ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MÌNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LỚP NGÔN NGỮ KHÓA 2010 BÀI THUYẾT TRÌNH PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ Môn Phương ngữ và phương ngữ tiếng Việt GVGD TS Lê Khắc Cường Thành[.]
DẪN LUẬN
Tiếng Việt rất đa dạng và phong phú, là ngôn ngữ toàn dân và được sử dụng trên hầu hết lãnh thổ Việt Nam để làm công cụ giao tiếp cho người Việt nói chung Tuy nhiên, tùy theo từng vùng miền sử dụng chúng tiếng Việt được chia thành từng ngôn ngữ riêng Ngôn ngữ hình thành từ cuộc sống và phản ánh cuộc sống của từng địa phương Tùy vào sự khác nhau giữa kinh tế và xã hội giữa những địa phương này thì ngôn ngữ của chúng cũng sẽ khác nhau Ở Viêt Nam chủ yếu có ba vùng phương ngữ chính: phương ngữ bắc (Bắc Bộ), phương ngữ Trung (Bắc Trung Bộ), phương ngữ Nam (Nam Trung Bộ và Nam Bộ) Tất nhiên phương ngữ vùng nào sẽ được vùng đó sử dụng để giao tiếp, nhưng nhìn chung phương ngữ Bắc vẫn được sử dụng rộng rãi hơn, ví dụ như trên các phương tiện truyền thông đại chúng hay các văn bản hành chính, khoa học, thời sự, v.v… Các phương ngữ khác nhau chủ yếu ở ngữ âm rồi đến từ vựng, cuối cùng là vài sự khác biệt về ngữ pháp Tuy nhiên, với xu hướng ngôn ngữ hiện tại, ta cũng có thể thấy được mối quan hệ phức tạp giữa tiếng Việt toàn dân và tiếng Việt phương ngữ hiện nay Lý do là vì, sự di chuyển mạnh mẽ của dòng người giữa ba miền Bắc-Trung- Nam, giữa các địa phương cũng như trong nội bộ của một địa phương đang tạo ra những xáo trộn đáng kể giữa các phương ngữ tiếng Việt và giữa phương ngữ với tiếng toàn dân Chẳng hạn, các ngôn từ thuộc phương ngữ Nam Bộ đang tràn ra tiếng Việt toàn dân cũng như tiếng Việt phương ngữ Bắc Bộ và Trung Bộ Ví dụ: trễ, kẹt, mắc, nhí, trái cây, heo, bông, chả giò, mắc cỡ, thắng, banh, ráng ; có sự pha trộn các yếu tố ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách giao tiếp giữa các vùng miền, tạo ra một dạng phương ngữ tiếng Việt mới Ví dụ, sử dụng tiếng Việt phương ngữ Bắc Bộ lại pha yếu tố phương ngữ Nam Bộ, sử dụng yếu tố phương ngữ Nam Bộ lại pha yếu tố phương ngữ Bắc Bộ, hoặc sử dụng tiếng Việt phương ngữ Trung Bộ lại pha yếu tố phương ngữ Bắc Bộ và Nam Bộ, từ đó tạo ra một biến thể tiếng Việt pha trộn Từ đó có thể thấy, phương ngữ Nam Bộ nhìn chung đang có những tác động mạnh mẽ đến ngôn ngữ toàn dân cũng như các phương ngữ vùng miền khác Bài nghiên cứu này chúng tôi tập trung làm rõ đặc điểm ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng của phương ngữ Nam Bộ, từ đó có thể hiểu rõ hơn về một phương ngữ lớn và mang tầm ảnh hưởng rộng rãi đến ngôn ngữ tiếng Việt nói chung
NỘI DUNG
KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA LÍ CỦA VÙNG PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ
- Về phạm vi: vùng phương ngữ Nam Bộ gần như trùng khít với vùng văn hóa Nam Bộ cũng đồng thời là vùng địa lí hành chính Nam Bộ, bao gồm địa bàn 19 tỉnh thành: Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa- Vũng Tàu, thành phố
Hồ Chí Minh, Long An, Tiền giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, thành phố Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau Chia làm ba khu vực là Đông Nam Bộ, Sài Gòn và Tây Nam Bộ
- Về vị trí địa lí: phía Tây giáp Vịnh Thái Lan, phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông, phía Bắc và Tây Bắc giáp Campuchia và một phần phía Tây Bắc giáp Nam Trung Bộ
- Về địa hình: Đây là vùng đồng bằng sông nước rất đặc trưng với sông ngòi, kênh rạch chằng chịt; địa hình tương đối bằng phẳng, đồi núi không nhiều, tập trung chủ yếu ở miền Đông với độ cao trung bình thấp (khoảng 700m)
- Về cách thức sinh sống của người dân Nam Bộ:
+ Cách thức hoạt động sản xuất: mang đặc trưng đồng bằng sông nước rõ nét nhất, đồng thời cũng đa dạng nhất so với các vùng miền khác: Ở Nam Bộ truyền thống nông nghiệp lúa nước của người Việt được phát huy ở mức tối đa (Nam Bộ sản xuất trên 50% lượng lúa của cả nước), đây cũng là nơi sản xuất 70% trái cây của cả nước Và do sở hữu một vùng sông nước giàu thủy sản và có ba mặt giáp biển nên Nam Bộ cũng là một ngư trường giàu có nhất nước, là cơ sở để phát triển các nghề đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thủy sản
+Việc giao thương, đi lại cũng mang đặc thù sông nước rất rõ ràng: Khi giao thông đường bộ chưa phát triển thì hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt không những không là rào cản mà còn là con đường đi lại, vận chuyển dễ dàng và được ưa chuộng nhất của người dân Nam Bộ Chính vì vậy, từ xưa, các trung tâm giao thương lớn của vùng đều được hình thành ven bờ sông, rạch để thuận lợi cho việc mua bán và vận chuyển hàng hóa Đặc biệt ở miền Tây Nam Bộ còn có các chợ nổi (chợ nổi Long Xuyên – An Giang, Cái Răng – Cần Thơ, Phụng Hiệp – Hậu Giang, Cái Bè – Tiền Giang…) mà ở đó mọi hoạt động từ mua bán đến sinh hoạt thường nhật đều diễn ra trên sông nước
+ Về ăn uống: Cơ cấu bữa ăn của người Nam Bộ thể hiện rõ cuộc sống của cư dân miền sông nước với thức ăn chính là thủy hải sản Và một món ăn mang nét
7 đặc trưng của người Nam Bộ chính là mắm – là một món ăn dân dã nhưng cũng đồng thời là một đặc sản mang đậm hương vị quê hương
+ Về cư trú: Một mặt do điều kiện tự nhiên tác động, mặt khác do lối sống phóng khoáng, dễ hòa nhập, dễ thích nghi, “rày đây mai đó” nên nhà ở của người Nam Bộ thường tạm bợ hoặc họ có thể sinh sống trên ghe, thuyền…đặc biệt là có khả năng sống chung với lũ
Do địa hình bằng phẳng cùng với sự thích nghi một cách mạnh mẽ với cảnh sông nước của người dân bản xứ nên toàn vùng đất Nam Bộ hầu như không có sự khác biệt về sâu sắc về văn hóa, đặc biệt là về ngôn ngữ - một yếu tố vốn bị tác động mạnh mẽ bởi môi trường, địa lí Chính vì vậy, đi khắp các tỉnh của vùng Nam Bộ ta rất khó bắt gặp những đặc điểm ngôn ngữ khác biệt nhau Phải tinh tế và am hiểu nhiều về phương ngữ Nam Bộ mới có thể nhận ra một vài điểm sai khác rất nhỏ về ngữ âm giữa các địa phương.
NGỮ ÂM
2.1.1.Những hiện tượng biến đổi phụ âm đầu: a) Bj, Dj, Zj, chj, kj, tl: Đây là những phụ âm kép mà yếu tố thứ hai là âm đệm, hay là một thuộc tính của âm đầu hiện nay chưa rõ Theo GS Hoàng Thị Châu, yếu tố thứ hai là một thuộc tính của phụ âm đầu nhưng trước đây đã từng lầm tưởng là âm đệm
Phụ âm Bj hiện nay là một phụ âm môi – môi xát hữu thanh Theo như sự miêu tả của A.de.Rhodes cách đây hơn ba thế kỷ: “Có hai âm B, một âm không hoàn toàn giống với âm b của chúng ta Khi phát âm, luồng không khí không thoát mà được hút vào Còn âm B kia thì không hoàn toàn giống âm v của chúng ta, cũng không bật hơi mạnh mà hai môi hé mở trong khi phát âm Đó là một âm môi như trong tiếng Do Thái cổ, chứ không phải âm răng” Phụ âm Dj (thổ ngữ Bắc Bình Trị Thiên) có phương thức cấu âm như Bj, là phụ âm xát hữu thanh, ngạc hóa mạnh Nhưng nó là phụ âm đầu lưỡi – răng, có thể so sánh với phụ âm đầu của các từ this, that, the trong tiếng Anh (Để tiện việc in ấn, j chỉ là ký hiệu ghi lại hiện tượng ngạc hóa mạnh, D là phần chữ quốc ngữ)
Như vậy, từ điển của A.de.Rhodes đã ghi lại một dãy phụ âm xát hữu thanh ngạc hóa mạnh, bao gồm Bj, Dj, Zj và G của tiếng Việt đầu thế kỉ XVII
Sang đến thế kỷ XX, trong phương ngữ Bắc Bộ và phương ngữ Trung có sự mất đi hiện tượng ngạc hóa (tức mất j) ở những phụ âm kép tàn dư, kết quả tạo thành sẽ là các phụ âm xát như v, z, Z (sau đó chuyển thành z) Phương ngữ Nam thì ngược lại, yếu tố ngạc hóa lấn át phụ âm trước nó và biến thành phụ âm đầu j ở cả ba trường hợp Phụ âm j có ba nguồn gốc khác nhau ấy phát âm hoàn toàn giống nhau: là phụ âm mặt lưỡi, ngạc, xát, hữu thanh Cũng có thể đồng nhất nó với bán phụ âm hoặc bán nguyên âm j
Vậy, trong các phương ngữ phía Nam, bán nguyên âm j đã xuất hiện ở vị trí âm đầu và xuất hiện với một tần số khá cao tạo nên sự khu biệt khá lớn giữa phương ngữ Nam với phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung, vì nó đã thay thế cho ba phụ âm /v/ (v), /z/ (d), /z/ (gi) ở các phương ngữ khác
Xét các ví dụ: v ỗ v ề /vo 3 ve 2 / - j ỗ j ề /jo 3 je 2 / v ội v àng /voj 6 vaŋ 2 / - j ội j àng /joi 6 jang 2 / v éo v on /vɛw 5 vɔn 1 / - j éo j on /jɛw 5 jɔn 1 / d ỗ d ành /zo 3 zɛ̆ŋ 2 / - j ỗ j ành /jo 3 jɛ̆ŋ 2 / d ung d ăng /zuŋ 1 zăŋ 1 / - j ung j ăng /juŋ 1 jăŋ 1 / d ai d ẳng /zaj 1 zăŋ 4 / - j ai j ẳng /jaj 1 jăŋ 4 / gi ặc gi ã /zăk 6 za 4 / - j ặc j ã /jăk 6 ja 4 / gi òn gi ã /zɔn 2 za 3 / - j òn j ã /jɔn 2 ja 3 / gi ữ gì n /zɯ 3 zin 2 / - j ữ j ìn /jɯ 3 jin 2 / b) Sự tác động của âm đệm /-w-/ đến các phụ âm mạc và hầu đứng trước nó như /k/, /ŋ/, /h/, /ʔ/ đã làm xuất hiện âm /-w-/ ở vị trí phụ âm đầu Như vậy, bán nguyên âm /-w- / đứng trong hệ thống phụ âm đầu của các phương ngữ Nam có thể xem là đặc trưng khu biệt nó với các vùng phương ngữ khác trên cả nước
/ʔw/ – /w/: oan /ʔwan 1 / - wang /waŋ 1 / uyên /ʔwen 1 / - wiêng /wieŋ 1 / uy /ʔwi 1 / - wi /wj 1 /
/hw/ – /w/: ho a huệ /hwa 1 hwe 6 / - w a w ệ /wa 1 we 6 / hu y hoàng /hwi 1 hwaŋ 2 / - w i w àng /wi 1 waŋ 2 / hu ênh hoang /hweŋ 1 hwaŋ 1 / - w ênh w ang /weŋ 1 waŋ 1 /
/ŋw/ – /w/: ngu yễn /ŋwien 3 / - w iễng /wieŋ 3 / ngo ại /ŋwaj 6 / - w ại /waj 6 / ngu y /ŋwi 1 / - w i /wi 1 /
/kw/ – /w/:qu a /kwa 1 / - w a /wa 1 / qu ên /kwen 1 / - w ên /wen 1 / Ngoài ra, dưới sự tác động của âm đệm, phụ âm kh /x/ còn chuyển hóa thành phụ âm ph /f/ Tuy nhiên, phụ âm /x/ trong trường hợp này vẫn còn giữ lại những tính chất khác như khe xát, vô thanh chứ không bị biến đổi hoàn toàn Ví dụ:
/xw/ – /w/: kho ai lang /xwaj 1 laŋ 1 / - ph ai lang /faj 1 laŋ 1 /
Khu ya kho ắt /xwie 1 xwăk 5 / - ph ia ph ắc /fie 1 făk 5 / khó a /xwa 5 / - ph á /fa 5 / kh ỏ e /xwe 3 / - ph ẻ /fe 3 / kho ái /xwaj 5 / - ph ái /faj 5 / /ɣw/ biến thành một phụ âm môi, tuy vẫn giữ phương thức cấu âm xát hữu thanh là /v/, nhưng rồi nó lại biến đổi một lần nữa thành /j/ như tất cả những từ bắt đầu bằng /v/
/ɣw/ – /v/ - /j/: bà gó a /ba 2 ɣwa 5 / - bà v á /ba 2 va 5 / - bà gi á /ba 2 ja 5 / c) Phương ngữ Nam Bộ vẫn chưa có sự phân biệt giữa các âm bẹt lưỡi với quặt lưỡi, giữa âm đầu lưỡi với gốc lưỡi trong giao tiếp thường ngày Ví dụ:
/ʈ/ - /c/: tr ong tr ắng /ʈɔŋ 1 ʈăŋ 5 / - ch ong ch ắng /cɔŋ 1 căŋ 5 / tr ời /ʈɤj 2 / - ch ời /cɤj 2 / tr ước /ʈɯɤk 5 / - ch ước /cɯɤk 5 / /ʂ/ - /s/: s ao s áng /ʂaw 1 ʂaŋ 5 / - x ao x áng /saw 1 saŋ 5 / s ặc s ỡ /ʂăk 6 ʂɤ 3 / - x ặc x ỡ /săk 6 sɤ 3 / Ở Tây Nam Bộ còn có sự chuyển hóa giữa âm rung r /z/ thành âm gốc lưỡi g, gh/ɣ/
/z/ - /ɣ/: r ổ rá /zo 4 za 5 / - g ổ g á /ɣo 4 ɣa 5 / r òng rã /zɔ̆ŋ 2 za 3 / - g òng g ả /ɣɔ̆ŋ 2 ɣa 4 / d) Tại một số địa phương ở Tây Nam Bộ, điển hình là Bến Tre còn có hiện tượng phát âm tr /ʈ/ thành t /t/ Ví dụ:
/ʈ/ - /t/: tr ong tr ắng /ʈɔ̆ŋ 1 ʈăŋ 5 / - t ong t ắng /tɔ̆ŋ 1 tăŋ 5 /
Bến Tr e /ben 5 ʈɛ 1 / - Bến T e /bən 5 tɛ 1 /
Sự biến đổi các phụ âm đầu (quặt lưỡi → bẹt lưỡi, môi-răng → ngạc…) trong phương ngữ Nam Bộ có thể là do nhiều nguyên nhân:
Về mặt xã hội, một mặt là do sự chi phối của các yếu tố lịch sử (khai khẩn, mở mang dần về phía Nam, có sự gián tách so với tiếng Việt chuẩn) Mặt khác là do bản tính chất phát, giản dị, phóng khoáng của con người trên vùng đất biền này: linh hoạt, dễ thích nghi với môi trường mới, luôn có những thay đổi kịp thời theo hướng đơn giản và thuận tiện để phù hợp với điều kiện sinh hoạt - lao động của mình
Về mặt ngữ âm, hiện tượng chuyển từ âm quặt lưỡi sang đầu lưỡi, đồng hóa âm đệm ở một số phụ âm còn là kết quả tất yếu của quy luật tiết kiệm trong ngôn ngữ
2.1.2.Bảng hệ thống phụ âm đầu trong phương ngữ Nam Bộ:
Chữ viết Âm vị tiếng Việt Âm vị phương ngữ Nam Bộ b /b-/ /b-/ m /m-/ /m-/ v /v-/ /j/ ph /f-/
/w-/ (trường hợp /f/ đứng trước /-w-/) t /t-/ /t-/ th /t h / /t h / d /d-/ /j-/ n /n-/ /n-/ x /s-/ /s-/ s /ʂ-/ /ʂ-/
/w-/ (trường hợp /h/ đứng trước /-w-/) r /ʑ-/ /j-/ d, gi /z-/ /j-/ c, k /k-/ /k-/
Như vậy, hệ thống phụ âm đầu trong phương ngữ Nam Bộ gồm 23 phụ âm, bao gồm các phụ âm uốn lưỡi như phương ngữ Trung /ʂ/, /ʈ/, /ʑ/ Tuy nhiên, càng xuôi về miền Tây Nam Bộ, ba phụ âm trên càng bị biến đổi khá mạnh, đặc biệt là phụ âm /ʑ/.So với các phương ngữ khác thì phương ngữ Nam thiếu phụ âm /v/ nhưng bù lại có thêm phụ âm /w/, không có phụ âm /z/ nhưng thay vào đó lại có thêm phụ âm /j/
2.2.1.1 Xét trong mối quan hệ với phụ âm đầu:
Trong phương ngữ Nam, âm đệm /-w-/ triệt tiêu hoàn toàn những phụ âm phía sau, tức là những phụ âm răng, lợi, ngạc Ví dụ:
Tuyê n truyề n /twien 1 ʈien 2 / - tiê ng triề ng /tieŋ 1 ʈieŋ 2 / duyê n /zwien 1 / - diê ng /jieŋ 1 / tuyế t /twiet 5 / - tiế c /tiek 5 / Âm đệm /-w-/ tác động đến các phụ âm mạc và hầu theo lối đồng hóa ngược tạo nên hai kiểu biến đổi (đã được trình bày ở mục 1.1) a) Kiểu thứ nhất là đồng hóa hoàn toàn phụ âm đầu đứng trước nó như /k/, /ŋ/, /h/, /ʔ/, kết quả là làm xuất hiện một phụ âm /-w-/ ở vị trí phụ âm đầu Gọi là đồng hóa hoàn toàn vì dù nó là phụ âm hầu hay âm mạc, vô thanh hay hữu thanh, tắc hay xát đều không để lại một dấu vết khu biệt nào (phần này đã được trình bày ở mục 1.1)
So sánh sự khác biệt ngữ pháp giữa PNNB và PNBB để làm nổi bật một số điểm ngữ pháp ở PNNB
4.1 Quan niệm về sự khác biệt giữa phương ngữ và NNTD về phương diện ngữ pháp:
Trong cấu trúc ngôn ngữ có hai kiểu quan hệ các từ ngữ theo trục dọc và trục ngang Các từ cùng trên một trục dọc có quan hệ liên tưởng còn gọi là quan hệ đối vị hay quan hệ hình, chúng có thể thay thế cho nhau trong một câu mà không làm thay đổi kết cấu ngữ pháp của câu Đó là sự khác biệt về từ vựng
Các từ xếp trên một trục ngang có quan hệ kết hợp, cũng được gọi là có quan hệ ngữ đoạn, chúng có chức năng ngữ pháp Ở đây sự khác biệt ngữ pháp được quan niệm như sau:
Là sự khác biệt giữa các từ làm chức năng ngữ pháp
Ví dụ: đó là sự khác biệt về ngữ khí từ của PNNB như: ha, há, hen, hén, bộ, chớ bộ của PNNB
Theo ý nghĩa trên, sự khác biệt về trật tự từ cũng là sự khác biệt ngữ pháp.Cũng có thể coi sự khác biệt về cách cấu tạo từ, cũng như sự khác biệt về cách dùng từ để làm nên danh từ cũng như sự khác biệt về ngữ pháp
4.2 Có những từ về nghĩa thì không có sự khác biệt giữa phương ngữ và NNTD, nhưng có những cách dùng, cách kết hợp của chúng trong phương ngữ lại không thể chấp nhận được trong ở NNTD, hoặc là không thể thay bằng những từ tương ứng cùng quan hệ đối vị của NNTD mà không ảnh hưởng tới kết cấu ngữ pháp của câu
4.2.1.1 Kiểu thu gọn hai từ thành một từ bằng cách dùng thanh hỏi để biến âm từ thứ nhất, cũng ảnh hưởng đặc biệt tới PNNB
Trong PNNB có kiểu rút gọn bằng cách thêm thanh hỏi để rút gon từ: trong + ấy-> trỏng trên + ấy -> trển năm + ấy-> nẳm
Và hiện tượng dùng khi nhấn mạnh, đó là: trong trỏng, bên bển, ngoài ngoải, đằng đẳng
- Nó qua bên bển rồi
- Con Mai lại đằng đẳng mua kẹo Đây là hiện tượng nhược hóa yếu tố thứ hai trong các kết cấu ông ấy, bên ấy Ở các phương ngữ khác kể cả PNBB cũng có hiện tượng nhược hóa tương tự, có điều : Ông ấy -> ông í Chị ấy -> chị í hay chĩ
Cách rút gọn trên đây còn ảnh hưỡng tới một số kết cấu ngữ pháp
(1) Chị Hương phải săn sóc mẹ hổm nay
(2) Hổm rày cháu bịnh không đi học được
Theo PNBB, phần cuối của câu một phải là “săn sóc từ hôm ấy đến hôm nay” và câu
2 phải là “mấy hôm nay” hay “ mấy bữa nay”
Như thế trong câu (1) và (2) đã có hiện tượng rút gọn sau đây:
- Từ hôm ấy đến hôm nay-> hổm nay
- Tù hôm ấy đến hôm nay, mấy bữa nay-> hổm rày
Hiện tượng rút gọn cặp từ nối “từ đến” như trên đây không phải là cá biệt, chúng ta còn gặp kiểu rút gọn đó trong các câu như:
(3) Thưở nay tôi chẳng hề bước chân qua nhà nó
(4) Chị em bây hòa thuận với nhau thưở giờ như bát nước đầy, cả nhà đầm ấm mấy mươi năm nay
- Từ thưở ấy/ nào đến nay-> thưở nay
- Từ thưở ấy/ nào đến giờ-> thưở giờ
4.2.1.2 Hiện tượng rút gọn từ phiếm định và từ chỉ định đi kèm các từ chỉ lượng cũng làm nên sự khác biệt về ngữ pháp của PNNB:
- Lớn bao nhiêu-> bao lớn
- Dài bao nhiêu->bao dai
- Xa bao nhiêu->bao xa
- Cao bao nhiêu->bao cao
(5) Lâu quá không gặp, không biết nó bao lớn rồi
(6) Sức nó bao dai mà dám chống lại ổng
(7) Từ đây đến đó còn bao xa nữa?
PNNB còn dùng bây to là rút gọn của : “to bằng chừng này”
- Lớn bằng chừng này->bây lớn
- Cao bằng chừng này->bây cao
- Nhiều bằng chừng này->bây nhiêu
(8) Nó bị u đầu một cục bây to vầy nè
(9) Mới bây lớn mà đã đua đòi Đến lượt bao nhiêu, bấy nhiêu cũng được rút gọn thành “ nhiêu”:
Bao nhiêu-> nhiêu Bấy nhiêu-> nhiêu
(10) Nhiêu đó cũng đủ làm anh mệt rồi
Như thế một từ nhiêu có thể thay cho kết cấu hỏi (bao nhiêu) và kết cấu xác định (bấy nhiêu)
4.2.2 PNNB thường dùng từ “có” để nêu sự tồn tại của sự vật Ở những trường hợp này, khi có thể, PNBB thường bỏ đi từ “có” (theo ý nghĩa đó, PNBB coi là đã dung dư từ “có”)
Có thể thấy rõ điều này trong các câu phủ định : Đừng có Không có + Động từ Chưa có
(11) Cháu đừng có buồn, má cháu đi ít bữa rồi về
(12) Con đừng có nói cho má con hay
(13) Ba tôi không có nói bữa nào về
(14) Cổ đi luôn chứ không có ghé đây
Trong các ví dụ trên, PNBB sẽ không xuất hiện từ có sau các từ từng, không, chưa Hiện tượng tương tự:
(15) Mấy ngày nay đói quá chân tôi đi không muốn nổi
Trong hiện tượng này cũng xảy ra hiện tượng biến âm theo kiểu “ông+ấy-> ổng” Đó là: không có-> hổng
(16) Lạnh quá cười cho ấm cũng hổng được nữa sao?
Nhưng rồi thói quen dùng từ “có” vẫn cứ xảy ra, thế là tạo ra lối nói “hổng có”, một lối nói dư ngay cả với PNNB
(17) Bộ bà xã ổng mập lắm hả?
- Hổng có đâu! Ở đó mà nghe cái miệng của ổng
4.2.3 Hiện tượng biến đổi thanh điệu để tạo ra các từ mang ý nghĩa mới
Ví dụ: ngọt-> ngót (hơi ngọt) “canh nấu ngót”, mặn->mẳn (hơi mặn) “cá kho mẳn”, mòn-> mỏn (mòn dần)…
Cho thấy thanh điệu được sử dụng với giá trị tương đương như một hình vị
Còn trong các trường hợp: v ậ y-> v ầ y
Ví dụ:“không phải làm vậy mà làm như vầy” m ầ y->m ậ y
Ví dụ: “ sao đứng im đó mậy?”
Việc thay đổi thanh điệu đó phụ thuộc vào bối cảnh ngữ âm của câu: mậy chỉ đứng ở cuối câu, lúc này trọng âm của câu rơi vào mậy
4.2.2 Sự khác biệt trong kết cấu trỏ ý nghĩa tuyệt đối :
4.2.2.1 Dùng cụm từ “không hà” đặt cuối câu để trỏ sự khẳng định tuyệt đối
(18) Nó không học hành gì cả , chỉ đi chơi không hà?
(19) Cây mận ra trái nào chưa?
- Chưa, chỉ có lá không hà Ở hai câu trên, theo PNBB, thay cho “không hà” chỉ là từ “thôi” hoặc “toàn là”: “chỉ đi chơi thôi” hoặc “toàn lá là lá”, “toàn hoa là hoa” Trong hai câu đó, từ “không” không được dùng để phủ định một tù nào rõ rệt cả.Với ý nghĩa đó, cách dùng “không hà” được coi là một đặc điểm ngữ pháp
4.2.2.2 Từ “hết” ở PNBB cũng như ở PNNB đều được dùng để biểu thị ý nghĩa tuyệt đối Tuy nhiên, trong PNNB chúng ta gặp:
(20) Ông ở căn nhà bìa hết
(21) Cô Hương, người ngồi lại bàn ăn sau hết hồi nãy đang ăn tráng miệng, thì ông bà Nam Thành nói
(22) Chuyến này ông ghé hết mỗi tỉnh
Có thể thấy ngay là từ “hết” ở đây được dùng rộng hơn, có khả năng kết hợp với nhiều động từ hơn ở PNBB Trong hai câu (20) và (21) , thay cho hết, PNBB dùng từ“cùng” với ý nghĩa là điểm chót của không gian hay thời gian
Ví dụ: “ Ông ở căn nhà ngoài cùng (điểm chót không gian)
“ Cô Hương, người ngồi lại bàn ăn sau cùng…”(điểm chót thời gian)
Theo ý nghĩa đó, nếu nói đó là sự khác biệt từ vựng thì đó là sự khác biệt ở lớp từ ngữ pháp (phó từ)
Sự khác biệt trong câu (22) ngoài từ hết còn là sự khác biệt về cách dùng từ mỗi
4.2.2.3 Về từ “mỗi” chúng ta còn gặp lối nói:
(23) Trường này nhận học viên mỗi ngày
Trong tiếng Việt từ mỗi cũng giống như từ một được dùng để trỏ một thành viên của một chỉnh thể , chúng kết hợp với nhau thành một cặp mỗi – một thì mới tạo thành một chỉnh thể, trỏ toàn bộ các phần tử của một chỉnh thể nào đó
- Ông quan tâm đến mỗi người theo một cách khác nhau
Trái lại, từ mọi để chỉ chỉnh thể, toàn bộ tập hợp, không thể thay bằng mỗi được, chẳng hạn:
Tóc tơ các tích mọi khi
Oán thì trả oán ân thì trả ân
Hoặc “Yêu nhau mọi việc chẳng nề.”
Trong câu trên không thể thay mọi bằng mỗi, như thế , theo PNBB, hai câu (22) và
“ Chuyến này ông ghé hết các tỉnh.” (mọi tỉnh, tất cả các tỉnh)
“Trường hợp này nhận học viên hằng ngày.”
PNBB chỉ dùng từ mỗi đứng đầu câu để trỏ lần lượt các thành viên của tập hợp, hoặc sự lặp lại các sự kiện
- Mỗi ngày uống thuốc hai lần
- Uống thuốc hai lần mỗi ngày
- Mỗi khi thay đổi thời tiết là tôi lại bị cảm
4.2.3 Cách dùng ngữ khí từ và tiểu từ:
- Bộ, anh tưởng tôi không biết sao?
- Nó đi từ sáng sớm kia đấy
- Nghen (Nghe, nhen hay nha)
- Chứ lị, chứ tưởng bở…
- Nó đi từ sáng sớm lận
- Cả ngày nó chỉ đi chơi không hà
- Người ta cũng làm được chớ bộ
- Thế anh tưởng tôi không biết sao?
- Người ta cũng làm được chứ lị
4.2.4 Những khác biệt ngữ pháp về giới từ: nơi/ ở
Cách dùng giới từ “nơi” trong PNNB tương ứng với cách dùng giới từ “ở” trong PNBB
(24) Bà phủ dứng nơi cửa.(Đò dọc)
(25) Hy vọng nơi một cuộc mai mới (Đò dọc)
(26) Nhu cầu tự khẳng định nơi mỗi chúng ta rất thôi thúc
(27) Câu trả lời của em khiến tôi thấy cay cay nơi mắt
4.2.5 Những kết hợp đặc biệt:
(28) Em Mai có phải khi không mà em dọn đi đâu
(29) Ba cô con gái khi không bỗng nổi cơn lên một lượt
Như vậy, “khi không” tương ứng với “tự dưng” hay “tự nhiên” ở PNBB
(30) Có chứng nội nhà (Đò dọc)
(31) anh Phán Tân anh rủ mình đi Cấp đi hết nội nhà, đi xe của ảnh( Đò Dọc)
Theo PNBB thì câu (30) và câu (31) phải là : “có cả nhà làm chứng”, và đi hết cả nhà Như vậy nội = cả (PNBB)
Trên đây chúng tôi đã trình bày những vấn đề tiêu biểu nhất của phương ngữ Nam
Bộ thong qua các phương diện: ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa và đã đưa ra được những điểm khác biệt nhất giữa phương ngữ Nam Bộ và các phương ngữ khác
Về vấn đề ngữ âm, hệ thống âm đầu khác với hệ thống chuẩn âm đầu của tiếng Việt, có sự biến đổi các phụ âm đầu; việc bỏ qua âm đệm trong quá trình phát âm hay âm đệm lấn át hoàn toàn các phụ âm phía sau nó; việc tồn tại một số hiện tượng biến đổi trong hê thống âm chính; số vần trong phương ngữ Nam Bộ giảm hẳn so với phương ngữ Bắc bộ (nguyên âm đôi trở thành nguyên âm đơn); hiện tượng biến đổi giữa cặp phụ âm cuối /n-/, /t-/ thành /ŋ-/, /k-/ trong hệ thống âm cuối… hay việc hệ thống thanh điệu chỉ còn 5 âm (thanh “hỏi” và thanh “ngã” được phát âm gần giống nhau) cùng nhiều biến đổi trong quá trình cấu âm đều xuất phát từ tính cách tự nhiên của người Nam Bộ Về mặt xã hội, đó là do sự chi phối của các yếu tố lịch sử, khai khẩn mở mang dần về phía Nam, có sự gián tách với tiếng Việt chuẩn Về phương diện con người, do bản tính chất phác, giản dị; linh hoạt, dễ thích nghi với môi trường mới; luôn có những thay đổi kịp thời theo hướng đơn giản và thuận tiện để phù hợp với điều kiện sinh hoạt, lao động của mình nên khi phát âm, người Nam Bộ dễ bỏ qua những phương thức phát âm rườm rà, tròn môi mà hướng đến việc tìm ra một cách phát âm đơn giản và ít tốn năng lượng hơn
Hệ thống từ vựng của phương ngữ Nam Bộ cũng chủ yếu phản ánh về đời sống, tâm tư tình cảm của con người vùng này Địa hình miền Nam chủ yếu là nằm trên đồng bằng, với nhiều dòng chảy khác nhau, thảm thực vật đa dạng phong phú cũng được phản ánh qua lớp từ vựng với rất nhiều từ chỉ sông nước, cây cối Bên cạnh đó, tâm lý coi trọng tình cảm, muốn giảm bớt sự trịnh trọng, tăng tính thân tình luôn được thể hiện qua lớp từ vựng chỉ cách xưng ho trong gia đình cũng như ngoài xã hội Việc vay mượn khá nhiều từ của các dân tộc khác cũng mang đến cho phương ngữ Nam Bộ một lớp từ vựng phong phú hơn hẳn so với các phương ngữ khác
Về ngữ pháp, phương ngữ Nam Bộ cũng có nhiều hiện tượng khác biệt nổi bật Hiện tượng rút gọn hai từ thành một; hiện tượng rút gọn từ phiếm định và từ chỉ định đi kèm các từ chỉ lượng; hiện tượng biến đổi thanh điệu để tạo ra các từ mang ý nghĩa mới (ngọt-> ngót (hơi ngọt) “canh nấu ngót”, mặn->mẳn (hơi mặn) ), hay sự khác biệt trong kết cấu trỏ ý nghĩa tuyệt đối cũng đem lại cho phương ngữ miền Nam những cú pháp ngữ pháp khác biệt so với các miền khác
Tóm lại, phương ngữ Nam Bộ là một trong những phương ngữ tiêu biểu và có ảnh hưởng lớn đối với tiếng Việt Phương ngữ là tiếng nói thân thương nhất trong đáy sâu tâm khảm của mọi người con dân đất Việt, trên các vùng miền đất nước ta Khi giao tiếp với nhau - nhất là trong ngôn ngữ viết, mọi người đều cố gắng sử dụng từ toàn dân vì phương ngữ đôi khi rất khó hiểu Nhưng với sự giao thoa và xâm nhập của các phương ngữ với nhau hiện nay thì rào cản phương ngữ cũng không còn là vấn đề quá khó khăn với những người ở vùng khác nhau Tóm lại, ngôn ngữ toàn dân tiếng Việt đang thay đổi theo một hướng tích cực hơn, không đặc biệt thiên về một phương ngữ nào nữa
1 PGS.TS Hà Quang Năng (chủ biên), Sự phát triển của từ vựng tiếng Việt nửa sau thế kỷ XX, nhà xuất bản KHXH, 2010
2 PGS.TS Vương Toàn, Tiếng Việt trong tiếp xúc ngôn ngữ từ giữa thế kỉ XX, NXB dân trí, 2011
3 Trần Thị Ngọc Lang, Phương ngữ Nam Bộ - những khác biệt về từ vựng – ngữ nghĩa- so với phương ngữ Bắc Bộ, NXB Khoa học xã hội, 1995
4 TS Lý Tùng Hiếu, Ngôn ngữ văn hóa vùng đất Sài Gòn và Nam Bộ, NXB Tổng hợp TP.HCM