1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Giáo trình kế toán tài chính doanh nghiệp (tập 3) phần 2 trường đh công nghiệp quảng ninh

20 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình kế toán tài chính doanh nghiệp (tập 3) phần 2
Trường học Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh
Chuyên ngành Kế toán tài chính doanh nghiệp
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2023
Thành phố Quảng Ninh
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 383,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

154 CHƯƠNG 8 BÁO CÁO TÀI CHÍNH 8 1 Ý nghĩa và yêu cầu của báo cáo tài chính 8 1 1 Thông tin kế toán tài chính Thông tin kế toán tài chính là thông tin về toàn bộ hoạt động kinh tế tài chính của các đơ[.]

Trang 1

154

CHƯƠNG 8: BÁO CÁO TÀI CHÍNH

8.1 Ý nghĩa và yêu cầu của báo cáo tài chính 8.1.1 Thông tin kế toán tài chính

hệ thống báo cáo kế toán

sổ kế toán liên quan (Sổ kế toán tổng hợp, sổ kế toán chi tiết ) Số liệu từ các tài khoản, các sổ kế toán được phân loại, được hệ thống hoá và tổng hợp theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính để trình bày trên các báo cáo kế toán

ở thời điểm này không vận động (trên thực tế thì tài sản của doanh nghiệp luôn vận động không ngừng)

Trình tự quá trình ghi chép kế toán của doanh nghiệp có thể tóm tắt như sau:

Trang 2

155

Đặc điểm thông tin kế toán tài chính:

- Thông tin kế toán tài chính là thông tin hiện thực, thông tin về những hoạt động kinh tế tài chính đã diễn ra, đã kết thúc hoàn thành làm cơ sở cho việc ra

quyết định kinh tế Do vậy thông tin kế toán tài chính có sự khác biệtvới thông tin

dự báo, kế hoạch, thông tin xã hội, văn hoá

- Thông tin kế toán tài chính có độ tin cậy khá cao, bởi vì mọi số liệu của kế

toán tài chính đều phải được chứng minh bằng các bằng chứng tin cậy khách quan

đó là các chứng từ kế toán hợp pháp, hợp lệ có thể kiểm tra được

- Thông tin kế toán tài chính là thông tin có giá trị pháp lý được sử dụng để

xác định các lợi ích kinh tế của các đối tượng liên quan (Nhà nước, chủ đầu tư, chủ doanh nghiệp ) và làm căn cứ pháp lý cho việc phân định trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự của các thể nhân và pháp nhân

8.1.2 Báo cáo tài chính - mục đích - tác dụng

Báo cáo tài chính là phương pháp tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo

các chỉ tiêu kinh tế tài chính tổng hợp, phản ánh có hệ thống tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp, tình hình và hiệu quả SXKD, tình hình lưu

Quyết định kinh tế

HĐSX kinh doanh của doanh nghiệp :

Các nghiệp vụ kinh tế

- Ngoại sinh

- Nội sinh

Đối tượng sử dụng thông tin:

- Chủ doanh nghiệp

- Cơ quan quản lý N2

- Đối tượng khác

Thu thập thông tin

- Lập chứng từ

- Ghi chép phản ánh

Xử lý thông tin

- Phân loại

- Hệ thống hoá

- Tổng hợp

Cung cấp thông tin

- Báo cáo kế toán:

+ Báo cáo tài chính

+ Báo cáo quản trị Quy trình xử lý số liệu kế toán

Trang 3

156

chuyển tiền tệ và tình hình quản lý, sử dụng vốn của doanh nghiệp trong một thời

kỳ nhất định vào một hệ thống mẫu biểu quy định thống nhất

Báo cáo tài chính bao gồm một hệ thống số liệu kinh tế tài chính được tổng hợp, được rút ra từ các sổ kế toán tổng hợp, các sổ kế toán chi tiết và những thuyết minh cần thiết bằng văn bản về những số liệu đó Báo cáo tài chính là phương pháp quan trọng để chuyển tải thông tin kế toán tài chính đến người ra quyết định, đó là những thông tin công khai về sản nghiệp, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phục cụ cho các đối tượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Điều này khác biệt với các báo cáo kế toán nội bộ (báo cáo quản trị) chỉ cung cấp thông tin kế toán phụ vụ cho yêu cầu quản lý nội bộ doanh nghiệp

Đối tượng sử dụng thông tin báo cáo tài chính là những người bên trong

và bên ngoài doanh nghiệp đó là những đối tượng có lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp Các quyết định của các đối tượng sử dụng thông tin trong báo cáo tài chính đòi hỏi việc đánh giá về năng lực của doanh nghiệp để tạo ra nguồn lực tài chính cho doanh nghiệp Các đối tượng sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính gồm:

- Các nhà quản lý doanh nghiệp

- Các cơ quan quản lý chức năng của Nhà nước

- Các đối tượng khác (các chủ nợ hiện tại và tương lai, các nhà đầu tư, người cung cấp )

Mục đích của BCTC

Báo cáo tài chính dùng để cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu quản lý của chủ doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước và nhu cầu hữu ích của những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế Báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp về:

a/ Tài sản;

b/ Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu;

c/ Doanh thu, thu nhập khác, chi phí kinh doanh và chi phí khác;

d/ Lãi, lỗ và phân chia kết quả kinh doanh;

đ/ Thuế và các khoản nộp Nhà nước;

Trang 4

157

e/ Tài sản khác có liên quan đến đơn vị kế toán;

g/ Các luồng tiền

Ngoài các thông tin này, doanh nghiệp còn phải cung cấp các thông tin khác trong

“Bản thuyết minh báo cáo tài chính” nhằm giải trình thêm về các chỉ tiêu đã phản ánh trên các báo cáo tài chính tổng hợp và các chính sách kế toán đã áp dụng để ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, lập và trình bày báo cáo tài chính

Đối tượng áp dụng

Hệ thống báo cáo tài chính năm được áp dụng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp thuộc các ngành và các thành phần kinh tế Riêng các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn tuân thủ các quy định chung tại phần này và những qui định, hướng dẫn cụ thể phù hợp với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và

nhỏ

chính tương tự được quy định bổ sung ở Chuẩn mực kế toán số 22 "Trình bày bổ sung báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự" và các văn bản quy định cụ thể

Việc lập và trình bày báo cáo tài chính của các doanh nghiệp ngành đặc thù tuân thủ theo quy định tại chế độ kế toán do Bộ Tài chính ban hành hoặc chấp thuận cho ngành ban hành

Công ty mẹ và tập đoàn lập báo cáo tài chính hợp nhất phải tuân thủ quy định tại chuẩn mực kế toán “Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản đầu tư vào công ty con”

Đơn vị kế toán cấp trên có các đơn vị kế toán trực thuộc hoặc Tổng công ty Nhà nước hoạt động theo mô hình không có công ty con phải lập báo cáo tài chính tổng hợp theo quy định tại Thông tư hướng dẫn kế toán thực hiện Chuẩn mực kế toán số 25“Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản đầu tư vào công ty con”

Hệ thống báo cáo tài chính giữa niên độ (Báo cáo tài chính quý) được áp dụng cho các DNNN, các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán và các doanh nghiệp khác khi tự nguyện lập báo cáo tài chính giữa niên độ

Tác dụng của báo cáo tài chính:

Trang 5

158

- Cung cấp thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp:

Tình hình tài chính của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của các nguồn lực kinh tế

do doanh nghiệp kiểm soát của cơ cấu tài chính, khả năng thanh toán và khả năng tương thích với môi trường kinh doanh Nhờ có thông tin về các nguồn lực kinh tế

do doanh nghiệp kiểm soát và năng lực của doanh nghiệp trong quá khứ đã tác động đến nguồn lực kinh tế này mà có thể dự toán năng lực của doanh nghiệp có thể tạo

ra các khoản tiền và tương đương tiền trong tương lai

Thông tin về cơ cấu tài chính có tác dụng lớn để dự đoán nhu cầu đi vay, phương thức phân phối lợi nhuận, tìên lưu chuyển và cũng là những thông tin cần thiết để dự đoán khả năng huy động các nguồn lực tài chính của doanh nghiệp

- Thông tin về tình hình doanh nghiệp:

Trên các báo cáo tài chính trình bày những thông tin về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là thông tin về tính sinh lợi, thông tin về tình hình biến động trong SXKD sẽ giúp cho đối tượng sử dụng đánh giá những thay đổi tiềm tàng của các nguồn lực tài chính mà doanh nghiệp có thể kiểm soát trong tương lai, để

dự đoán khả năng tạo ra các nguồn tiền cho doanh nghiệp trên cơ sở hiện có và việc đánh giá hiệu quả các nguồn lực bổ sung mà doanh nghiệp có thể sử dụng

- Thông tin về sự biến động tình hình tài chính của doanh nghiệp:

Trong các báo cáo tài chính, các chỉ tiêu báo cáo là tình hình tài sản, nguồn vốn, tình hình kết quả hoạt động SXKD, tình hình lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp tại một thời điểm hoặc của một thời kỳ, tuy nhiên các chỉ tiêu vẫn cho phép người sử dụng thông tin đánh giá được tình hình biến động tài chính của doanh nghiệp qua một thời kỳ (kỳ này so với kỳ trước, kỳ này so với đầu năm ) vì vậy các thông tin trên báo tài chính rất hữu ích trong việc đánh giá các hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo

Từ sự phân tích trên đây, chúng ta thấy thông tin trong các báo cáo tài chính

có tác dụng quan trọng trong công tác quản lý, cung cấp thông tin cho các đối tượng

để ra các quyết định kinh tế phù hợp và kịp thời Có thể nói tác dụng cụ thể đối với từng đối tượng nhận thông tin:

Trang 6

159

+ Đối với các nhà quản lý doanh nghiệp: Thông tin trong các báo cáo tài

chính cung cấp cho họ tổng hợp về tình hình tài sản, tình hình nguồn vốn, tình hình

và kết quả kinh doanh sau một kỳ hoạt động tình hình lưu chuyển tiền tệ, tình hình quản lý và sử dụng vốn để có thể đánh giá được tình hình kinh doanh, thực trạng tài chính của doanh nghiệp từ đó các nhà quản trị doanh nghiệp có thể đề ra được các giải pháp, các quyết định quản lý kịp thời, phù hợp với sự phát triển của doanh nghiệp (các quyết định trong ngắn hạn, các quyết định trong dài hạn )

+ Đối với các cơ quan quản lý chức năng của Nhà nước:

Thông tin trong các báo cáo tài chính cụng cấp cho các cơ quan quản lý chức năng để trên cơ sở chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà từng cơ quan kiểm tra, giám sát HĐSXKD của doanh nghiệp, kiểm tra tình hình thực hiện chính sách chế độ về quản lý kinh tế - tài chính của doanh nghiệp:

- Cơ quan thuế: Kiểm tra tình hình thực hiện và chấp hành các luật thuế của doanh nghiệp, xác định chính xác số thuế phải nộp, số thuế đã nộp, số thuế được khấu trừ, được miễn giảm cũng như quyết toán thuế của doanh nghiệp

- Cơ quan tài chính: Kiểm tra đánh giá tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp (đối với các doanh nghiệp Nhà nước) có hiệu quả hay không? xác định mức thu trên vốn (nếu có) hay cần có kế hoạch bổ sung vốn cho doanh nghiệp kiểm tra việc chấp hành chính sách quản lý tài chính nói chung, quản lý vốn nói riêng của doanh nghiệp

- Cơ quan quản lý đăng ký kinh doanh (Sở kế hoạch, Bộ kế hoạch đầu tư): Các cơ quan quản lý đăng ký kinh doanh kiểm tra về tình hình thực hiện giấy phép kinh doanh của doanh nghiệp: có thực hiện đúng ngành nghề kinh doanh, mặt hàng kinh doanh, chế độ quản lý và sử dụng lao động cũng như các chính sách kinh tế, tài chính của Nhà nước Việt Nam quy định hay không để từ đó cơ quan kế hoạch đầu

tư có thể giữ nguyên giấy phép hay bổ sung ngành nghề, mặt hàng hoặc thậm chí thu hồi giấy phép kinh doanh khi doanh nghiệp đã vi phạm nghiêm trọng về các HĐSXKD, các chính sách kinh tế - tài chính

- Đối với cơ quan thống kê: Các thông tin trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp giúp cho cơ quan thống kê tổng hợp số liệu theo các chỉ tiêu kinh tế để từ đó tổng

Trang 7

160

hợp số liệu báo cáo mức tăng trưởng kinh tế của Quốc gia, xác định GDP để cung cấp thông tin cho Chính phủ có được những quyết sách chính xác, kịp thời trong việc điều tra và quản lý kinh tế vi mô, vĩ mô

+ Đối với các đối tượng khác: Thông tin trong báo cáo tài chính cung cấp

cho các nhà đầu tư, các chủ nợ, các khách hàng để họ có thể đánh giá được thực trạng tài chính của doanh nghiệp để họ có quyết định có nên đầu tư vào doanh nghiệp nữa không? Các chính sách về lãi suất áp dụng cho doanh nghiệp như thế nào

Ngoài ra các thông tin trên báo cáo tài chính công khai còn củng cố niềm tin và sức mạnh cho công nhân viên của doanh nghiệp để họ nhiệt tình hăng say trong lao động, tham gia đầu tư trái phiếu, cổ phiếu của Công ty phát hành

8.1.3 Yêu cầu lập và trình bày báo cáo tài chính

Việc lập và trình bày báo cáo tài chính doanh nghiệp phải tuân thủ các yêu cầu đã được qui định tại Chuẩn mực kế toán số 21 “Trình bày báo cáo tài chính”, gồm:

+ Trung thực và hợp lý;

+ Lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán phù hợp với qui định của từng chuẩn mực kế toán nhằm đảm bảo cung cấp thông tin thích hợp với nhu cầu ra các quyết định kinh tế của người sử dụng và cung cấp được các thông tin đáng tin cậy, khi:

- Trình bày trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp;

- Phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự kiện không chỉ đơn thuần phản ánh hình thức hợp pháp của chúng;

- Trình bày khách quan, không thiên vị;

- Tuân thủ nguyên tắc thận trọng;

- Trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu

8.1.4 Những nguyên tắc cơ bản lập báo cáo tài chính

Để đảm bảo được những yêu cầu đối với báo cáo tài chính thì việc lập hệ thống báo cáo tài chính cần phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản sau:

Trang 8

161

1- Kinh doanh liên tục:

Khi lập và trình bày báo cáo tài chính, Giám đốc (hoặc người đứng đầu) doanh nghiệp cần phải đánh giá về khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần, trừ khi doanh nghiệp có

ý định cũng như buộc phải ngừng hoạt động, hoặc phải thu hẹp đáng kể qui mô hoạt động của mình Khi đánh giá, nếu Giám đốc (hoặc người đứng đầu) doanh nghiệp biết được có những điều không chắc chắn liên quan đến các sự kiện hoặc các điều kiện có thể gây ra sự nghi ngờ lớn về khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp thì những điều không chắc chắn đó cần được nêu rõ Nếu báo cáo tài chính không được lập trên

cơ sở hoạt động liên tục, thì sự kiện này cần được nêu rõ, cùng với cơ sở dùng để lập báo cáo tài chính và lý do khiến cho doanh nghiệp không được coi là đang hoạt động liên tục

Để đánh giá khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp, Giám đốc (hoặc người đứng đầu) doanh nghiệp cần phải xem xét đến mọi thông tin có thể dự đoán được tối thiểu trong vòng 12 tháng tới kể từ ngày kết thúc niên độ kế toán

2- Nguyên tắc cơ sở dồn tích:

Trừ các thông tin có liên quan đến lưu chuyển tiền, doanh nghiệp phải lập báo cáo tài chính trên cơ sở nguyên tắc dồn tích.Theo cơ sở kế toán dồn tích, các giao dịch và sự kiện được ghi nhận vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực thu, thực chi tiền và được ghi nhận vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của các kỳ kế toán liên quan Các khoản chi phí được ghi nhận vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên tắc phù hợp không cho phép ghi nhận trên Bảng cân đối

kế toán những khoản mục không thoả mãn định nghĩa về tài sản hoặc nợ phải trả

3- Nguyên tắc nhất quán

Việc trình bày và phân loại các khoản mục trong báo cáo tài chính phải nhất quán từ niên độ này sang niên độ khác, trừ khi:

Trang 9

162

a/ Có sự thay đổi đáng kể về bản chất các hoạt động của doanh nghiệp hoặc khi xem xét lại việc trình bày báo cáo tài chính cho thấy rằng cần phải thay đổi để có thể trình bày một cách hợp lý hơn các giao dịch và các sự kiện; hoặc

b/ Một chuẩn mực kế toán khác yêu cầu có sự thay đổi trong việc trình bày

4- Tính trọng yếu và sự hợp nhất:

chính Các khoản mục không trọng yếu thì không phải trình bày riêng rẽ mà được tập hợp vào những khoản mục có cùng tính chất hoặc chức năng

Thông tin trọng yếu là thông tin nếu không được trình bày thì có thể có ảnh hưởng tới việc ra quyết định kinh tế của các đối tượng sử dụng thông tin dựa trên các báo cáo tài chính Để xác định một khoản mục hay một tập hợp các khoản mục

là trọng yếu phải đánh giá tính chất và quy mô của chúng Tuỳ theo các tình huống

cụ thể, tính chất hoặc quy mô của từng khoản mục có thể là nhân tố quyết định tính trọng yếu Ví dụ, các tài sản riêng lẻ có cùng tính chất và chức năng được tập hợp vào một khoản mục, kể cả khi giá trị của khoản mục là rất lớn.(Vớ dụ hàng tồn kho) Tuy nhiên, các khoản mục quan trọng có tính chất hoặc chức năng khác nhau phải được trình bày một cách riêng rẽ

5- Nguyên tắc bù trừ:

a/ Bù trừ tài sản và nợ phải trả:

Khi ghi nhận các giao dịch kinh tế và các sự kiện để lập và trình bày báo cáo tài chính không được bù trừ tài sản và công nợ, mà phải trình bày riêng biệt tất cả các khoản mục tài sản và công nợ trên báo cáo tài chính

b/ Bù trừ doanh thu, thu nhập khác và chi phí:

+ Được bù trừ theo qui định tại một chuẩn mực kế toán khác;

+ Một số giao dịch ngoài hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp thì được bù trừ khi ghi nhận giao dịch và trình bày báo cáo tài chính, ví dụ:

- Đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán ngắn hạn:

Lãi (lỗ) bán chứng khoán

= Thu bán chứng khoán

- Giá gốc chứng khoán

- Đối với hoạt động kinh doanh ngoại tệ:

Trang 10

163

bán ngoại tệ

= Thu bán ngoại tệ

- Giá mua ngoại tệ

Các khoản mục được bù trừ được trình bày: Số lãi (hoặc lỗ thuần)

2 Nguyên tắc có thể so sánh

Theo nguyên tắc có thể so sánh giữa các kỳ kế toán, trong các báo cáo tài chính như: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo

lưu chuyển tiền tệ phải trình bày các số liệu để so sánh, cụ thể:

- Đối với Bảng cân đối kế toán:

+ Bảng cân đối kế toán năm phải trình bày số liệu so sánh theo từng chỉ tiêu tương ứng được lập vào cuối kỳ kế toán năm trước gần nhất (Số đầu năm);

+ Bảng cân đối kế toán quý phải trình bày số liệu so sánh từng chỉ tiêu tương ứng được lập vào cuối kỳ kế toán năm trước gần nhất (Số đầu năm)

- Đối với Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:

+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm phải trình bày số liệu so sánh theo từng chỉ tiêu tương ứng được lập cho kỳ kế toán năm trước gần nhất (Năm trước);

+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh lập theo kỳ kế toán quý phải trình bày số liệu của quý báo cáo và số lũy kế từ đầu năm đến ngày lập báo cáo tài chính quý và có thể có số liệu so sánh theo từng chỉ tiêu của Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh quý cùng kỳ năm trước (Quý này năm trước)

- Đối với Báo cáo lưu chuyển tiền tệ:

+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ năm phải trình bày số liệu so sánh theo từng chỉ tiêu tương ứng được lập cho kỳ kế toán năm trước gần nhất (Năm trước);

+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ quý phải trình bày số lũy kế từ đầu năm đến ngày lập báo cáo tài chính quý và có thể có số liệu so sánh theo từng chỉ tiêu của báo cáo lưu chuyển tiền tệ quý cùng kỳ năm trước (Quý này năm trước)

Để bảo đảm nguyên tắc so sánh, số liệu “Năm trước” trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Bản thuyết minh báo cáo tài chính phải được điều chỉnh lại số liệu trong các trường hợp:

- Năm báo cáo áp dụng chính sách kế toán khác với năm trước;

Ngày đăng: 27/02/2023, 18:58

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm