác động tiêu cực này, trong khi đầu tư quá mức được đo lường qua chi tiêu vốn trong tất cả các ngành hoạt động của công ty, đặc biệt khi chỉ số Tobin Q trung bình dưới 0,76 và tỷ lệ này được điều chỉnh theo doanh số bán hàng Giá trị cao hơn của đầu tư quá mức thường liên quan đến các khoản đầu tư không sinh lợi, gây ảnh hưởng tiêu cực đến giá trị doanh nghiệp Mối quan hệ nghịch chiều giữa đầu tư quá mức và giá trị doanh nghiệp cho thấy rằng, càng đầu tư quá mức thì giá trị gia tăng của các công ty đa ngành sẽ thấp hơn so với các công ty đơn ngành.

Một lý do phổ biến để giải thích mất giá trị của các công ty đa dạng hóa là hiện tượng trợ cấp chéo, nơi các ngành hoạt động kém trong công ty đa ngành được hỗ trợ bởi các ngành hoạt động hiệu quả hơn, dẫn đến giảm giá trị doanh nghiệp Berger và Ofek (1995) sử dụng dòng tiền âm như một chỉ số cho hiệu quả hoạt động kém, và nghiên cứu của họ cho thấy rằng sự hiện diện của các đơn vị có dòng tiền âm trong các công ty đa dạng hóa làm giảm đáng kể giá trị của doanh nghiệp so với các công ty chỉ hoạt động trong một ngành Điều này phản ánh rằng các ngành kém hiệu quả trong một công ty đa ngành sẽ lấy đi nguồn lực từ các ngành khác, kéo theo sự giảm sút giá trị tổng thể của doanh nghiệp.

Việc gia tăng khả năng vay nợ và giảm thuế thanh toán có thể giúp giảm thiểu mất giá trị từ việc đa dạng hóa doanh nghiệp Khi các công ty đa dạng hóa hoạt động trong các ngành có tỷ suất sinh lợi khác nhau, khả năng vay nợ của họ sẽ tăng lên, từ đó tăng khả năng tận dụng tấm chắn thuế từ vay nợ Ngoài ra, các công ty đa dạng hóa có thể bù đắp các khoản lỗ của một số ngành bằng lợi nhuận từ các ngành khác, tạo ra lợi thế về thuế cho toàn bộ doanh nghiệp.

Servaes (1996) chỉ ra rằng các công ty có quyền sở hữu nội bộ thấp thích đa dạng hóa hơn trong giai đoạn 1961-1970, nhưng từ năm 1970 trở đi, khi quyền sở hữu nội bộ gia tăng và giá trị doanh nghiệp giảm do đa dạng hóa giảm xuống, ông kết luận rằng các doanh nghiệp có quyền sở hữu nội bộ cao hơn lựa chọn đa dạng hóa khi không gặp vấn đề về tài chính Nghiên cứu của Servaes giúp giải thích tại sao các công ty thích đa dạng hóa trong giai đoạn ông nghiên cứu, nhưng không thể lý giải nguyên nhân ban đầu khiến giá trị doanh nghiệp giảm và sau đó tăng khi đa dạng hóa trở lại.

Lins và Servaes (1999) giải thích rằng sự giảm giá trị của đa dạng hóa tại Đức, Nhật Bản và Vương quốc Anh phụ thuộc vào cấu trúc sở hữu và thành viên nhóm công nghiệp Quyền sở hữu tập trung cao nhất ở Đức và thấp nhất ở Anh, trong khi đa dạng hóa làm giảm giá trị doanh nghiệp ở Đức khi quyền sở hữu nội bộ của công ty chiếm dưới 5%, còn tại Nhật Bản và Vương quốc Anh thì không ảnh hưởng rõ rệt Đặc biệt, các công ty Nhật Bản thường liên kết với các nhóm công nghiệp gọi là keiretsu, và nghiên cứu cho thấy thành viên trong nhóm này ảnh hưởng đến mức giảm giá trị doanh nghiệp do đa dạng hóa, khi các công ty có liên kết mạnh mẽ vào nhóm thì giá trị doanh nghiệp giảm khoảng 30% Các kết quả này nhấn mạnh vai trò quan trọng của cấu trúc quản trị doanh nghiệp trong việc xác định tác động của đa dạng hóa đến giá trị, đồng thời cũng cho thấy không có một mô hình cố định nào áp dụng chung cho các quốc gia khác nhau.

Các doanh nghiệp Ấn Độ thường mang đặc điểm của cả tập đoàn và hiệp hội LBO, mang lại cả chi phí và lợi ích khi liên kết nhóm Liên kết nhóm đặc biệt có lợi tại các thị trường mới nổi như Ấn Độ, nơi mà thị trường thường thất bại do các vấn đề về thông tin, đại diện và các định chế trung gian như phân tích tài chính, quỹ hỗ trợ, ngân hàng đầu tư, nhà đầu tư mạo hiểm và tạp chí tài chính còn yếu kém Trong bối cảnh này, các doanh nghiệp thuộc nhóm lớn, đa dạng hóa, có thể đóng vai trò như trung gian giữa các doanh nghiệp riêng lẻ và thị trường không hoàn hảo, giúp giảm thiểu các hạn chế và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh (Khanna và Palepu, 2000).

Khanna và Palepu (2000) xác định rằng hiệu quả hoạt động của liên kết nhóm bị ảnh hưởng bởi ba yếu tố chính: khả năng tiếp cận thị trường vốn quốc tế và các đối tác liên doanh, mức độ bảo thủ của chủ sở hữu nội bộ, cùng với việc tài trợ qua các thị trường vốn nội bộ Họ phát hiện rằng các doanh nghiệp có khả năng tiếp cận thị trường vốn quốc tế tốt hơn và quyền sở hữu nội bộ có mối tương quan tích cực với hiệu suất của cả liên kết và công ty không liên kết Ngoài ra, thị trường vốn nội bộ cho thấy mức nhạy cảm đầu tư ngang nhau giữa các công ty liên kết và không liên kết Các kết quả này cho thấy rằng sự đa dạng hóa hoạt động không chỉ bị ảnh hưởng bởi bối cảnh thể chế mà còn bởi sự khác biệt trong cấu trúc tổ chức của doanh nghiệp.

Vấn đề nghiên cứu của đề tài

Trong nền kinh tế hiện đại, đa dạng hóa đầu tư đã trở thành xu hướng phát triển ngày càng rõ nét của các tập đoàn kinh tế trên toàn thế giới, bao gồm cả Việt Nam Đa dạng hóa đầu tư giúp các doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro, mở rộng cơ hội tăng trưởng và nâng cao khả năng cạnh tranh Xu hướng này dự kiến sẽ tiếp tục duy trì và phát triển mạnh mẽ trong tương lai, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam.

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, sự gia tăng mạnh của dòng vốn đầu tư vào Việt Nam đã thúc đẩy hình thành nhiều ngành nghề mới và khai thác tiềm năng chưa được tận dụng triệt để Đây là cơ hội lớn cho doanh nghiệp tham gia và mở rộng trong các lĩnh vực đầu tư mới, tuy nhiên cũng đặt ra nhiều thách thức và rủi ro Hoạt động đa ngành mang lại lợi ích khi doanh nghiệp đi đúng hướng và đầu tư hiệu quả, giúp nâng cao vị thế và đạt mục tiêu phát triển Ngược lại, nếu đầu tư không có kế hoạch, mang tính đầu cơ hoặc khai thác các cơ hội ngắn hạn không bền vững, sẽ làm suy giảm thương hiệu và gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp cũng như nền kinh tế.

Khi đa dạng hóa đầu tư, đặc biệt trong các lĩnh vực mới mẻ, doanh nghiệp dễ mất đi lợi thế cạnh tranh vốn có do phân tán nguồn lực và thiếu kỹ năng thẩm định công nghệ Việc kiểm soát vốn hoạt động đa ngành vô cùng phức tạp, dễ dẫn đến thất thoát, lãng phí và tiềm ẩn nguy cơ tài chính vỡ nợ Đầu tư dàn trải trong các lĩnh vực mới còn buộc doanh nghiệp phải vay vốn với điều khoản khắt khe, dễ đẩy doanh nghiệp vào bẫy nợ nần, đặc biệt khi khả năng tài chính còn hạn chế.

Khi doanh nghiệp mở rộng sang lĩnh vực mới, nguồn lực và tài chính bị phân tán, có thể làm giảm năng lực cạnh tranh và làm mờ thương hiệu truyền thống Ví dụ, REE mất vị trí hàng đầu trong cơ điện lạnh sau khi chuyển sang kinh doanh địa ốc, còn Vinamilk gặp phản đối khi liên doanh với SAB Miller do lo ngại ảnh hưởng đến thương hiệu Các cổ phiếu nổi bật như KDC, VNM, FPT và Đạm Phú Mỹ đều giảm giá mạnh, cho thấy rằng mở rộng ngành nghề không phải là yếu tố duy nhất ảnh hưởng đến giá cổ phiếu Thậm chí các doanh nghiệp chỉ tập trung vào một lĩnh vực cũng không tránh khỏi xu hướng giảm, như Đạm Phú Mỹ Thành công của Dệt Thành Công trong việc đa dạng hóa lĩnh vực và của Samsung trên nhiều ngành như chip nhớ, hàng tiêu dùng, ô tô, xây dựng, tài chính, giải trí minh chứng cho việc đa dạng hóa mang lại giá trị bền vững và tăng trưởng lợi nhuận.

Dựa trên các bằng chứng đã trình bày, câu hỏi đặt ra là liệu đa dạng hóa thực sự làm tăng hay giảm giá trị doanh nghiệp Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã cố gắng xác định mối tương quan giữa đa dạng hóa và giá trị doanh nghiệp, tuy nhiên chưa có câu trả lời chung nhất về vấn đề này Do đó, bài nghiên cứu này sẽ tập trung kiểm tra tác động của đa dạng hóa đối với giá trị doanh nghiệp thông qua ba câu hỏi chính.

Nghiên cứu của Sheng-Syan Chen và Kim Wai Ho tại Singapore cho thấy rằng khi so sánh hệ số Tobin’s Q giữa các công ty đơn ngành và đa ngành, hệ số Tobin’s Q của các công ty đơn ngành cao hơn, khoảng 20% so với các công ty đa ngành, phản ánh rằng đa dạng hóa tác động tiêu cực đến giá trị doanh nghiệp Trong khi đó, nghiên cứu của Khanna và Palepu tại Ấn Độ chỉ ra rằng chỉ số Tobin’s Q của các công ty liên kết tốt hơn so với các công ty đơn ngành, cho thấy mối liên hệ tích cực giữa đa dạng hóa và giá trị doanh nghiệp Vậy, câu hỏi đặt ra là tại thị trường Việt Nam, mặc dù chưa có nhiều nghiên cứu đo lường về đa dạng hóa doanh nghiệp, liệu xu hướng này có phản ánh tương tự như các nghiên cứu quốc tế hay không? Hay nói cách khác, liệu có mối liên hệ rõ ràng giữa đa dạng hóa và giá trị doanh nghiệp tại Việt Nam hay không?

Nghiên cứu của Khanna về thị trường Ấn Độ cho thấy, mức độ đa dạng hóa tác động như thế nào đến giá trị doanh nghiệp phụ thuộc vào mức độ đa dạng hóa của công ty Cụ thể, các công ty có mức độ đa dạng hóa cao (từ 4 ngành trở lên) cho thấy ảnh hưởng rõ ràng đến giá trị doanh nghiệp, trong khi đó, các doanh nghiệp đa dạng hóa thấp hoặc đơn ngành không có sự khác biệt đáng kể về giá trị Điều này cho thấy, đa dạng hóa mang lại lợi ích lớn hơn cho giá trị doanh nghiệp khi đạt đến một mức độ nhất định.

Thứ ba: Các đặc tính của công ty có tác động như thế nào đến quyết định đa dạng hóa của doanh nghiệp?

Phương pháp nghiên cứu: Chọn mẫu, các biến và mô hình kinh tế

Chọn mẫu

Bài nghiên cứu tập trung phân tích các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE), sử dụng dữ liệu bảng không cân đối từ năm 2008 đến 2011 Để có dữ liệu đầy đủ, tác giả truy cập website của HOSE nhằm thu thập danh sách các công ty hiện đang niêm yết, sau đó áp dụng phương pháp chọn mẫu của Berger và Ofek (1995) Phương pháp này loại bỏ các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính và các công ty có doanh thu thuần âm, nhằm xây dựng bộ dữ liệu đầy đủ gồm 872 quan sát theo năm, phù hợp với tiêu chí nghiên cứu và dễ so sánh với các nghiên cứu trước đây.

Bảng 3.1: Sự phân bổ trong mẫu quan sát của các công ty theo năm giữa công ty đơn ngành và công ty đa dạng hóa

Năm Số cty Đơn ngành Số cty Đa ngành Tổng cộng

Tôi phân ngành cho các công ty dựa trên tiêu chí phân ngành của HOSE Các công ty hoạt động trong hai ngành trở lên theo bảng phân ngành sẽ được xếp vào nhóm công ty đa ngành, còn những công ty chỉ hoạt động trong một ngành sẽ được xếp vào nhóm công ty đơn ngành Phương pháp này giúp định hướng rõ ràng về cơ cấu hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp.

Bảng 3.2: Danh sách phân ngành của HOSE, theo định nghĩa của VSIC 2007

Nhóm Ngành cấp 1 Nhóm chính ( theo mã ngành cấp 3 của VSIC)

A Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản

Trồng cây lâu năm (12), Nhân và chăm sóc cây giống nông nghiệp (13)

Ngành khai khoáng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực khai thác quặng kim loại quý hiếm như vàng, bạc, bạch kim (73) Ngoài ra, hoạt động khai thác đá, cát, sỏi, đất sét góp phần cung cấp nguyên liệu xây dựng và vật liệu phục vụ sản xuất xây dựng (81) Bên cạnh đó, dịch vụ hỗ trợ khai thác dầu thô và khí tự nhiên đóng vai trò thúc đẩy ngành công nghiệp năng lượng phát triển bền vững (91).

C Công nghiệp chế biến chế tạo

Chế biến và bảo quản thủy sản cùng các sản phẩm từ thủy sản (102) đóng vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp thực phẩm, đảm bảo chất lượng và an toàn cho người tiêu dùng Ngoài ra, sản xuất thực phẩm khác (107) và sản xuất sản phẩm từ nhựa (202) góp phần đa dạng hóa thị trường và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng Các dịch vụ in ấn và liên quan (181) cũng đóng vai trò hỗ trợ trong việc quảng bá, in ấn bao bì và nhãn mác sản phẩm thủy sản và thực phẩm, góp phần nâng cao thương hiệu và khả năng tiếp cận thị trường.

D Sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hóa không khí

Sản xuất và phân phối điện (351)

Chúng tôi chuyên xây dựng các loại nhà ở và công trình dân dụng, đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng Ngoài ra, công ty còn thi công các công trình đường sắt và đường bộ, đảm bảo tiến độ và chất lượng cao Chúng tôi also cung cấp dịch vụ lắp đặt hệ thống điện, cấp thoát nước, và các hệ thống xây dựng khác nhằm đảm bảo công trình hoạt động hiệu quả Bên cạnh đó, chúng tôi còn kinh doanh buôn bán máy móc, thiết bị và phụ tùng máy móc chuyên dụng, phục vụ các dự án xây dựng và công nghiệp.

G Bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ôtô, môtô, xe máy

Bán buôn chuyên doanh khác(466), Bán lẻ nhiên liệu động cơ trong các cửa hàng chuyên doanh (472), Bán buôn máy móc, thiết bị và phụ tùng máy (465)

Hóa hoạt động dịch vụ hỗ trợ vận tải như vận tải ven biển và viễn dương, vận tải đường bộ khác, cùng với dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa đóng vai trò quan trọng trong chuỗi logistics Các ngành này đảm bảo sự liên tục và hiệu quả trong quá trình vận chuyển và lưu trữ hàng hóa, đáp ứng nhu cầu vận chuyển trong nước và quốc tế Đầu tư vào dịch vụ này giúp nâng cao hiệu suất vận tải, giảm thiểu thời gian và chi phí, đồng thời thúc đẩy hoạt động thương mại và phát triển kinh tế địa phương.

I Dịch vụ lưu trú và ăn uống

Dịch vụ lưu trú ngắn ngày (551)

J Thông tin và truyền thông

Lập trình máy vi tính, dịch vụ tư vấn và các hoạt động khác liên quan đến máy tính (620)

K Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm

Trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, các hoạt động như hoạt động trung gian tiền tệ (641), hoạt động công ty nắm giữ tài sản, và các dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm và bảo hiểm xã hội – mã số 649, 651) đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ phát triển nền kinh tế Những dịch vụ này giúp thúc đẩy dòng chảy tiền tệ, quản lý tài sản hiệu quả và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và cá nhân tiếp cận các dịch vụ tài chính khách quan và an toàn.

L Hoạt động kinh doanh bất động sản

Kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sở hữu, chủ sử dụng hoặc đi thuê (681)

M Hoạt động chuyên môn, khoa học, công nghệ

Hoạt động kiến trúc và tư vấn kỹ thuật có liên quan

Để phân ngành chính xác hơn, bài viết căn cứ vào thuyết minh ngành nghề hoạt động của công ty Nếu công ty hoạt động đa ngành nhưng doanh thu từ các ngành khác chiếm tỷ trọng nhỏ so với ngành được niêm yết trên HOSE, công ty đó vẫn được xem như là công ty đơn ngành Việc kiểm tra và phân tích kỹ thuật cũng hỗ trợ xác định chính xác lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp.

Bảng 3.3 trình bày thống kê mô tả các biến chính liên quan đến đặc điểm tài chính của các doanh nghiệp trong mẫu, sau khi loại bỏ các sai lệch Kết quả phân tích cho thấy dữ liệu tài chính của các công ty có sự phân tán lớn, thể hiện qua các biến như quy mô (tổng tài sản và doanh thu), giá trị thị trường (quy mô vốn hóa và cấu trúc nợ), và hiệu quả hoạt động (EBIT).

Các biến Mean Median Maximum Minimum Std Dev

TOTAL_SALES 1,718,850 746,046 36,910,829 17,911.25 3,204,823.00 TOTAL_DEBT 3,214,062 421,432.4 287,000,000 662.09 18,701,396 TOTAL_ASSETS 4,467,900 785,814 367,000,000 16,956.0 22,632,867 MARKET_CAP 1,886,960 347,626.50 69,695,974 12,610.5 5,909,871 EBIT 214,896 61,523.41 5,697,405 (619,752.00) 542,228.40

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp

Các biến

3.2.1 Biến thể hiện cho giá trị doanh nghiệp

Trong bài nghiên cứu này, tôi tập trung vào mối quan hệ giữa giá trị doanh nghiệp và chiến lược đa dạng hóa của các công ty Phương pháp đánh giá giá trị doanh nghiệp được sử dụng bao gồm cả phương pháp giá trị thị trường (tobinQ) và phương pháp kế toán (ROA), dựa trên nghiên cứu của Khanna và Palepu (2000) Các phân tích này giúp làm rõ tác động của chiến lược đa dạng hóa đến giá trị doanh nghiệp.

 Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA)

ROA (Tỷ số sinh lợi trên tổng tài sản) đo lường khả năng của công ty trong việc sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập, bất kể nguồn vốn huy động từ đâu Đây là chỉ số phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh và bán hàng của doanh nghiệp, kết nối kết quả kinh doanh với hoạt động đầu tư của công ty ROA không tính đến phương thức huy động vốn, giúp đánh giá chính xác khả năng sinh lợi từ tài sản của doanh nghiệp Tỷ lệ này được tính bằng cách chia lợi nhuận sau thuế hoặc kết quả kinh doanh cho tổng tài sản, thể hiện rõ hiệu quả sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận.

ROA được tính bằng cách sử dụng thu nhập trước khi phân phối cho người cung cấp vốn, giúp phản ánh hiệu quả hoạt động của công ty Vì các công ty tính thuế dựa trên thu nhập ròng sau khi trừ chi phí lãi vay, nhà phân tích cần cộng lại chi phí lãi vay vào thu nhập ròng để có được số liệu phù hợp cho tính toán ROA Chi phí lãi vay không làm giảm thu nhập ròng sau thuế vì có thể được khấu trừ trong thuế thu nhập, do đó, để chính xác, nhà phân tích đã cộng lại khoản lãi vay đã khấu thuế nhưng đã tiết kiệm được nhờ lợi ích của việc khấu trừ này.

TobinQ là tỷ lệ phản ánh giá trị thị trường của doanh nghiệp so với giá trị sổ sách của tổng tài sản, được tính bằng công thức (giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu + giá trị sổ sách của vốn cổ phần ưu đãi + giá trị sổ sách của nợ) chia cho giá trị sổ sách của tổng tài sản Giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu được xác định bằng cách nhân giá cổ phiếu đóng cửa cuối cùng của ngày giao dịch với số lượng cổ phần đang lưu hành TobinQ giúp đo lường tác động của giá trị vốn trong các chiến lược kinh doanh, bao gồm cả quyết định đa dạng hóa hoặc tập trung vào một ngành duy nhất Giá trị của chiến lược đa dạng hóa được đánh giá dựa trên mức độ lớn hơn hoặc nhỏ hơn của TobinQ của các công ty đa ngành so với các công ty hoạt động trong ngành đơn lẻ.

3.2.2 Biến thể hiện cho mức độ đa dạng hóa Để đánh giá mức độ đa dạng hóa thì có 2 cách chính như sau:

Các công ty đa dạng hóa được xác định bằng cách xây dựng biến giả (dummyDIVER), trong đó biến này nhận giá trị bằng 1 khi doanh nghiệp hoạt động trong ít nhất hai ngành khác nhau, thể hiện tính đa ngành của doanh nghiệp Ngược lại, nếu doanh nghiệp chỉ hoạt động trong một ngành duy nhất, biến giả này sẽ nhận giá trị là 0, giúp phân loại các công ty theo mức độ đa dạng hóa ngành nghề của họ.

Cách thứ 2: ước tính phạm vi đa dạng hóa bởi: chỉ số Herfindahl (Hirschman,

1964) và đo lường bởi ENTROPY(Jacquemin và Berry, 1979)

Chỉ số Herfindahl được tính toán như sau HERF = 1- ∑

Trong phân tích ngành nghề, n đại diện cho số lượng công ty, P_i là tỷ trọng doanh thu của ngành i trong tổng doanh thu của công ty W_i thường bằng với P_i, phản ánh mối liên hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến doanh thu Chỉ số HERF được tính bằng công thức HERF = 1 - ∑(P_i^2), trong đó HERF gần bằng 1 đối với các công ty đa dạng hóa ngành nghề và gần bằng 0 đối với các công ty hoạt động trong một ngành duy nhất Chỉ số này giúp đánh giá mức độ đa dạng hóa của doanh nghiệp, hỗ trợ các nhà phân tích hiểu rõ hơn về chiến lược phát triển của công ty trong ngành. -**Sponsor**Bạn là một content creator và cần trợ giúp viết lại bài viết tuân thủ SEO? Với [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/EWhhhjnE?user_id=983577), bạn có thể tạo ra các bài viết SEO-optimized 2.000 từ một cách nhanh chóng, giúp bạn tiết kiệm hơn $2.500 mỗi tháng so với việc thuê người viết! Nó giống như có một đội ngũ nội dung riêng mà không gặp rắc rối Hãy để công cụ này giúp bạn chọn lọc và diễn đạt lại các ý chính trong đoạn văn của bạn một cách mạch lạc và chuẩn SEO.

Do đặc điểm dữ liệu thị trường Việt Nam, việc thu thập đầy đủ số liệu doanh thu của từng ngành riêng lẻ gặp nhiều hạn chế, khiến việc đo lường đa dạng hóa theo phương pháp thứ hai trở nên không khả thi Do đó, trong mô hình này, tôi lựa chọn sử dụng phương pháp thứ nhất để đánh giá mức độ đa dạng hóa, đảm bảo tính chính xác và phù hợp với đặc điểm dữ liệu của thị trường.

Trong nghiên cứu này, tôi sử dụng các biến kiểm soát có khả năng tác động tới Tobin's Q và ROA, dựa trên các nghiên cứu trước như của Berger và Ofek (1995), Campa và Kedia (2002), Khanna và Palepu (2000) Các biến kiểm soát bao gồm đòn bẩy tài chính, quy mô doanh nghiệp, lợi nhuận và đầu tư Đòn bẩy tài chính được đo bằng tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng tài sản (LDTA), trong khi quy mô doanh nghiệp được tính bằng logarit của giá trị sổ sách tổng tài sản (SIZE) Lợi nhuận được xác định bằng EBIT trên doanh thu (EBIT/Sales), còn đầu tư được đo bằng tỷ lệ chi tiêu vốn trên doanh thu (CAPX/SALES).

Mô hình kinh tế và phương pháp ước lượng

πit= α + β1* dummyDIVERit + β 2 * LDTAit + β 3 * EBITsalesit + β 4 * SIZEit +β 5 *CAPXsalesit + νit

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng các chỉ số như π là Tobin's Q hoặc ROA để đánh giá hiệu quả hoạt động của các công ty Dữ liệu bao gồm 291 công ty và giai đoạn từ năm 2008 đến 2011, với các biến số được ước lượng thông qua hệ số α và βj, cùng với sai số ngẫu nhiên νit Phương pháp phân tích này giúp làm rõ mối quan hệ giữa các đặc điểm công ty và hiệu suất tài chính trong khoảng thời gian nghiên cứu.

Phương pháp dữ liệu bảng (panel data) sẽ được sử dụng để kiểm tra giả thuyết của tôi, giúp kiểm soát sự không đồng nhất trong các biến quan sát qua thời gian (Arellano và Bover, 1990; Arellano, 1993) Việc kiểm soát này là cực kỳ quan trọng vì đặc tính riêng của công ty, như quản trị doanh nghiệp và cơ hội phát triển, có thể ảnh hưởng đến quyết định đa dạng hóa và tác động của nó đến giá trị doanh nghiệp Ngoài ra, kỹ thuật này còn giúp tránh các vấn đề xuất phát từ quá trình tổng hợp dữ liệu, nâng cao tính chính xác của phân tích (Arellano và Bover, 1990).

Thảo luận kết quả nghiên cứu

Ngày đăng: 27/02/2023, 20:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Bernardo, A., B. Chowdhry, D. Palia and E. Sernova (2000), 'Real Options and the Diversification Discount', Unpublished Work, The Anderson School at UCLA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Real Options and the Diversification Discount
Tác giả: Bernardo, A., Chowdhry, B., Palia, D., Sernova, E
Nhà XB: Unpublished Work
Năm: 2000
6. Bower, J. L. (1970), 'Managing the Resource Allocation Process: A Study of Corporate Planning and Investment', Working paper. Boston: Division of Research, Graduate School of Business Administration, Harvard University, 1970 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Managing the Resource Allocation Process: A Study of Corporate Planning and Investment
Tác giả: J. L. Bower
Nhà XB: Division of Research, Graduate School of Business Administration, Harvard University
Năm: 1970
7. Buchanan, B. (2004), 'Australian Corporate Casualties', Advances in Financial Economics, 9, 55-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Advances in Financial Economics
Tác giả: Buchanan, B
Năm: 2004
10. Carroll, P. (1993), Big Blues: The Unmaking of IBM, New York, Crown Publishers Sách, tạp chí
Tiêu đề: Big Blues: The Unmaking of IBM
Tác giả: P. Carroll
Nhà XB: Crown Publishers
Năm: 1993
11. Chandler, A. (1966), Strategy and Structure, New York, Doubleday & Company Sách, tạp chí
Tiêu đề: Strategy and Structure
Tác giả: A. Chandler
Nhà XB: Doubleday & Company
Năm: 1966
14. Dey, T. (2010), “Influence Activity, Incentives and Value of the Firm: An Australian Perspective‟, Thesis completed for the degree of „Doctor of Philosophy‟, Department of Economics, Monash University, Australia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Influence Activity, Incentives and Value of the Firm: An Australian Perspective
Tác giả: Dey, T
Nhà XB: Monash University
Năm: 2010
15. Edwards, C. (1955), 'Conglomerate Bigness as a Source of Power', in G. Stigler, ed., Business Concentration and Price Policy, Princeton University Press: 331-359 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Business Concentration and Price Policy
Tác giả: G. Stigler
Nhà XB: Princeton University Press
Năm: 1955
16. Fleming, G., B. Oliver and S. Skourakis (2003), 'The valuation discount of multi- segment firms in Australia', Accounting and Finance, 43, 167–185 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 'The valuation discount of multi-segment firms in Australia'
Tác giả: Fleming, G., B. Oliver and S. Skourakis
Năm: 2003
22. Jensen, M. C. (1986), 'Agency Costs of Free Cash Flow, Corporate Finance, and Takeovers', The American Economic Review, 76(2), 323-329 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 'Agency Costs of Free Cash Flow, Corporate Finance, and Takeovers'
Tác giả: Jensen, M. C
Năm: 1986
23. Jensen, M. C. and K. J. Murphy (1990), 'Performance Pay and Top-Management Incentives', The Journal of Political Economy, 98(2), 225-264 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 'Performance Pay and Top-Management Incentives'
Tác giả: Jensen, M. C. and K. J. Murphy
Năm: 1990
24. Kaplan, S. N., 1989, “Campeau's acquisition of federated: Value destroyed or value added?‟ Journal of Financial Economics , 25(2), 191-212 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Campeau's acquisition of federated: Value destroyed or value added?‟
25. Khanna, T. and K. Palepu (2000), 'Is Group Affiliation Profitable in Emerging Markets? An Analysis of Diversified Indian Business Groups', The Journal of Finance, 55(2), 867-891 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 'Is Group Affiliation Profitable in Emerging Markets? An Analysis of Diversified Indian Business Groups'
Tác giả: Khanna, T. and K. Palepu
Năm: 2000
26. Lang, L. H. P. and R. M. Stulz (1994), 'Tobin's q, Corporate Diversification, and Firm Performance', The Journal of Political Economy, 102(6), 1248-1280 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 'Tobin's q, Corporate Diversification, and Firm Performance'
Tác giả: Lang, L. H. P. and R. M. Stulz
Năm: 1994
31. Maksimovic, V. and G. Phillips (2007), 'Conglomerate Firms and Internal Capital Markets', in B.E. Eckbo, ed., Handbook of Corporate Finance, 1, Elsevier B.V Sách, tạp chí
Tiêu đề: Handbook of Corporate Finance
Tác giả: Maksimovic, V., G. Phillips
Nhà XB: Elsevier B.V
Năm: 2007
36. Pablo de Andrés, Gabriel de la Fuente, Pilar Velasco (2012) „Tackling The Corporate Diversification – Value Puzzle Using The Real Options Approach‟this draft, university of Valladolid (Spain) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tackling The Corporate Diversification – Value Puzzle Using The Real Options Approach
Tác giả: Pablo de Andrés, Gabriel de la Fuente, Pilar Velasco
Nhà XB: university of Valladolid (Spain)
Năm: 2012
38. Scharfstein, D. S. (1998), 'The dark side of internal capital markets II: Evidence from diversified conglomerates', NBER Working Paper Series, 6352 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The dark side of internal capital markets II: Evidence from diversified conglomerates
Tác giả: Scharfstein, D. S
Nhà XB: NBER Working Paper Series
Năm: 1998
47. Villalonga, B. (2000), 'An Empirical Analysis of Diversification Motives', Unpublished Manuscript, Los Angeles, Anderson Graduate School of Management, University of California Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Empirical Analysis of Diversification Motives
Tác giả: Villalonga, B
Nhà XB: Anderson Graduate School of Management, University of California
Năm: 2000
48. --- (2003), Research Roundtable Discussion: The Diversification Discount, Harvard Business School Sách, tạp chí
Tiêu đề: Research Roundtable Discussion: The Diversification Discount
Nhà XB: Harvard Business School
Năm: 2003
50. Williamson, O. E. (1970), 'Corporate Control and Business Behaviour: An Inquiry into the Effects of Organizational Form on Enterprise Behavior', Englewood Cliffs, N.J, Prentice Hall Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corporate Control and Business Behaviour: An Inquiry into the Effects of Organizational Form on Enterprise Behavior
Tác giả: Williamson, O. E
Nhà XB: Prentice Hall
Năm: 1970
51. Wulf, J. (1999), 'Influence and inefficiency in internal capital market: theory and evidence', Working Paper, University of Pennsylvania Sách, tạp chí
Tiêu đề: Influence and inefficiency in internal capital market: theory and evidence
Tác giả: J. Wulf
Nhà XB: University of Pennsylvania
Năm: 1999

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm