1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bài giảng cơ giới hóa công tác chuẩn bị đất đá trong khai thác mỏ lộ thiên (dùng cho trình độ thạc sĩ)

20 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài giảng cơ giới hóa công tác chuẩn bị đất đá trong khai thác mỏ lộ thiên (dùng cho trình độ thạc sĩ)
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn B, PGS. TS. Trần Thị C
Trường học Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh
Chuyên ngành Khai thác mỏ
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2018
Thành phố Quảng Ninh
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc chuẩn bị đất đá để xúc bốc có thể tiến hành theo phương pháp sau: - Phương pháp cơ giới hoá máy xới, búa thuỷ lực, máy phay cắt,…; - Phương pháp khoan - nổ mìn; - Phương pháp dùng s

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP QUẢNG NINH

BÀI GIẢNG

CƠ GIỚI HÓA CÔNG TÁC CHUẨN BỊ ĐẤT

ĐÁ TRONG KHAI THÁC MỎ LỘ THIÊN

(DÙNG CHO TRÌNH ĐỘ THẠC SỸ)

Quả ng Ninh, 2018

Trang 2

BỘ CÔNG THƯƠNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP QUẢNG NINH

BÀI GIẢNG

CƠ GIỚI HÓA CÔNG TÁC CHUẨN BỊ ĐẤT

ĐÁ TRONG KHAI THÁC MỎ LỘ THIÊN

(DÙNG CHO TRÌNH ĐỘ THẠC SỸ)

Quảng Ninh, năm 2018

Trang 3

Chương 1

Khái quát chung về phương pháp chuẩn bị đất đá bằng cơ giới

1.1 Khái quát chung về các phương pháp chuẩn bị đất đá không nổ mìn

1.1.1 Các phương pháp phá vỡ đất đá không nổ mìn

1 Khái niệm chung

Phần lớn đất đá mỏ có độ cứng lớn, không thể trực tiếp xúc chúng mà phải tiến hành làm tơi sơ bộ, tức là tiến hành tách chúng ra khỏi nguyên khối và đập vỡ chúng

Đó là khâu công nghệ đầu tiên trong dây chuyền sản xuất trên mỏ lộ thiên

Việc chuẩn bị đất đá để xúc bốc có thể tiến hành theo phương pháp sau:

- Phương pháp cơ giới hoá (máy xới, búa thuỷ lực, máy phay cắt,…);

- Phương pháp khoan - nổ mìn;

- Phương pháp dùng sức nước (súng bắn nước, ống thấm rã…);

- Phương pháp vật lý (dòng điện cao tần, dòng thấp tần, nhiệt, hạt nhân…);

- Phương pháp hoá học

Việc lựa chọn phương pháp chuẩn bị đất đá để xúc bốc trước hết phụ thuộc vào những tính chất và cấu tạo của đất đá mỏ (tính chất cơ lý, tính chất hoá, thế nằm, cấu trúc vỉa, kiến tạo…), công suất của mỏ lộ thiên, thiết bị sử dụng và các yêu cầu về chất luợng sản phẩm mỏ (thành phần, cỡ hạt, hàm lượng thành phần có ích…) Ngoài ra còn phải quan tâm tới những yêu cầu về ổn định bờ mỏ, ổn định định sườn tầng trong quá trình là việc của mỏ Thông thường, phương pháp chuẩn bị đất đá để xúc bốc bằng khoan - nổ mìn được sử dụng phổ biến nhất, sau đó là phương pháp cơ giới Phương pháp sức nước cũng được dùng trong một số trường hợp Các phương pháp còn lại ít được sử dụng do giá thành cao, công suất nhỏ hoặc nguy hiểm như sử dụng năng lượng hạt nhân

2 Các phương pháp phá vỡ đất đá không nổ mìn

a Làm mềm đất đá bằng phương pháp hóa lý

Trong cơ chế thị trường với những cuộc đấu tranh nghiệt ngã về giá cả, buộc các

mỏ lộ thiên phải thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm mỏ và giảm chi phí sản xuất, cũng như giảm vốn đầu tư cơ bản bằng cách áp dụng các giải pháp mới trong kỹ thuật và công nghệ khai thác mà phương pháp điều khiển thuộc tính cấu trúc độ bền của đất đá bóc là một trong những giải pháp đó Trong điều kiện mỏ có đất

đá cứng vừa thì có thể tiến hành xúc bóc trực tiếp mà không cần nổ mìn nhờ xử lý khối

đá bằng dung dịch làm mềm trên cơ sở các hoạt chất bề mặt, còn đối với mỏ có đất đá cứng thì tiến hành chuẩn bị bằng cách phối hợp khoan nổ với dung dịch làm mềm Bằng cách đó cho phép giảm đáng kể chi phí khoan nổ, cải thiện chất lượng đá cho khâu xúc bốc, nâng cao năng suất máy xúc, giảm chi phí năng lượng, cải thiện các chỉ tiêu môi sinh và dẫn đến giảm chi phí sản xuất

Hiện nay, trên các mỏ khai thác lộ thiên, hơn 80 % khối lương đất đá mỏ cần phải làm tơi sơ bộ để có thể xúc bốc bằng các máy xúc hiện có Việc làm tơi đất đá

Trang 4

bằng khoan - nổ mìn phải sử dụng một chỉ tiêu thuốc nổ tới 0,40,5 kg/m3, đồng thời phải cần tới một số lượng lớn thiết bị khoan, phương tiện vận tải và công nhân phục

vụ làm cho chi phí khoan - nổ chiếm từ 2530 % giá thành chung Hơn nữa khi tiến hành nổ mìn sẽ làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng khoáng sản khai thác do sự trộn lẫn đất đá và KSCI ở lớp tiếp xúc giữa chúng

Công tác khoan, đặc biệt là nổ mìn có ảnh hưởng xấu đến môi trường xung quanh Kết quả thực nghiệm trên các mỏ lộ thiên nước ngoài cho thấy cứ 1m3 đất đá

nổ mìn tung vào khí quyển trung bình 20 g bụi, 1 kg thuốc nổ phát tán vào khí quyển

100 lít khí độc hại Các chất độc hại từ bãi mìn có thể lan xa với khoảng cách trên 20

km Khối lượng của đám mây bụi khí khi nổ mìn chứa với lượng thuốc nổ trên 30 tấn đạt trên 19 triệu m3 Chiều dài phân bố của đám mây đạt từ 715 km và lớn hơn trong đám mây có chứa khí độc lớn nhất là ôxit nitơ, khí độc này tồn tại trong khí quyển tới 15 ngày Mặt khác, để đảm bảo an toàn khi tiến hành nổ mìn yêu cầu phải ngừng sản xuất mỏ theo chu kỳ và chuuyển thiết bị ra khỏi vùng ảnh hưởng của công tác nổ mìn, dẫn đến giảm năng suất thiết bị Rõ ràng là bằng phương pháp giảm độ bền của đất đá để có thể xúc bốc trực tiếp mà không cần làm tơi sơ bộ bằng nổ mìn, dẫn đến giảm chi phí nguyên vật liệu và cải thiện đáng kể điều kiện sinh thái của khu vực

Đất đá mỏ là các vật thể xốp có nguồn gốc tự nhiên với cấu trúc và thành phần hoá học rất đa dạng Sự tác động tương hỗ của các vật thể xốp này xảy ra trong môi trường biến tính nhờ thuộc tính đặc biệt của bề mặt Trong các khoảng trống của đất

đá xuất hiện các quá trình thấm, tẩm ướt, sự hấp phụ, sự ngưng kết mao dẫn, các hiện tương điện động học v.v… Các quá trình trao đổi đó phụ thuộc vào tính chất cơ lý đất

đá mỏ, cũng như tính quy luật và cơ chế hấp phụ của các quá trình phá huỷ, biến dạng đất đá mỏ

Sự tác động tương hỗ của các phần tử chất lỏng trên bề mặt đất đá dẫn đến sự thay đổi lực tương tác giữa các phần tử, cấu trúc và độ bền của hệ thống xốp Do vậy, khi bổ sung chất phụ gia vào môi trường phân tán này sẽ làm thay đổi điện tích hay tính háo nước bề mặt của các phân tử Các chất phụ gia này có thể là muối, ôxit, chất kiềm hoặc chất hoạt tính bề mặt hữu cơ

Vai trò của chất hoạt tính bề mặt trong quá trình tác động qua lại hoá - lý của các dung dịch nước với bề mặt đất đá rất đa dạng Trước hết, chất hoạt tính bề mặt làm tăng tính háo nước của bề mặt đất đá, tạo khả năng thấm ướt bề mặt vật liệu, đặc biệt

là các lỗ nhỏ, đảm bảo sự hình thành các màng mỏng thấm ướt và hấp thụ nước trong đất đá Bằng cách như vậy, chúng tạo ra khả năng vận chuyển nước và nhờ các cation hyđrát hoá chưa trong đó mà dãn tới sự hình thành màng dung dịch thấm ướt, điều này làm xuất hiện các lực bề mặt Sự hấp thụ phân tử hay ion chất hoạt tính bề mặt trên bề mặt đất đá có thể tạo khả năng dẻo hoá vật liệu

Sự tác động qua lại của đất đá mỏ với môi trường nước xảy ra nhờ quá trình thấm

và hút Dung dịch nước khi thấm theo các kẽ nứt, do sự mao dẫn làm lấp đầy không gian lỗ hổng của đất đá Trong quá trình thấm và hút của dung dịch trên bề mặt vật liệu đất đá hình thành một màng thấm ướt làm thay đổi mật độ dung dịch và có thể dẫn đến thay đổi cấu trúc của đất đá xốp

Trang 5

Thực nghiệm chỉ ra rằng để xử lý các bề mặt phía trong và phía ngoài nhằm lấp đầy khoảng trống trong đất đá mỏ, đồng thời làm mềm có hiệu quả chúng cần sử dụng dung dịch nước có ứng suất thấm ướt cao tuỳ theo từng loại đất đá cụ thể Các dung dịch đó có thể là dung dịch chứa chất hoạt tính bề mặt và các chất phụ gia khác có chứa các cation và nồng độ pH cao

Kết quả thực nghiệm cũng cho thấy việc làm mềm alêvrôlit có thể đạt 50 %, còn đất đá cứng không lớn hơn 35 % Khi đó hệ số dòn của đất đá (tỷ số giữa độ bền nén

và độ bền kéo) sau quá trình tác động làm mềm của dung dịch được tăng lên

Ngoài ra, sự bão hoà các lỗ rỗng của đất đá làm giảm tương đối mức độ tạo thành bụi khi phá huỷ Sự giảm độ bền của đất đá bằng dung dịch làm mềm cũng dẫn đến làm giảm đáng kể sự mài mòn các dụng cụ phá huỷ đất đá Ở áp suất nhất định có thể làm giảm sự mài mòn kim loại khoảng 2 lần, còn hợp kim cứng 5 lần

Các thực nghiệm công nghiệp trên các mỏ lộ thiên của Nga cho thấy, mặc dù không dùng khoan nổ mìn, nhưng chi phí năng lượng cho khâu xúc bốc giảm xuống nhiều Năng lượng trung bình phá huỷ khối đá khí làm mềm bằng phương pháp hoá -

lý không vượt quá 65 kWh/t, trong khi làm tơi bằng phương pháp khoan nổ mìn là 90 kWh/t, còn đối với đá nguyên khối là lớn hơn 180 kWh/t Năng suất máy xúc rôto tăng

từ 3200 lên 4300 t/h khi khai thác khối đá được làm mềm bằng phương pháp hoá - lý

Sự tạo thành bụi khi phá huỷ và xúc bốc cũng giảm tới 3035 %

Để chuẩn bị cho xúc bốc đất đá cứng trong trường hợp làm mềm bằng phương pháp hoá - lý không đạt được mức độ cần thiết cho máy xúc làm việc cần sử dụng phương pháp phối hợp - đó là làm mềm bằng phương pháp hoá lý kết hợp khoan nổ mìn Trong trường hợp này mức tiết kiệm thuốc nổ có thể đạt tới 3035 %, cải thiện được điều kiện sinh thái, giảm khối lượng khoan, cải thiện được chất lượng chuẩn bị đống đá cho để xúc bốc (giảm cỡ hạt đất đá tới 30 % so với khoan nổ mìn thông thường), giảm chi phí năng lượng, cải thiện các chỉ tiêu sinh thái và dẫn đến giảm chi phí sản xuất Khi đó sự làm mềm hoá - lý được xem như là một trong những yếu tố điều khiển các thông số khoan nổ mìn nhằm mục đích nâng cao hiệu quả khoan - nổ, giảm ảnh hưởng xấu tới môi trường sinh thái

Thực tế cũng cho thấy phương pháp làm mềm đất đá bằng hoạt tính bề mặt sẽ giữ cấu trúc vĩ mô, nên đảm bảo giảm tổn thất và làm bẩn khoáng sản có ích trong quá trình khai thác.Với mục đích để xác định mức độ làm mềm và các thông số công nghệ mẫu, trên một số mỏ khai thác lộ thiên của LB Nga đã tiến hành thử nghiệm chuẩn bị đất đá cứng để xúc bốc bằng phương pháp kết hợp và đưa ra trật tự tiến hành cùng các thông số cơ bản sau:

1 - Khu vực xúc được khoan thành các lỗ khoan theo mạng 8x8 m (thay cho mạng 6.5x6,5 m) Giữa các mạng lỗ khoan nổ mìn tiến hành khoan các lỗ khoan phụ với độ sâu bằng 1/3 chiều cao tầng

2 - Dung dịch làm mềm bao gồm khối lượng chất hoạt tính bề mặt là 0,1 % NaCl hay Na2CO3 là 0,5 % (phụ thuộc vào hàm lượng cacbonat có trong đất đá) Chỉ tiêu của dung dịch đối với công nghệ đã nêu không vượt quá 12 l/m3 đất đá Dung dịch được chia theo lỗ khoan phụ

Trang 6

3 - Giữ nguyên khu vực trong ngày sau khi nạp dung dịch

4 - Nạp thuốc nổ vào trong các lỗ khoan Chỉ tiêu thuốc nổ giảm từ 0,41 kg/m3

xuống còn 0,28 kg/m3 nhờ mở rộng mạng lỗ khoan

5 - Tiến hành nổ mìn

6 - Có thể tiến hành xúc bóc bằng MTTG Bằng phương pháp này có thể tiết kiệm cho công tác khoan là 10 % và thuốc nổ là 3040 % so với phương pháp thông thường Đây là một trong những giải pháp công nghệ mới làm tơi đất đá không chỉ giảm chi phí cho việc bóc 1m3 đất đá, góp phần nâng cao hiệu quả khai thác mà còn là một trong những giải pháp tích cực nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường khai thác mỏ lộ thiên Sự ra đời của giải pháp công nghệ này được coi như là một đột biến lớn làm thay đổi về chất đầu tiên của dây truyền sản xuất trên mỏ lộ thiên

b Chuẩn bị đất đá bằng công nghệ đặc biệt

Tờ Ugol số 10 xuất bản năm 1995 (LB Nga) thông báo rằng người ta đã nghiên cứu thành công chất phá đá NPV-7B bao gồm vôi sống và 2/3 chất phụ gia trộn với tỷ

lệ 36 % để phá vỡ đất đá mà không cần nổ mìn Các lỗ khoan được bố trí trong mạng theo các thông số xác định, sau đó bơm đầy bơm đầy dung dịch NPV-7B với nước Do phản ứng hoá học chất này đông kết và trương nở tạo áp lực lớn lên thành lỗ khoan Khi áp lực này vượt giới hạn bền của đất đá vây quanh thì bắt đầu xuất hiện các nứt nẻ trong khối đá Quá trình hyđrat hoá làm áp suất tiếp tục tăng dẫn đến sự mở rộng dần khe nứt cho đến khi khối đá bị phá vỡ hoàn toàn Quá trình hoạt động của NPV-7B không gây chấn động, không bụi, không xả khí độc vào môi trường Phương pháp này gọi là công nghệ phá đá sạch ở nhiệt độ thấp

Gần đây, công ty Cardox International đã chế tạo thành công thiết bị phá đá Cardox Tube Thiết bị này sử dụng khí đioxit cacbon để tạo ra một lực nén cực mạnh làm rạn nứt và phá vỡ bề mặt khối đá đồng thời nâng các tảng đá bị phá vỡ lên trên bề mặt Cardox Tube làm việc hiệu quả không thua kém gì so với việc dùng thuốc nổ, không bụi rất an toàn người vận hành không cần tránh xa như nổ mìn Lần đầu thiết bị này được sử dụng để phá vỡ các mỏ than có nguy cơ về cháy nổ, nhưng hiện nay nó được dùng trong các mỏ khai thác quặng, vật liệu xây dựng,… ở Anh và nhiều nước khác

1.1.2 Các thiết bị cơ giới có khả năng phá vỡ trực tiếp đất đá

1 Làm tơi đất đá bằng máy xới

a Khả năng công nghệ của máy xới trong khai thác mỏ

Máy xới thực chất là máy kéo bánh xích, phía sau máy được lắp một bàn xới có

15 răng, phía trước là lưỡi gạt (Hình 1.1) Để xới đất đá cứng thường dùng một răng,

để xới đất đá đặc xít thường dùng bàn xới có lắp nhiều răng nhằm tăng năng suất của máy xới Những hãng thiết bị hàng đầu chế tạo thiết bị này là Caterpillar (Mỹ) và Komatsu (Nhật Bản),…

Trang 7

Hình 1.1 Máy xới D-11N của hãng Caterpillar

Việc sử dụng phương pháp gắn treo lưỡi xới phía sau đầu kéo là một biện pháp mới, đồng thời với việc sử dụng các hệ thống thuỷ lực và các loại đầu kéo có công suất lớn đã làm tăng năng suất và hiệu quả thiết bị này Theo công suất động cơ có thể chia

ra :

- Máy loại nhỏ: N < 100 kw

- Máy loại trung bình: N = 100200 kw

- Máy loại lớn: N = 200400 kw

- Máy loại rất lớn: N > 400 kw Chiều sâu xới từ 0,40,5 m đến 1,82,0 m tuỳ thuộc vào tính chất đất đá và kiểu máy Sau mỗi lượt xới đất đá được bàn gạt vun lại và dùng máy bốc hoặc máy xúc chất lên ô tô để vận chuyển đi

Trong những năm gần đây, từ kết quả đạt được với những lợi ích to lớn của nó, việc làm tơi đất đá bằng máy xới thay cho công tác khoan - nổ mìn truyền thống đã trở nên phổ biến Việc sử dụng máy xới để chuẩn bị đất đá cho xúc bốc cho phép bóc chọn lọc tốt các thân khoáng và lớp đất đá mỏng, giảm tổn thất và làm bẩn KSCI trong quá trình khai thác, điều chỉnh tốt cỡ đá, loại trừ sóng chấn động tới bờ mỏ, nâng cao

ổn định bờ mỏ, nâng cao góc bờ kết thúc, giảm khối lượng đất đá bóc, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả khai thác, công tác mỏ được tiến hành an toàn Ngoài ra, còn làm tăng hiệu quả sử dụng của máy ủi, máy bốc, máy xúc Đồng thời cũng giảm chi phí làm tơi, góp phần tăng hiệu quả khai thác khoáng sản Máy xới làm việc hiệu quả khi khai thác than, quặng phôtphorit, aptit, diệp thạch, cát kết, bột kết, đá vôi cứng vừa, cũng như khoáng sàng, đất đá nứt nẻ nhiều và có cấu tạo phân lớp

Kinh nghiệm sử dụng cho thấy, hiệu quả làm tơi của máy xới phụ thuộc vào công suất máy, áp lực lên bánh xích, góc cắm răng vào đá, độ bền và mức độ nứt nẻ của đất

đá, thế nằm của lớp đá và hướng mặt lớp Đối với đất đá có độ kiên cố nhỏ hoặc trung bình (f78) nứt nẻ mạnh từ cấp IIII với độ cứng âm học 2000 m/s (đặc biệt là

Trang 8

loại có độ cứng âm học dưới 1500 m/s) có thể sử dụng máy xới để làm tơi thay thế

hoàn toàn công tác khoan - nổ mìn với giá thành rẻ hơn 5060 % Để xới loại đá

cứng vừa, cần dùng máy xới có công suất lớn trên 200 kW, tới 500 kW Lưỡi xới và

bàn gạt được điều khiển bằng thuỷ lực Việc sử dụng máy xới phổ biến ở LB Nga,

CHLB Đức, Mỹ, Nhật Bản,… Máy xới lớn nhất hiện nay là D575A-3 của hãng

Komatsu (Nhật Bản) có công suất 828 kW

Máy xới làm tơi và vụn đống đất đá để cho máy bốc, máy xúc hoặc máy cạp xúc

và chuyển tải ra bãi thải Các yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng tới khả năng xới của máy

là độ cứng và sự nứt nẻ của đá Đá càng bền vững và càng ít nứt nẻ, càng đòi hỏi máy

có công suất lớn Trước đây khoảng 30 năm, chỉ có thể xới được những loại nham

thạch có tốc độ truyền âm trong khối dưới 2300 m/s Những thập niên qua, máy xới

càng hoàn thiện, công suất động cơ của máy ngày càng lớn, cho đến nay đã xới được

những nham thạch có tốc độ truyền âm tới 3800 m/s (tốc độ truyền âm là một thông số

vật lý tổng hợp của nham thạch: đá càng bền vững, càng ít nứt nẻ, tốc độ truyền âm

càng lớn)

Giữa tốc độ truyền âm của nham thạch và công suất động cơ của máy xới có mối quan hệ tương đối chặt chẽ (với hệ số tương quan r = 0,93 ) như sau:

N = 0,19 Ve - 60 , kW (1-1) Trong đó: Ve - tốc độ truyền âm dọc của đất đá, m/s Công thức thực nghiệm đúng trong giới hạn 800 m/s Ve 3500 m/s Tương ứng với công suất động cơ trên

máy xới có trọng lượng G (gồm cả bộ phận xới):

G = 0,172N – 0,46 , tấn (với r = 0,98) (1-2) Công thức này nghiệm đúng trong giới hạn 223 kWN745 kW

Như vậy, khi sử dụng phương pháp làm tơi bằng máy xới cần nắm được 2 thông

số cơ bản của thiết bị (công suất động cơ N và trọng lượng máy G) và tốc độ truyền

âm của nham thạch (Ve)

Hình 1.2 Sản lượng của máy xới phụ thuộc vào công suất máy N và

tốc độ truyền âm V e

Trang 9

Nếu đất đá có tốc độ truyền âm trên 2000 m/s thì các loại máy xới D9R, D10R, D11R của hãng Caterppilar (Mỹ) hoặc D275A, D375A, D475A, D575A của Komatsu (Nhật Bản) và các máy xới T-500, T-75-01 của LB Nga mới có thể xới được

Các loại đá thuộc trầm tích chứa than như: ácgilit, bột kết, cát kết, cuội kết nếu tốc độ truyền âm không quá 25003000 m/s đều có thể làm tơi bằng máy xới D11R thay thế cho công tác khoan - nổ mìn

b Công nghệ xới đá cứng

Các thông số của bộ phận công tác của máy xới gồm góc cắt , góc nhọn đầu răng cắt , góc sau , chiều dày và chiều dài của răng, khoảng cách giữa các răng (Hình 1.3)

Góc nhọn đầu răng xới  thường bằng 2030o Góc  phải chọn sao cho để ngập răng với góc sau = 57o khi xới đá cứng và cứng vừa Việc giảm góc  sẽ dẫn đến hiện tượng vò nát ở mặt sau của đầu răng xới, làm tăng độ mài mòn cũng như làm tăng sức cản của đất đá khi xới Chỉ tiêu xới phụ thuộc vào góc cắt  Máy đạt hiệu quả cao nhất với góc cắt 4552,5o

Hình 1.3 Sơ đồ bộ phận làm việc của răng xới

Khi máy xới làm việc thì đất đá bị phá vỡ trong giới hạn rãnh đào hình thang (Hình 9.4) Trong đống đất đá đồng nhất ở phần dưới của rãnh đào được tạo nên một rãnh con chiều rộng đáy là b’ gần bằng chiều rộng của đầu răng xới b, còn chiều cao hr

=(0,150,2)hn , trong đó hn là chiều cao ngập răng Góc nghiêng của thành rãnh đào  thay đổi từ 4060o tuỳ thuộc vào mức độ khó xới của đất đá Việc xới đất đá nứt nẻ chủ yếu do sự khắc phục liên kết theo bề mặt tiếp xúc giữa các khối đất đá Đất đá bị phá vỡ mạnh trong giới hạn chiều sâu ngập răng (Hình 1.4)

Mức độ khó xới của đất đá được xác định bằng khả năng ngập sâu của răng xới

hn và độ cứng cũng như độ nứt nẻ của đất đá trong khối Quá trình phá vỡ trong đất đá đồng nhất chủ yếu xẩy ra do khắc phục sức cản kéo của nó, với trong đất đá nứt nẻ do khắc phục lực liên kết

Quá trình xới đất đá của máy xới được tiến hành chủ yếu theo 3 sơ đồ cơ bản sau đây:

- Xới đất đá theo lớp ngang, sau đó xúc chuyển bằng máy cạp hoặc dùng máy xúc, máy bốc chất lên ô tô

Trang 10

- Xới đất đá theo lớp ngang, sau đó dùng máy ủi gạt đất đá xuống mặt tầng dưới, sau đó dùng máy bốc hoặc máy xúc chất lên ô tô

- Xới đất đá theo lớp nghiêng (< 20o), theo hướng từ trên xuống dưới Chiều dài luồng xới hợp lý trong khoảng 7090 m

Hình 1.4 Sơ đồ xới đá bằng máy xới

Việc xới đất đá có thể bằng các luồng song song kề nhau trên mặt phẳng ngang hay trên mặt xiên Các sơ đồ làm tơi đất đá của máy xới thể hiện trong hình 5.5 Khi xới theo lớp xiên (đến 20o) thì lực kéo của máy xới được sử dụng nhiều nhất khi hành trình làm việc xuống dốc và chạy không tải lên dốc Sơ đồ công nghệ bóc đất đá theo lớp nghiêng trong hình 9.6 Để xới đất đá cứng, với hn  2 m, đá nhóm I, II, xới các rạch song song ở hai hướng; đá nhóm III, sử dụng rạch dọc - ngang với bước xới 0,70,9 m

Hình 1.5 Các sơ đồ công nghệ làm tơi đất đá bằng máy xới

a, b, c - Rạch kề nhau: dọc - tròn; xoáy trôn ốc; chuyển; d, e, h - Rạch xen nhau: dọc

tròn; xoáy trôn ốc; zíczắc; k - kề nhau: dọc ngang

a

)

b )

)

)

k)

Ngày đăng: 27/02/2023, 18:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w