Tài liệu tham khảo kinh tế đầu tư: thu hút nguồn vốn FDI vào các KCN trên địa bàn tỉnh Thái Bình
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Khu công nghiệp (KCN) là một mô hình kinh tế mới ở Việt Nam, nóxuất hiện trong những năm đầu của thập kỷ 90 Tuy thời gian phát triển chưadài nhưng cũng đủ để các Khu công nghiệp kịp khẳng định vai trò to lớn củamình trong công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Trong nhữngđóng góp của Khu công nghiệp đó phải kể đến sự xuất hiện của nguồn vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đây là một yếu tố hết sức quan trọng màbất cứ Khu công nghiệp nào khi xây dựng đều đặt mục tiêu tăng cường thuhút nguồn vốn đó để phát triển Chính vì vậy, Nghị quyết đại hội đại biểu toànquốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: “Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa của nước ta, được khuyến khích lâu dài Thu hút đầu tư trựctiếp nước ngoài là chủ trương quan trọng, góp phần khai thác các nguồn lựctrong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền sản xuấthiện đại, vững mạnh phục vụ cho cả nhu cầu trong nước và xuất khẩu, có khảnăng hỗ trợ và kích thích phát triển năng lực cho các ngành khác, tiến tới đổimới toàn bộ xã hội”
Trong giai đoạn hiện nay, khi tình hình kinh tế thế giới đang lâm vàokhủng hoảng thì việc thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI vào các Khu côngnghiệp nói chung đều hết sức khó khăn do vậy cần có những giải pháp, chínhsách cụ thể nhằm đẩy mạnh việc thu hút đó
Qua thời gian thực tập ở sở Kế hoạch và Đầu tư Thái Bình, được tiếpcận nguồn tài liệu của cơ quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh, đặc biệt
là vào các khu công nghiệp đã giúp tôi có được cái nhìn tổng quan nhất về thựctrạng việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian qua từ
Trang 2đó đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm cải thiện thực trạng đó Do vậy, tôi đã
quyết định lựa chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các Khu công nghiệp ở Thái Bình giai đoạn 2009 -2015”
Đề tài nghiên cứu góp phần giải quyết vấn đề đang được quan tâm nhất
hiện nay trong phát triển và quản lý các khu công nghiệp đó là: “Làm thế nào để tăng cường tre4thu hút nguồn vốn FDI vào các KCN trên địa bàn tỉnh Thái Bình?” Việc trả lời câu hỏi đó được cụ thể hóa trong các chương của Luận văn.
Do vậy kết cấu của đề tài là:
Chương I: Lý luận chung về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và về khucông nghiệp
Chương II: Thực trạng thu hút FDI vào các Khu công nghiệp ở TháiBình giai đoạn 2002–2008
Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường thu hútFDI vào các Khu công nghiệp ở tỉnh Thái Bình giai đoạn 2009–2015
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Các khu công nghiệp đã và đang sử
dụng nguồn vốn FDI để phát triển trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong thời gianqua (2002-2008)
Phương pháp nghiên cứu:
+ Thu thập tài liệu và báo cáo tổng hợp của sở Kế hoạch – Đầu tư Thái
Bình, Phòng quản lý đầu tư, ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Thái Bình
về đầu tư trực tiếp nước ngoài
+ Tổng hợp và phân tích số liệu từ các tài liệu đã thu được bằng cácphương pháp thống kê…
Trang 3Để hoàn thiện đề tài này trở thành luận văn tốt nghiệp chuyên ngành củamình, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ nhiệt tình từ khi định hướng đề tàiđến khi hoàn thiện nó Vì vậy, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Giảng viên – Thạc sỹ Nguyễn Thị Hoa, Khoa Kế Hoạch và Phát triển
đã hướng dẫn tôi về mặt lý luận và việc vận dụng nó vào giải quyết vấn đềnghiên cứu
Các cán bộ của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thái Bình tạo điều kiện cho tôihoàn thành thực tập chuyên ngành tại cơ quan
Các cán bộ phòng quản lý đầu tư – Ban quản lý các Khu công nghiệptỉnh Thái Bình đã cung cấp tài liệu và hướng dẫn tôi xử lý số liệu đó phục vụcho phân tích vấn đề
Hà Nội, ngày 27 tháng 05 năm 2009
Sinh viên: Phạm Thị Ngát
Trang 4
CHƯƠNG I:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI VÀ VỀ KHU CÔNG NGHIỆP
I VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Thực tế đã chứng minh rằng trong xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóahiện nay, không một quốc gia nào trên thế giới có thể phát triển được mà không
sử dụng nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài Tuy nhiên, vốn đầu tư nước ngoàiđược chia làm hai loại là: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và đầu tư gián tiếpnước ngoài (bao gồm các nguồn viện trợ chính thức ODA, viện trợ của các tổchức phi chính phủ NGO, Vay thương mại) do đó phải biết cách cân đối giữacác nguồn vốn đầu tư nước ngoài sao cho thật hợp lý Đầu tư trực tiếp nướcngoài luôn được quan tâm hơn bởi nó không mang tính ràng buộc về chính trịgiữa các quốc gia, vì vậy tăng cường thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài là một chủ trương quan trọng của các nước đang phát triển nói chung vàViệt Nam nói riêng
Đầu tư trực tiếp nước ngoài dưới góc nhìn của quỹ tiền tệ quốc tế IMF
là đầu tư có lợi ích lâu dài của một Doanh nghiệp tại nước khác (nước nhậnđầu tư), không phải tại nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước đi đầutư) với mục đích quản lý một cách có hiệu quả Doanh nghiệp
Còn theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc thì, Đầu tư trực tiếp nướcngoài là đầu tư có mối liên hệ, lợi ích và sự kiểm sóat lâu dài của một phápnhân hoặc một thể nhân (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc công ty mẹ) đốivới một doanh nghiệp ở một nền kinh tế khác (Doanh nghiệp FDI hoặc chinhánh nước ngoài)
Trang 5Việt Nam cũng đưa ra quan điểm riêng của mình về đầu tư trực tiếpnước ngoài được thể hiện trong Luật đầu tư 2005 như sau: Đầu tư trực tiếpnước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiềnhoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định củaluật này.
Tuy có nhiều khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI nhưng đềumang ý nghĩa tương tự, đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư quốc
tế mà chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay một phần đủ lớn vốn đầu tư,công nghệ, kỹ thuật, chuyên gia, nguyên vật liệu…của một dự án để khai thácmột số lĩnh vực nào đó nhằm thu lợi nhuận Và nó mang những đặc điểm sau:
- Đây là hình thức đầu tư bằng vốn của nhà đầu tư, họ tự chịu tráchnhiệm về lỗ lãi Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả cao
- Chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu
là Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệphoạt động theo tỷ lệ góp vốn của mình
- Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước chủ nhà có thể tiếpnhận được công nghệ tiên tiến, học hỏi được kinh nghiệm tổ chức, quản lý làmục tiêu mà các hình thức khác không giải quyết được
- Nguồn này không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của hoạt động mà
nó còn bao gồm cả vốn của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự áncũng như đầu tư từ lợi nhuận thu được
Như vậy dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có một ý nghĩa đặc biệtquan trọng, nó không những giúp chúng ta giải quyết được vấn đề thiếu vốnđầu tư mà còn góp phần giải quyết công ăn việc làm, đẩy mạnh quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế và đặc biệt là kênh hiệu quả để thực hiện chiếnlược chuyển giao công nghệ đối với các nước đang phát triển như Việt Nam
Trang 62 Các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trong thực tiễn có nhiều hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài được ápdụng là:
a Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh
Là văn bản được ký kết của hai hay nhiều bên quy định trách nhiệm vàphân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh ởViệt Nam mà không cần thành lập một tư cách pháp nhân Do đó nó mangđặc điểm sau:
- Không ra đời một pháp nhân mới
- Cơ sở hình thành của hình thức này là hợp đồng hợp tác kinh doanh.Trong hợp đồng nội dung chính phản ánh trách nhiệm và quyền lợi giữa cácbên với nhau
- Thời hạn cần thiết của hợp đồng do các bên thỏa thuận phù hợp với tínhchất mục tiêu kinh doanh và được cơ quan cấp giấy phép kinh doanh chuẩn
- Hợp đồng phải do đại diện của các bên có thẩm quyền ký, trong quátrình hợp tác kinh doanh các bên giữ nguyên tư cách pháp nhân của mình
b Doanh nghiệp liên doanh
Theo khoản 2 điều 2 luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam quyđịnh doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai hay nhiều bên hợp tácthành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng kinh doanh hoặc hiệp định kýgiữa chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam và chính phủ nướcngoài; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp ViệtNam; các doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ
sở hợp đồng liên doanh Hình thức này có đặc điểm:
- Thành lập pháp nhân mới hoạt động trên nguyên tắc hạch toán độclập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn Các bên chịu trách nhiệm vềphần vốn của mình
Trang 7- Phần góp vốn của bên hoặc của các bên nước ngoài không hạn chếmức tối đa nhưng tối thiểu không dưới 30% vốn pháp định và trong quá trìnhhoạt động không giảm vốn pháp định.
- Cơ quan cao nhất của doanh nghiệp liên doanh là hội đồng quản trị
mà thành viên của nó do mỗi bên chỉ định tương ứng với tỷ lệ góp vốn củamỗi bên nhưng ít nhất phải hai người Hội đồng quản trị có quyền quyết địnhnhững vấn đề quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp theo nguyên tắcnhất trí
- Các bên tham gia liên doanh phân chia lợi nhuận và phân chia rủi rotheo tỷ lệ góp vốn của mỗi bên trong vốn pháp định hoặc theo thỏa thuận giữacác bên
- Thời hạn hoạt động không quá 50 năm trong trường hợp đặc biệtđược kéo dài hơn nhưng không quá 20 năm nữa
c Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Theo điều 26 Nghị định 12 CP quy định: Doanh nghiệp 100% vốn đầu
tư nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài thànhlập tại Việt Nam, tự quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinhdoanh “Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hìnhthức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân theo pháp luật ViệtNam Thời gian hoạt động không quá 50 năm kể từ ngày được cấp giấyphép”
d Hợp đồng Xây dựng – vận hành – chuyển giao ( BOT)
Theo điều 12 khoản 2 luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì Hợpđồng xây dựng – vận hành – chuyển giao là văn bản ký giữa cơ quan có thẩmquyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng kinh doanh côngtrình kết cấu hạ tầng trong thời hạn nhất định, hết thời hạn nhà đầu tư nướcngoài chuyển giao không bồi thường công trình đó cho Việt Nam
Trang 8e Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – vận hành
Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – vận hành là văn bản ký kết giữa
cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài xâydựng công trình kết cấu hạ tầng, sau khi xây dựng xong nhà đầu tư nướcngoài chuyển giao công trình đó cho nhà nước Việt Nam Chính phủ ViệtNam dành cho nhà đầu tư kinh doanh trong một thời gian nhất định để thu hồivốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý
f Hợp đồng xây dựng chuyển giao (BT)
Theo khoản 13 điều 2 luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì: Hợpđồng xây dựng chuyển giao là hợp đồng ký kết giữa cơ quan nhà nước cóthẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng kết cấu hạtầng Sau khi xây dựng xong nhà đầu tư chuyển giao công nghệ đó cho nhànước Việt Nam Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoàithực hiện các dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý
II KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA KHU CÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở THÁI BÌNH
1 Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của khu công nghiệp (KCN)
1.1 Khái niệm
Mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ đều có chủ trương xây dựng nhữngkhu vực tập trung để thu hút vốn đầu tư đặc biệt là vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài Trước nhu cầu đó việc xây dựng các Khu công nghiệp bùng nổ ở cácnước phát triển và đang phát triển nhằm hình thành các khu phát triển khoahọc – kỹ thuật – công nghệ và thu hút đầu tư trong nước và ngoài nước, dovậy Khu công nghiệp xuất hiện ở hầu hết các quốc gia Mặc dù thuật ngữKCN được sử dụng khá phổ biến nhưng nó bao gồm nhiều loại hình, nhiều
mô hình tổ chức có tính chất hoạt động khác nhau Một số loại hình KCN phổbiến trên thế giới là:
Trang 9+ Công viên công nghiệp ( Industrial park).
+ Vùng công nghiệp (Industrial districts)
+ Khu công nghiệp (Industrial zones)
+ Khu chế xuất (Export Processing zones)
+ Khu công nghệ cao (High tech centres)
+ Đặc khu kinh tế (Special economic zones)…
Như vậy, KCN là một thuật ngữ để chỉ một vùng lãnh thổ quốc giađược xác định ranh giới địa lý rõ ràng trong đó các Doanh nghiệp côngnghiệp tập trung đầu tư, hoạt động, phát triển do đó có cơ sở vật chất, hạ tầngtốt, có môi trường kinh doanh tốt và thị trường tốt
Khu công nghiệp là mô hình mới đối với nước ta ra đời cùng với chủtrương mở cửa và đường lối đổi mới do Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986khởi xướng Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1996 xác định “Hìnhthành các KCN tập trung (bao gồm Khu chế xuất và Khu công nghệ cao), tạođịa bàn thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở công nghiệp mới Phát triểnmạnh công nghiệp nông thôn và ven đô thị ở các thành phố, thị xã nâng cấp,cải tạo các cơ sở công nghiệp hiện có, đưa các cơ sở không có khả năng xử lý
ô nhiễm ra ngoài thành phố, hạn chế việc xây dựng cơ sở công nghiệp mớixen lẫn với khu dân cư”
Nghị định 36/CP của Chính Phủ ngày 24/4/1997 có đề cập: Khu côngnghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuất hàngcông nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giớixác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc thủ tướng Chính phủquyết định thành lập Trong Khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất
Theo định nghĩa trong Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì: Khucông nghiệp là một lãnh địa được phân chia và phát triển có hệ thống theomột kế hoạch tổng thể nhằm cung ứng các thiết bị kỹ thuật cần thiết, cơ sở hạ
Trang 10tầng, phương tiện công cộng phù hợp sự phát triển của một liên hợp cácngành công nghiệp.
Như vậy có thể hiểu Khu công nghiệp là một quần thể liên đoàn các xínghiệp công nghiệp xây dựng trên một vùng có điều kiện thuận lợi về các yếu
tố tự nhiên, về kết cấu hạ tầng xã hội … để thu hút vốn đầu tư (đặc biệt là vốnFDI) và hoạt động theo một kết cấu hợp lý các doanh nghiệp công nghiệp vàcác doanh nghiệp dịch vụ nhằm đạt kết quả cao trong sản xuất công nghiệp vàkinh doanh
1.2 Những đặc trưng cơ bản của khu công nghiệp
Thứ nhất, về bản chất các KCN là khu tập trung các doanh nghiệp côngnghiệp và các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ công nghiệp
Thứ hai, KCN được chính phủ hoặc thủ tướng chính phủ ra quyết địnhthành lập do vậy việc tạo môi trường đầu tư được cụ thể hóa trong các chínhsách pháp luật, như những chính sách ưu đãi về thuế, hải quan, giá thuê đất,
áp dụng những thủ tục hành chính đơn giản…nhằm tạo môi trường pháp lý vàkinh doanh thuận lợi chó các nhà đầu tư để thu hút vốn đầu tư và công nghệ
kỹ thuật mới của nước ngoài
Thứ ba, KCN thực chất là hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp trênlãnh thổ, có hàng rào ngăn cách với phần lãnh thổ còn lại của vùng và nóđược xây dựng cơ sơ hạ tầng và những tiện ích công cộng (điện, nước, giaothông, bưu điện ) hiện đại, thuận lợi với mục đích hấp dẫn các nhà đầu tư.Kinh nghiệm của thế giới cho thấy, diện tích hợp lý với một KCN khoảng từ
10 ha đến 300 ha Thông thường việc phát triển cơ sơ hạ tầng do một công tyxây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng đảm nhiệm Các công ty này có thể làdoanh nghiệp liên doanh, 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc doanh nghiệptrong nước Các công ty phát triển cơ sở hạ tầng khi xây dựng xong kết cấu hạtầng được phép cho các doanh nghiệp khác thuê lại
Trang 11Cuối cùng, KCN chịu sự quản lý trực tiếp của Ban quản lý các KCN cấptỉnh nằm tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Đây là cơ quan trực tiếpthực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với sự hoạt động sản xuất kinh doanhtrong các KCN, ngoài ra tham gia vào quản lý các KCN tập trung còn có nhiều
Bộ như Bộ Kế Hoạch và Đầu tư, Bộ Thương Mại, Bộ Xây Dựng…
2 Vai trò của Khu công nghiệp (đặc biệt là các Khu công nghiệp sử dụng nguồn vốn FDI) đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở Thái Bình
2.1 Khu công nghiệp là khu vực thu hút FDI quan trọng nhất của tỉnh
Trong quá trình thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước,việc thu hút và sử dụng vốn FDI là một đòn bẩy quan trọng thúc đẩy sự pháttriển kinh tế xã hội và thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Do
đó Nhà nước ta áp dụng nhiều chính sách để thu hút FDI bao gồm cả việcthành lập các khu vực tập trung mọi điều kiện tốt để thu hút FDI, như vậyKCN ra đời như một công cụ để tăng cường thu hút FDI vào địa phương
Để có được cái nhìn tổng quát nhất về đóng góp của KCN trong việcthu hút FDI vào toàn tỉnh Thái Bình ta có bảng sau:
Bảng 1.1: Tổng hợp đầu tư nước ngoài vào KCN và vào toàn tỉnh Thái
Nguồn: Sở Kế hoạch - Đầu tư Thái Bình và Ban quản lý các KCN.
Tính đến 31/12/2008 toàn tỉnh thu hút được 45 dự án FDI vào các lĩnhvực sản xuất và kinh doanh với tổng số vốn đăng ký là 254.254.391 USD.Trong đó, có 35 dự án được đầu tư vào các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh
Trang 12với tổng số vốn đăng ký là 227.988.311 USD Như vậy phần lớn số dự án đượcđầu tư vào các KCN, với tổng số vốn FDI đăng ký và vốn thực hiện chiếm trên83% tổng số vốn FDI vào toàn tỉnh Đây là một tỷ lệ khá lớn giúp ta khẳngđịnh phát triển các KCN là một biện pháp quan trọng để thu hút đầu tư trực tiếpnước ngoài Điều này cũng dễ hiểu bởi từ chính những đặc điểm và mục tiêucủa KCN đã giúp chúng có khả năng thu hút FDI hơn so với các khu vực khác.KCN được đầu tư xây dựng và quản lý một cách tập trung với cơ sở hạ tầnghiện đại và đầy đủ hơn các vùng khác đi kèm với các chính sách hỗ trợ riêngnhư chính sách về thuế, chính sách đào tạo lao động, chính sách đất đai…Nhờquán triệt và vận dụng sáng tạo chủ trương của Đảng và Nhà nước, Thái Bình
đã chủ động xây dựng các KCN thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư đặc biệt là nhàđầu tư nước ngoài, KCN đã góp phần hết sức to lớn trong việc huy động nguồnvốn FDI vào tỉnh Như vậy, phát triển KCN trở thành một trong những phươngthức huy động và khai thác có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư vào quá trìnhphát triển kinh tế xã hội ở Thái Bình cũng như trong cả nước
Một đóng góp quan trọng của KCN trong quá trình phát triển là đã thuhút được nhiều nguồn vốn FDI vào phát triển hạ tầng cơ sở Nó cũng xuấtphát từ phương hướng chung của toàn tỉnh trong việc thu hút đầu tư trực tiếpnước ngoài, khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực xây dựng hạ tầng cơ sở Khinhà đầu tư quyết định đầu tư vào một khu vực nào đó thì việc trước tiên là họphải đầu tư cải thiện môi trường xung quanh như xây dựng đường xá để vậnchuyển hàng hóa nguyên vật liệu, hệ thống dẫn điện, nước, dây cáp…
Tại bốn khu công nghiệp của Thái Bình là KCN Phúc Khánh, NguyễnĐức Cảnh, Cầu Nghìn, và Gia Lễ đã xây dựng đựoc gần 20 km đường giaothông, 31 Km cống thoát nước mưa, lắp đặt 13,6 Km đường ống cấp thoátnước, lát hàng trăm m2 vỉa hè và toàn bộ hệ thống chiếu sáng Tổng số vốnFDI đầu tư vào kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp lên đến vài chục tỷ
Trang 13đồng Như vậy KCN với vai trò quan trọng trong thu hút FDI đã có nhữngđóng góp to lớn với sự phát triển kinh tế xã hội của Thái Bình.
2.2 Góp phần tăng giá trị sản xuất công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế toàn tỉnh
KCN được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh như giao thông,điện, nước cùng các chính sách ưu đãi, khuyến khích của Nhà nước nên đãthu hút được phần lớn các dự án đầu tư tập trung vào ngành công nghiệp vàdịch vụ công nghiệp cũng như khuyến khích xuất khẩu Các KCN đã gópphần tạo nên các khu kinh tế trọng điểm, phát huy lợi thế so sánh và hiện tạicủa tỉnh để phát triển nhanh các ngành kinh tế đặc biệt là ngành công nghiệp.Như vậy có thể nói KCN tập trung thể hiện được tiềm năng phát triển côngnghiệp của một địa phương và góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngànhkinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Năm 2002 là năm đầu tiên có dự án FDI đầu tư vào KCN ở Thái Bình,đến năm 2008 số dự án đã tăng lên thành 35 dự án, đều tập trung trong lĩnhvực công nghiệp với quy mô tăng dần, trong đó có 14 dự án đã đi vào sảnxuất mang lại cho tỉnh giá trị sản xuất công nghiệp đáng kể:
Bảng 1.2: Giá trị sản xuất của các doanh nghiệp trong các KCN ở tỉnh
Trang 14Doanh thu của các doanh nghiệp trong KCN tăng dần qua các năm vàđóng góp vào giá trị sản xuất của Thái Bình ngày càng tăng, tỷ lệ đóng gópnày từ năm 2005 luôn chiếm hơn 6% giá trị sản xuất toàn tỉnh.
Từ những đóng góp của KCN trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ đãgiúp cho cơ cấu kinh tế của tỉnh Thái Bình không ngừng chuyển dịch theo xuhướng chung – tăng tỷ lệ công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ lệ nông nghiệptrong GDP toàn tỉnh
Bảng 1.3: Cơ cấu GDP toàn tỉnh Thái Bình phân theo ngành lĩnh vực
Công nghiệp và xây dựng 19,35 21,22 22,86 24,98 27,03 28,12
Nguồn: Sở Kế Hoạch và Đầu tư Thái Bình
Cơ cấu GDP chuyển dịch theo xu hướng và ổn định, tuy sự chuyển dịchnày không hoàn toàn do các KCN mang lại nhưng KCN cũng đóng vai trò hếtsức to lớn Năm 2003, cơ cấu GDP của tỉnh còn khá mất cân đối (tỷ trọngnông nghiệp trong GDP chiếm gần một nửa 45,79% trong khi đó công nghiệpchỉ khiêm tốn với 19,35% Sau 5 năm phát triển thì cơ cấu này đã có sựchuyển biến rõ rệt, tỷ trọng nông nghiệp giảm xuống còn 36,85%, tỷ trọngcông nghiệp tăng lên 28,12% Do đó tỷ trọng của ba ngành lĩnh vực của tỉnhcân đối hơn, kết quả này đã giúp cho tỉnh khẳng định mình không những làmột tỉnh nông nghiệp hàng đầu mà còn có tiềm năng phát triển công nghiệpcao
Trang 15Như vậy, các doanh nghiệp trong khu công nghiệp kể cả doanhnghiệp trong và ngoài nước đã góp phần làm tăng giá trị sản xuất công nghiệpcũng đồng thời làm tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu kinh tếcủa tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
2.3 Giải quyết công ăn việc làm cho người dân trong tỉnh
Như ta đã biết, KCN là nơi tập trung nhiều doanh nghiệp sản xuất cóquy mô lớn do đó nó đòi hỏi một lượng lớn lao động vào làm việc, góp phầngiải quyết công ăn việc làm của một bộ phận lớn lao động trẻ trong tỉnh mớithoát ly lao động trong nông nghiệp Thái Bình là một tỉnh thuần nông tuynhiên đi cùng xu hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa của đất nước, TháiBình ngày càng khởi sắc với việc phát triển mạnh các KCN, cụm công nghiệp
và làng nghề thủ công Một bộ phận lớn lao động trong tỉnh được thu hút vàolàm việc ở đây, giải quyết tạm thời vấn đề thất nghiệp mùa vụ đặc trưng củasản xuất nông nghiệp Sau lực lượng này trở thành lao động chính trong khucông nghiệp do việc đẩy mạnh cơ khí hóa trong nông nghiệp
Hằng năm, số dự án đầu tư vào KCN của tỉnh tăng lên từ 8 đến 10 dự
án kèm theo vấn đề tuyển dụng và sử dụng lao động do đó giải quyết đượcmột phần nhu cầu về việc làm của người dân trong tỉnh Trong số các dự ánđầu tư vào KCN ở Thái Bình thì đóng góp phần lớn là của các dự án FDI vớiquy mô lớn và khả năng thu hút nhiều lao động, mỗi dự án FDI đầu tư vàokhu công nghiệp đều đăng ký sử dụng lao động trung bình khoảng 755 người.Dưới đây là bảng tổng hợp đóng góp của các dự án FDI ở KCN trong việcgiải quyết công ăn việc làm cho người dân trong tỉnh:
Trang 16Bảng 1.4: Bảng tổng hợp tình hình sử dụng lao động tại các khu công
nghiệp với các dự án FDI
Nguồn: Ban quản lý các KCN tỉnh Thái Bình.
Theo số liệu thống kê của Ban quản lý các KCN cho thấy, nhu cầu laođộng trong các khu công nghiệp rất lớn tuy nhiên số lượng lao động đi vàosản xuất lại rất hạn chế (số lao động sử dụng chỉ bằng 32,73% số lao độngđăng ký), một nguyên nhân dễ nhận thấy nhất là còn nhiều dự án đang triểnkhai xây dựng hoặc đã xây dựng nhưng chưa đi vào sản xuất Điều này thểhiện khả năng tiếp tục thu hút nhiều lao động trong thời gian tới vào các khucông nghiệp để đảm bảo cho việc triển khai sản xuất các dự án FDI cũng nhưcác dự án đầu tư trong nước khác
Khu công nghiệp với đóng góp to lớn trong việc giải quyết công ănviệc làm có ý nghĩa quan trọng về cả hai mảng phát triển kinh tế và xã hội.Phần lớn lao động ở Thái Bình được thu hút vào các KCN được chuyển đổi từlao động nông nghiệp sang, mà như đã biết ngành nông nghiệp thường có thunhập không cao do phải làm việc theo mùa vụ và phải sử dụng nhiều yếu tốtrung gian Giờ đây được chuyển sang làm việc trong các xí nghiệp côngnghiệp với quy mô và thời gian làm việc cố định nên thu nhập tương đối cao
và ổn định Trung bình mỗi lao động trong các KCN có thu nhập từ 1,2 triệu
Trang 17đến 1,5 triệu, thời gian bắt đầu làm việc cũng hưởng lương từ 800 nghìn đến 1triệu đồng, sau một thời gian ngắn khi tay nghề đã ổn định họ sẽ được tănglương dần, thời gian và chế độ làm việc đều được tuân theo luật lao động quyđịnh và của doanh nghiệp FDI đã được điều chỉnh hợp lý Do vậy đời sốngcủa người lao động không ngừng được nâng cao, đời sống được cải thiện tạođiều kiện cho việc phát triển con người và nâng cao chất lượng xã hội
2.4 Đẩy nhanh việc áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ và học hỏi kinh nghiệm quản lý của các nước đầu tư tiên tiến
Các KCN được đầu tư cơ sở hạ tầng hiện đại nhằm thu hút đầu tư trựctiếp nước ngoài vào hợp tác kinh doanh, ngoài nguồn vốn mà các đối tác nướcngoài mang vào thì họ còn mang theo cả hệ thống công nghệ và trình độ sảnxuất hiện đại, tiên tiến đi cùng một hệ thống quản lý khoa học, do vậy cácKCN có vai trò rất lớn trong việc đẩy nhanh việc áp dụng tiến bộ công nghệvào địa phương nơi mà xây dựng các khu công nghiệp đó Ngoài ra còn có thểhọc hỏi được kinh nghiệm làm việc và quản lý của các nước tiên tiến
Điều này được thể hiện rõ nét trong bảng tổng hợp sau:
Bảng 1.5: Bảng phân loại trình độ công nghệ các doanh nghiệp trong khu
công nghiệp Việt Nam năm 2004
Đơn vị: %
Doanh nghiệp có vốn đâu tư
Nguồn: Vụ KCN, KCX , Bộ Kế Hoạch và Đầu tư năm 2004
Như vậy, đối với doanh nghiệp nước ngoài trong các khu công nghiệp
ở Việt Nam không tồn tại trình độ công nghệ lạc hậu Trong khi đó đối với
Trang 18doanh nghiệp trong nước thì tỷ lệ công nghệ lạc hậu chiếm quá nửa (53,4%).Con số này khiến chúng ta phải tự hỏi rằng các DN trong nước đến khi nàomới đuổi kịp được các doanh nghiệp nước ngoài? Có sự so sánh đó mới xácđịnh được chúng ta đang đứng ở đâu và còn thiếu những gì? Do vậy cần phảităng cường áp dụng tiến bộ công nghệ và học hỏi kinh nghiệm của các nướctiên tiến.
Các nhà đầu tư nước ngoài vào các Khu công nghiệp tại Thái Bình đều làcác nước có trình độ cao về công nghệ, sản xuất và kinh nghiệm quản lý như ĐàiLoan, Hồng Kông, Trung Quốc, Hàn Quốc do đó ta có nhiều khả năng học hỏi
và tiếp thu công nghệ để phát triển sản xuất kinh doanh trong tỉnh
Khu công nghiệp chính là cầu nối cho các doanh nghiệp trong nước vànước ngoài trong việc đẩy nhanh áp dụng tiến bộ Khoa học công nghệ và họchỏi kinh nghiệm
III NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THU HÚT FDI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP NÓI CHUNG
1 Khung pháp lý
a Các doanh nghiệp và các lĩnh vực được phép đầu tư trong KCN
Theo quy định của nghị định 36/CP ngày 24/4/1997 do Chính phủ banhành kèm theo quy chế KCN thì KCN có các loại hình doanh nghiệp sau:
- Doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
- Các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh theo Luật đầu tưnước ngoài tại Việt Nam
Các doanh nghiệp muốn thành lập trong KCN phải đáp ứng được cácđiều kiện phù hợp với quy hoạch về ngành nghề, tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm,đảm bảo môi trường sinh thái và vệ sinh an toàn lao động
Trang 19KCN tập trung các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đặc biệt là cácdoanh nghiệp nước ngoài và các doanh nghiệp này được phép đầu tư vào cáclĩnh vực sau:
+ Xây dựng và kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng
+ Sản xuất, gia công, lắp ráp các sản phẩm công nghiệp để xuất khẩu vàtiêu thụ ở trong nước; phát triển và kinh doanh bằng phát minh sáng chế, bíquyết kỹ thuật và quy trình công nghệ
+ Nghiên cứu và triển khai khoa học công nghệ để nâng cao chất lượngsản phẩm và tạo ra sản phẩm mới
+ Dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp
Trong đó ngành công nghiệp được Nhà nước khuyến khích đầu tư là cơkhí, luyện kim, công nghệ thông tin, hóa chất, công nghệ hàng tiêu dùng vàmột số ngành khác
b Quản lý Nhà nước đối với KCN tập trung
Tham gia quản lý Nhà nước đối với KCN bao gồm Bộ Kế hoạch & Đầu
tư, Bộ Xây dựng, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài nguyên và môi trường,
Bộ công nghiệp và Thương mại và chịu trách nhiệm trực tiếp trong khâu quản
lý là Ban quản lý các KCN tỉnh, thành phố nơi có KCN
Về cơ bản, quản lý Nhà nước đối với KCN cũng có những nội dungchủ yếu như quản lý Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài.Tuy nhiên xét dưới góc độ quá trình hình thành và phát triển của KCN vàdoanh nghiệp có thể chia làm ba giai đoạn:
+ Vận động đầu tư thành lập KCN và doanh nghiệp trong đó
+ Thẩm định và cấp giấy phép đầu tư
+ Quản lý hoạt động của KCN sau khi đã thành lập
KCN tập trung phải được quản lý theo cơ chế “một cửa” Quản lý theo
cơ chế “một cửa” là tạo ra một cơ quan quản lý Nhà nước có thể đứng ra giảiquyết, hoặc phối hợp với các cơ quan khác giải quyết mọi công việc liên quan
Trang 20đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong khu côngnghiệp Mục đích của cơ chế này là giúp các nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu
tư vào KCN có một con đường đi thông thoáng nhất, tránh thủ tục rườm rà vàquan liêu…Thời gian giải quyết các thủ tục hành chính là rất quan trọng Đểdoanh nghiệp nhanh chóng tiến hành sản xuất kinh doanh thì thời gian phêduyệt, quyết định cấp giấy phép đầu tư, cũng như thời gian thẩm định thiết kế
kỹ thuật, thẩm định môi trường cho các dự án trong các KCN phải nhanhchóng Cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian phê duyệt sẽ là mộtyếu tố giúp cho doanh nghiệp giảm thiểu được chi phí giao dịch trong quátrình sản xuất kinh doanh
Ban quản lý các KCN là cơ quan chịu trách nhiệm quản lý trực tiếp cáchoạt động sản xuất kinh doanh trong các KCN, và Ban được ủy quyền cấpgiấy phép đầu tư cho các loại dự án:
+ Phù hợp với quy hoạch của KCN
+ Doanh nghiệp chế xuất có quy mô vốn đến 40 triệu USD
+ Các dự án sản xuất có quy mô vốn đến 10 triệu USD
+ Các dự án dịch vụ công nghiệp có quy mô vốn đến 5 triệu USD
+ Các dự án không thuộc danh mục các dự án có khả năng gây ảnhhưởng đến môi trường
2 Đất đai và cơ sở hạ tầng
a Đất đai:
Về giá thuê đất: Để tiến hành sản xuất kinh doanh trong KCN, các nhàđầu tư phải thuê lại đất từ các công ty phát triển hạ tầng KCN Như vậy giá thuêđất sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư đặc biệt là cácnhà đầu tư nước ngoài Do đó các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét hỗtrợ các doanh nghiệp thuê đất trong KCN để đảm bảo giá thuê đất hợp lý thìcũng là một cách tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư Bên cạnh đó phải
Trang 21gắn liền với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhanh chóng và linhhoạt, giúp cho việc đầu tư và giải ngân vốn đầu tư gặp nhiều thuận lợi.
Về quy hoạch:
Quy hoạch là vấn đề nổi cộm ở nhiều địa phương trong cả nước Quyhoạch phải bao quát tổng thể về ngành nghề, về vị trí xây dựng sao cho phùhợp Tránh quy hoạch rồi lại điều chỉnh sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệpmuốn đầu tư vào đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh cơ sở hạ tầng trongviệc tạo mặt bằng sản xuất Do đó quá trình quy hoạch nếu được công khai,dân chủ, nhất quán và khoa học thì thuận lợi cho quá trình giải phóng mặtbằng, thu hút và giải ngân vốn đầu tư đúng tiến độ
Cơ sở hạ tầng ngoài KCN bao gồm: các vấn đề liên quan đến quá trình vậnchuyển, tiêu thụ, cung cấp nguyên vật liệu … cho các doanh nghiệp trong KCN
Vấn đề đặt ra là cơ sở hạ tầng trong và ngoài hàng rào phải đồng bộ vớinhau, điều đó thúc đẩy tiến độ triển khai KCN và tạo điều kiện thuận lợi chodoanh nghiệp cả sản xuất và tiêu thụ Chất lượng cơ sở hạ tầng cũng là mộtyếu tố quan trọng đối với quyết định của nhà đầu tư Nó được thể hiện ở chỗ:các công trình trong và ngoài hàng rào có hiện đại, đồng bộ, thuận tiện và có
ổn định không? Ví dụ như trong vìệc cung cấp điện, nước nếu thất thườngcũng sẽ là một nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp trong KCN đặc biệt là doanh nghiệp kỹ thuật cao vì thế nó ảnhhưởng không nhỏ đến việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN
Trang 223 Dịch vụ trong các Khu công nghiệp
Một trong những yếu tố quan trọng để tăng tính hấp dẫn của môitrường đầu tư trong các KCN là điều kiện cung cấp dịch vụ ở KCN Hầu hết
vị trí của các KCN thường ở vùng ngoại thành, vì vậy muốn thu hút lao độngđặc biệt là các lao động tay nghề cao ở nội thành thì các loại dịch vụ phục vụđời sống phải đa dạng và giá cả dịch vụ hợp lý như dịch vụ nhà ở, bệnh viện,chợ, siêu thị, ngân hàng…
Bên cạnh chi phí quản lý KCN, doanh nghiệp trong KCN còn phải chịucước dịch vụ (điện, nước, viễn thông, phí vận chuyển,…), do đó giá cả cácloại dịch vụ này tuy không ảnh hưởng quá nhiều đến việc ra quyết định củanhà đầu tư nước ngoài nhưng cũng góp phần làm tăng chi phí sản xuất chodoanh nghiệp, tăng giá thành sản phẩm dẫn đến giảm tính cạnh tranh củadoanh nghiệp
Về việc tuyển dụng lao động đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệpFDI trong KCN: lao động là một trong những yếu tố đầu vào của sản xuất,như vậy chất lượng lao động và giá cả lao động cũng sẽ quyết định hiệu quảsản xuất của doanh nghiệp nhất là đối với doanh nghiệp công nghệ cao Laođộng ở Thái Bình tuy dồi dào nhưng phần lớn là lao động tay nghề thấp vàchưa được qua đào tạo cả về chuyên môn, kỹ năng và tính kỷ luật Do vậy,khả năng đáp ứng nhu cầu về lao động có tay nghề cao ở một số lĩnh vực, đặcbiệt là ngành công nghệ cao ở đây còn hạn chế Hầu hết các doanh nghiệptrong KCN đều tự đào tạo lao động cho phù hợp với yêu cầu sản xuất củamình Quá trình đào tạo và đào tạo lại lao động thường tốn nhiều thời gian vàchi phí do đó sẽ làm chậm quá trình đi vào sản xuất của các dự án Nếu trongcác KCN có dịch vụ cung cấp lao động thỏa mãn nhu cầu của doanh nghiệpthì sẽ thu hút thêm nhiều nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào KCN với đa dạngngành nghề và lĩnh vực kinh doanh
Trang 23Dịch vụ cung cấp thông tin cho các Doanh nghiệp FDI:
Trong thời đại bùng nổ của thông tin như hiện nay thì việc sở hữu vàquản lý được nguồn thông tin chính là bí quyết thành công của doanh nghiệpbởi nó giúp Doanh nghiệp củng cố vị thế, quảng bá hình ảnh và nâng cao khảnăng cạnh tranh của mình, điều này còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đốivới các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư trên lãnh thổ nước khác
Hệ thống thông tin trong doanh nghiệp sẽ hỗ trợ tích cực cho việcquản lý hành chính, giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận với khách hàng ở mọilúc mọi nơi Điều quan trọng nhất hệ thống thông tin chính là cầu nối giữadoanh nghiệp và các nhà lãnh đạo trong quá trình quản lý, ra quyết định vàcác chính sách mới
Hệ thống thông tin hiện đại nhất hiện nay là thông qua internet, có thểnói đây là một dịch vụ không thể thiếu, do vậy tạo điều kiện về cơ sở hạ tầng
để lắp đặt hệ thống internet rộng khắp cho các doanh nghiệp trong khu côngnghiệp chính là một ưu đãi lớn của Ban quản lý đối với các doanh nghiệp
Trên đây là những lý luận chung nhất về khu công nghiệp và nguồn vốn
FDI, qua đó ta thấy được mối quan hệ giữa chúng, KCN là bộ phận quantrọng nhất để thu hút FDI cho toàn tỉnh, còn FDI là nguồn vốn quan trọnggiúp các KCN phát triển Trên cơ sở những lý luận đó, ta có thể đưa ra nhữngđánh giá về thực trạng thu hút FDI vào các KCN ở tỉnh Thái Bình trong thờigian qua (giai đoạn 2002–2008)
Trang 24CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THU HÚT FDI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở THÁI BÌNH GIAI ĐOẠN 2002-2008
I TỔNG QUAN VỀ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP SỬ DỤNG NGUỒN VỐN FDI Ở TỈNH THÁI BÌNH
1 Tiềm năng để phát triển các Khu công nghiệp ở Thái Bình
1.1 Điều kiện tự nhiên
Thái Bình là một tỉnh ven biển, thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng,năm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng kinh tế: Hà Nội,Hải Phòng, Quảng Ninh Đây là một yếu tố thuận lợi để phát triển mạnhngành công nghiệp của tỉnh trên cơ sở học hỏi, giao lưu và hưởng tác độnglan tỏa của các khu vực lân cận
Vị trí địa lý: 20,17 – 20,44 độ vĩ bắc; 106,06 – 106,39 độ kinh đông,phía Bắc giáp tỉnh Hưng Yên, Hải Dương và thành phố Hải Phòng Phía tâynam giáp tỉnh Nam Định và Hà Nam; phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ Do vậyThái Bình có khả năng lưu thông cả đường bộ và đường thủy,
Thái Bình là một trong hai tỉnh trong cả nước (cùng với Hưng Yên) cóđịa hình tương đối bằng phẳng không có núi với độ dốc nhỏ hơn 1%, rất thuậnlợi cho việc giao thông đi lại, vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ nên cótiềm năng phát triển các cơ sở sản xuất như chế biến thực phẩm, may mặc,thức ăn chăn nuôi, và kinh doanh các ngành dịch vụ
Do là một tỉnh đồng bằng tuyệt đối nên Thái Bình không có các tiềmnăng về khoáng sản như than đá, quặng sắt, tuy nhiên lại có mỏ khí đốt TiềnHải (C) đã được khai thác và sử dụng từ năm 1986 với sản lượng khai thácbình quân mỗi năm hàng chục triệu m3 khí thiên nhiên phục vụ cho sản xuất
đồ sứ, thủy tinh, gạch ốp lát, xi măng trắng thuộc khu công nghiệp Tiền Hải
Tổng diện tích đất toàn tỉnh hiện nay là 153.596 ha trong đó có 96.391
ha là đất nông nghiệp (chiếm hơn 62% tổng diện tích đất tự nhiên) Tỷ lệ này
Trang 25tương đối lớn đang cần đầu tư để chuyển phần có năng suất thấp, giá trị thunhập không cao thành đất công nghiệp, do nông nghiệp đang được phát triểntheo chiều sâu Trên cơ sở đó có thể mở rộng thêm các khu công nghiệp hoặcxây dựng thêm khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh phục vụ cho các dự án đầu
tư kinh doanh có quy mô lớn
1.2 Điều kiện về kinh tế xã hội
Tình hình xã hội - kinh tế - chính trị của Thái Bình có thể nói là ở mức
ổn định Tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm 8 – 10%, cơ cấu kinh tếchuyển dịch theo hướng hiện đại hóa, phù hợp với xu hướng chung của cảnước (như đã phân tích ở chương I), đời sống nhân dân ngày càng được cảithiện do đó môi trường sống không ngừng được cải thiện và lành mạnh hơn.Dưới góc độ chính trị, tỉnh cũng không có điểm gì nổi bật do người dân đều ýthức được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình mọi nguyên tắc, luật pháp về cơbản đều được chấp hành nghiêm chỉnh Với những yếu tố đó cũng tạo nênhình ảnh một Thái Bình tốt đẹp trong mắt các nhà đầu tư trong và ngoài nước
Thái Bình là một tỉnh đồng bằng với dân số tương đối đông nếu khôngmuốn nói là “đất chật người đông” (với dân số 1.868,5 nghìn người, mật độdân số 1.183 người/1km2) đây chính là tiền đề để xác định tiềm năng về cunglao động của tỉnh Thái Bình có nguồn lao động dồi dào, do đó chi phí nhâncông cũng tương đối rẻ là một điểm mạnh để thu hút các nhà đầu tư vào sảnxuất vì họ có thể tiết kiệm được nhiều chi phí sản xuất từ việc thuê lao độngtại địa phương Dân số đông không những là tiềm năng về cung lao động màcòn mang lại tiềm năng về thị trường tiêu thụ cho các doanh nghiệp trong tỉnh
do vậy có thể gây sự quan tâm chú ý của các nhà đầu tư nước ngoài có ý địnhđầu tư vào lĩnh vực tiêu thụ trong nước
Là một tỉnh đứng đầu trong cả nước về sản xuất nông nghiệp và chếbiến nông sản nên mức giá cả tiêu dùng tại Thái Bình rẻ tương đối so với các
Trang 26tỉnh lân cận Các nhà đầu tư có thể nắm lấy đặc điểm này để sản xuất kinhdoanh trên địa bàn tỉnh nhằm giảm được chi phí sản xuất Gía cả và dịch vụtiêu dùng rẻ làm cho chi phí lao động cũng rẻ hơn so với các vùng khác do đó
có thể tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.3 Chất lượng nguồn lao động
Hiện nay tổng dân số của Thái Bình là 1.863,5 nghìn người, tỷ lệ tăngdân số tự nhiên 1,02%, trong đó số người trong độ tuổi lao động là 1.730 nghìnngười, tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 23,5% - thống kê của Sở Lao động vàthương binh xã hội tỉnh Thái Bình năm 2007 Dựa vào các số liệu đó có thểđánh giá được Thái Bình có nguồn lao động trẻ và dồi dào tuy nhiên phần lớnlao động trước làm việc trong khu vực nông nghiệp, đang chuyển đổi dần sanghoạt động ở lĩnh vực công nghiệp Tuy chưa có tay nghề chuyên môn và chưaqua đào tạo nhưng lực lượng này vẫn là một điểm nhấn quan trọng Do trongmột số ngành công nghiệp như dệt may, chế biến thực phẩm và thức ăn chănnuôi thì lại không đòi hỏi tay nghề nhiều rất phù hợp với lao động nữ có sứckhỏe và tính cần cù chăm chỉ Hơn nữa các Doanh nghiệp FDI trong KCN hoạtđộng ở lĩnh vực này thường sản xuất dưới dạng dây chuyền chuyên môn hóacao độ nên họ chủ yếu tuyển lao động phổ thông chưa qua đào tạo
Đối với các ngành yêu cầu, đòi hỏi lao động được đào tạo đúng chuyênmôn thì hiện tại Thái Bình chưa đáp ứng đủ tuy nhiên trong tỉnh đã có nhữngchính sách hỗ trợ việc đào tạo lao động cho sản xuất công nghiệp như liên kếtvới các trường dạy nghề, trường trung học đào tạo nghề tại tỉnh Việc đào tạonghề không đòi hỏi quá nhiều thời gian (chỉ từ 1 – 2 năm) do đó trong thờigian tới có thể nói Thái Bình sẽ đào tạo được những lực lượng lao động trẻ cótay nghề và sẵn sàng làm việc trong các KCN Năm 2004 tỉnh ủy Thái Bình
đã ban hành Nghị quyết số 13/NQ-TU về phát triển đào tạo nghề giai đoạn
2004 - 2010 Đến nay tỉnh đã đi gần hết quãng đường đào tạo nghề giai đoạn
Trang 27đó, việc thực hiện Nghị quyết đã đem lại nhiều kết quả tốt đẹp Năm 2008,công tác quản lý đào tạo nghề ở Thái Bình không ngừng được đổi mới đã gópphần nâng cao chất lượng dạy và học, góp phần đào tạo nguồn nhân lực có taynghề cho tỉnh, nhất là phát triển công nghiệp trong thời kỳ hội nhập kinh tếquốc tế ngày nay Đến cuối năm 2007, toàn tỉnh đã đào tạo nghề cho 22.870người trong đó dạy nghề dài hạn cho 2.550 người, dạy nghề ngắn hạn cho20.320 người chiếm 89%
Trình độ dân trí của Tỉnh cũng ở mức cao, Thái Bình là một trongnhững tỉnh hoàn thành phổ cập tiểu học và trung học cơ sở sớm nhất trong cảnước và hiện nay đang phấn đấu phổ cập ở bậc trung học phổ thông Đây lànền tảng vững chắc để có thể đặt mục tiêu và tin tưởng rằng chúng ta sẽ hoànthành việc đào tạo nghề và vận dụng tốt trong quá trình làm việc
2 Bức tranh chung về các Khu công nghiệp sử dụng FDI
Đến nay, Thái Bình đã hoàn chỉnh quy hoạch chi tiết để xây dựng hạtầng cơ sở và thu hút các dự án đầu tư nước ngoài ở 7 Khu công nghiệp vớitổng diện tích 940 ha, thu hút 126 dự án trong đó có 4 khu công nghiệp thuhút được nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng cộng 35 dự án FDI
Để đánh giá được thực trạng thu hút FDI vào các KCN trước tiên cần điểmqua các KCN đã và đang sử dụng nguồn vốn FDI để phát triển trên địa bàntỉnh Thái Bình hiện nay
2.1 Khu Công nghiệp Nguyễn Đức Cảnh – Thành phố Thái Bình
Khu công nghiệp Nguyễn Đức Cảnh được xây dựng trên địa phận xãPhú Xuân và phường Tiền Phong nằm trên đường Nguyễn Đức Cảnh, thànhphố Thái Bình với tổng diện tích quy hoạch là 102 ha, trong đó có 70 ha dànhcho sản xuất công nghiệp Đây là vị trí xây dựng khá thuận lợi vì là địa phậnđầu tỉnh giáp tuyến quốc lộ 10 đi Hà Nội thuận lợi cho giao thông liên lạc,
Trang 28không gian xây dựng đủ rộng để phát triển nhiều ngành nghề và lĩnh vực, cótiềm năng thu hút được nhiều dự án đầu tư.
Ngành nghề sản xuất kinh doanh chủ yếu ở KCN này là: sản xuất sợi,dệt, tẩy, nhuộm hoàn tất; may cao cấp xuất khẩu; và cơ khí phục vụ ngànhmay mặc
Bảng 2.1: Tổng hợp dự án FDI vào KCN Nguyễn Đức Cảnh tính đến
Vốn đầu tư Đăng ký Thực hiện Tỷ lệ giảingân (%)
1 Dự án sản xuấthàng may mặc
xuất khẩu 12/05/04
Đã sản xuất 29.118.415 23.421.000 80,43
Nguồn: Ban quản lý các KCN tỉnh Thái Bình
Hiện nay, KCN Nguyễn Đức Cảnh đã thu hút được 3 dự án FDI, hiện đãđược triển khai và đi vào sản xuất Tổng số vốn FDI đăng ký là 38.018.415USD, vốn thực hiện đạt 67,29% (25.582.573 USD) Dự án đầu tiên được cấpgiấy phép đầu tư vào năm 2004 là dự án sản xuất may mặc của công ty TNHHTAV Đài Loan với số vốn đăng ký 29.118.415 USD, đến thời điểm hiện naygiải ngân được 23.421.000 USD đạt 80,43%, vựợt xa so với tỷ lệ giải ngân củatoàn KCN Ngoài ra KCN này còn thu hút được các dự án về gia công chế tạocác thiết bị từ có chất lượng cao tuy mới được cấp giấy phép đầu tư tháng 3
Trang 29năm 2008 nhưng chủ đầu tư đã nhanh chóng triền khai xây dựng và hiện nay đã
đi vào sản xuất với công suất 5 triệu tấn sản phẩm, tuy nhiên tỷ lệ giải ngân vốnFDI của dự án này chưa tương xứng với vốn đăng ký vì chỉ đạt 18,38%, do đây
là dự án mới nên vốn sẽ được giải ngân tiếp tục trong các năm tiếp theo
2.2 Khu Công nghiệp Phúc Khánh – Thành phố Thái Bình
Khu công nghiệp Phúc Khánh bao gồm hai KCN thành phần là khu docông ty Phát triển hạ tầng KCN quản lý và KCN do công ty Đài Tín quản lý
Đây là Khu công nghiệp được quy hoạch đa ngành nghề, tuy nhiên vẫntập trung vào các ngành nghề truyền thống như may mặc và gia công chế táccác sản phẩm cơ khí
KCN Phúc Khánh nằm cạnh quốc lộ 10, được UBND tỉnh phê duyệt cấpgiấy phép cho công ty CPHH phát triển KCN Đài Tín đầu tư xây dựng cơ sở hạtầng vào tháng 9 năm 2003, có tổng diện tích phê duyệt là 120 ha, với tổng sốvốn đầu tư 13.300.000 USD, công ty Đài tín là công ty 100% vốn đầu tư nướcngoài, thời gian hoạt động là 50 năm, hiện nay đã hoàn thành công trình hạtầng giai đoạn đầu là 50 ha, sau đó sẽ khai thác mở rộng thành 300 ha
Công ty CPHH phát triển KCN Đài Tín là một trong những công tyđược Phòng Quản lý khu gia công chế xuất Bộ Kinh tế Đài Loan đỡ đầu thànhlập và do 12 doanh nghiệp đầu tư hợp thành bao gồm: Công ty Tư vấn kỹthuật công trình, Công ty Tư vấn quản lý khai thác khu công nghiệp, Công tyXây dựng, Công ty Thiết bị cơ điện, Công ty Thiết bị phòng cháy, chữa cháy
và Công ty Tiêu thụ quốc tế của các loại sản nghiệp để phát triển xây dựng
cứ điểm sản xuất của các nhà đầu tư Đài Loan ở nước ngoài, tập hợp cácdoanh nghiệp có kinh nghiệm khai thác khu công nghiệp ở Đài Loan hợpthành Công ty CPHH phát triển KCN Đài Tín, từ việc khai thác khu côngnghiệp ở nước ngoài đã mở ra con đường tiêu thụ quốc tế
Trang 30Hiện nay, Khu công nghiệp Phúc Khánh có hệ thống đường xá, hệthống cấp điện, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống xử lý nước thải, hệ thốngchiếu sáng hoàn thiện và có trung tâm dịch vụ quản lý theo cơ chế một cửatạo rất nhiều điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong Khu Công nghiệp.
Từ cuối năm ngoái đến nay, đã có trên 100 nhà đầu tư vào thăm khu côngnghiệp Các nhà đầu tư khác đang cùng Công ty Đài Tín bàn bạc về vấn đềthuê đất, diện tích đất cần thuê đã vượt quá 50 ha, mức đầu tư dự tính khoảng
45 triệu đô la Mỹ, bao gồm các ngành: Điện gia dụng, dây cáp điện, linh kiệnôtô xe máy, ngành điện lực…
Khu công nghiệp Phúc Khánh nằm trên địa bàn thành phố Thái Bìnhcủa tỉnh, cách Hà Nội 110 km, cách Hải Phòng 70 km và có đường quốc lộ 10nối liền với Nam Định, Hải Phòng, đường quốc lộ thông với 7 tỉnh phía Bắc,
do vậy giao thông của tỉnh Thái Bình với các vùng khác rất thuận tiện, tiếtkiệm được giá thành vận tải Ngoài ưu thế về vị trí địa lý, các doanh nghiệpkhi đầu tư vào KCN Phúc Khánh còn được hưởng ưu đãi là miễn thuế thunhập doanh nghiệp trong 6 năm, kể từ khi kinh doanh có lãi, giảm 50% trong
8 năm tiếp theo và được tỉnh Thái Bình hỗ trợ phí đào tạo công nhân mỗingười từ 350.000 - 700.000đ cộng thêm giá thuê đất trong KCN Phúc Khánhrất thấp, tiền thuê đất và phí cơ sở hạ tầng chỉ có 15 USD/m2 được sử dụngđến cuối năm 2052 ngoài ra, Phòng Quản lý khu gia công chế xuất Bộ Kinh tếĐài Loan sẽ xây dựng trung tâm cung cấp hàng hóa công nghiệp quốc tế (IDC),cung cấp các dịch vụ lưu thông hàng hóa, giới thiệu và triển lãm sản phẩm đểthúc đẩy tiêu thụ Khu công nghiệp Phúc Khánh đã và đang trở thành sự lựachọn tốt nhất cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước có ý định đầu tư sản xuất.Công ty Đài Tín rất hoan nghênh nhà đầu tư các nước đến tham quan và đầu tưvào khu công nghiệp Phúc Khánh trong thời gian tới
Trang 31Phúc Khánh là KCN đầu tiên của tỉnh thu hút được dự án FDI vào, vàhiện nay cũng là KCN có nhiều dự án FDI nhất toàn tỉnh với tổng số 29 dự ánđầu tư vào nhiều lĩnh vực Dưới đây là bảng tổng hợp các dự án đầu tư vàoKCN Phúc Khánh
Bảng 2.2: Tổng hợp số lượng dự án đầu tư vào KCN Phúc Khánh phân
theo tiến độ thực hiện tính đến 31/12/2008
Nguồn: Ban quản lý các KCN tỉnh Thái Bình.
Trong 29 dự án FDI đầu tư vào KCN Phúc Khánh có 3 dự án cấp mới,tính đến cuối năm 2008 thì cả 3 dự án này đều chưa bắt tay vào giải ngân vốnđầu tư Bên cạnh đó có 11 dự án đã đi vào sản xuất nhưng số vốn thực hiện cũngchỉ đạt 67,69% vốn đăng ký, còn các dự án khác tỷ lệ này cũng chỉ đạt trên 28%,đây là một thông tin cho thấy được thực trạng giải ngân vốn chậm tại KCN này
2.3 Khu Công nghiệp Gia Lễ - Thành phố Thái Bình
KCN Gia lễ trước thuộc địa phận huyện Đông Hưng nay được quyhoạch về thành phố Thái Bình với tổng diện tích quy hoạch là 100 ha với giaiđọan đầu thực hiện đạt 84,4 ha Đây là khu công nghiệp mới được thành lậptuy nhiên năm 2007 đã thu hút được hai dự án FDI đầu tư vào với tổng vốnđăng ký là 12.812.500 USD Cụ thể tình hình đầu tư FDI vào khu công nghiệpnày có thể tổng hợp trong bảng dưới đây:
Trang 32Bảng 2.3: Tổng hợp các dự án đầu tư FDI vào KCN Gia Lễ tính đến
31/12/2008
Đơn vị: USD
Dự án Thời gianđăng ký
Vốn đầu tư
Tiến độĐăng ký Thựchiện hiện/đăng kýThực
Nguồn: Ban quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Thái Bình.
Quan sát bảng trên ta dễ dàng nhận thấy thực trạng giải ngân vốn đầu tưtrong KCN Gia Lễ, tỷ lệ vốn thực hiện trên tổng số vốn đăng ký của cả KCNchỉ đạt 7,55% mặc dù các dự án này đều được cấp giấy phép đầu tư từ năm
2007 Do vậy có thể kết luận rằng tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư tại KCN Gia Lễchưa thật sự đạt yêu cầu
2.4 Khu Công nghiệp Cầu Nghìn – Huyện Quỳnh Phụ
KCN Cầu Nghìn thuộc địa giới xã An Bài, huyện Quỳnh Phụ, có vị tríthuận lợi, cạnh vùng tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng - Quảng Ninh,giáp ranh với thành phố Hải Phòng và hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên vớitổng diện tích quy hoạch 234 ha và giai đọan đầu thực hiện là 90,7 ha Ví tríkhu đất quy hoạch có địa hình tương đối bằng phẳng, khu vực chủ yếu làruộng canh tác, có bề mặt bị phân cách bởi hệ thống kênh mương và sôngngòi nên khu vực này không bị úng lụt trong mùa mưa Bên cạnh đó, Khucông nghiệp đã xây dựng được một hệ thống cấp thoát nước thải hoàn toàn
Trang 33độc lập với hệ thống thoát nước mưa tạo điều kiện tốt cho sản xuất kinhdoanh Toàn bộ hệ thống nước thải của khu công nghiệp được thoát theohướng từ Bắc xuống trạm xử lý nằm ở phía Nam của khu công nghiệp, cócông suất 4.400 m3/ ngày đêm Đây là một thông tin hết sức thuận lợi cho cácnhà đầu tư muốn đầu tư vào khu công nghiệp.
Bên cạnh thuận lợi trên thì các nhà đầu tư còn được hưởng một hệthống cung cấp dịch vụ KCN hiện đại và đầy đủ như: Nguồn điện của Khucông nghiệp được lấy từ tuyến điện cao thế 110 Kv xây mới hoàn toàn đảmbảo đủ điện năng cho sản xuất, hệ thống cung cấp nước và thông tin cũngđược đảm bảo 24/24 giờ phục vụ cho quản lý và sinh hoạt được thông suốt
Khu công nghiệp có tuyến quốc lộ 10 đi qua, nối từ Thái Bình đi HảiPhòng, đây là tuyến đường quan trọng cho việc phát triển của khu côngnghiệp trong giao thông đối ngoại Còn về giao thông đối nội: mạng lưới giaothông nội bộ khu công nghiệp được tổ chức theo dạng bàn cờ với các đườngtrục chính theo hướng Bắc Nam – Đông tây Các tuyến đường xương cávuông góc với các tuyến trục chính tạo thành mạng giao thông bàn cờ cungcấp giao thông thuận tiện và các tuyến hạ tâng kỹ thuật dọc theo đường đếncác lô đất xây dựng nhà máy Các tuyến đường nội bộ có kết cầu bê tôngnhựa, quy mô lộ giới 35 m và 17,5 m
Như vậy có thể nói rằng KCN này có nhiều đặc điểm, điều kiện tốt đểphát triển và thu hút các dự án đầu tư vào nhất là các dự án đầu tư nước ngoài
Đây là khu công nghiệp được quy hoạch đa ngành nghề, bao gồm: chếbiến thực phẩm, nông thủy sản, cơ khí dệt may, da giầy, vật liệu xây dựng,phân bón…
Tuy có nhiều điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài vàonhưng hiện tại KCN Cầu Nghìn mới chỉ thu hút được 1 dựa án FDI về sảnxuất thép với tổng số vốn đăng ký là 33.000.000 USD Dự án này được cấpgiấy phép đầu tư vào ngày 16/01/2008 hiện đang trong quá trình xây dựng với
Trang 34số vốn giải ngân là 2.687.500 USD Đây là một dự án có quy mô khá lớn nếukhông muốn nói là lớn nhất trong tất cả các dự án FDI đầu tư vào KCN vàvào toàn tỉnh Đó được coi như một mốc đánh dấu cho thành tựu về thu hútnguồn vốn FDI vào các KCN ở tỉnh Thái Bình trong thời gian qua.
Nhận xét chung:
+Qua việc nghiên cứu đặc điểm của 4 khu công nghiệp đang sử dụng
nguồn vốn FDI để phát triển ở Thái Bình thì thấy hầu hết các KCN đều cóthuận lợi để thu hút được nhiều vốn đầu tư như về vị trí xây dựng, cơ sở hạtầng hiện đại, giao thông vận chuyển và dịch vụ trong các khu công nghiệp.Trong số các KCN sử dụng FDI để phát triển thì phần lớn đều tập trung trênđịa bàn thành phố Thái Bình
+ Các Khu công nghiệp đều quy hoạch dưới dạng đa ngành nghề sảnxuất và đa lĩnh vực sản xuất, nhưng hầu hết lại thiếu hệ thống xử lý nước xảthải đạt tiêu chuẩn nên gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
+ Phát triển, thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI chưa tương xứng vớitiềm năng hiện có của các Khu công nghiệp ở Thái Bình
II TÌNH HÌNH THU HÚT FDI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở THÁI BÌNH GIAI ĐOẠN 2002 – 2008
Năm 2002 là năm đầu tiên có dự án FDI đầu tư vào các KCN ở tỉnhThái Bình, và từ đó đến cuối năm 2008, các KCN ở Thái Bình thu hút được
35 dự án FDI kể cả các dự án cấp mới với tổng số vốn đăng ký lên đến227.988.311 USD, để đánh giá được thực trạng thu hút FDI vào các KCN ởThái Bình chúng ta cần phân tích được nguồn gốc và cơ cấu nguồn vốn FDI
1 Nguồn gốc và cơ cấu vốn FDI
a Cơ cấu nguồn vốn theo đối tác
Hiện nay đã có 5 quốc gia có doanh nghiệp sang sản xuất kinh doanhvào các KCN trên địa bàn tỉnh Thái Bình Trong đó Đài Loan là quốc gia có
Trang 35nhiều dự án đầu tư nhất (28/35 dự án là của Đài Loan) Tuy nhiên vốn đăng
ký của Đài Loan chỉ chiếm 57,02% tổng số vốn đăng ký, đây là một tỷ lệtương đối nhỏ, bởi vì các dự án FDI của Đài Loan chủ yếu là đầu tư vào lĩnhvực công nghiệp nhẹ như may mặc xuất khẩu, tỷ lệ vốn thực hiện/vốn đăng
ký chỉ đạt 38.1 % cho thấy tiến độ giải ngân chưa đạt yêu cầu
Bảng 2.4: Cơ cấu vốn đầu tư FDI vào các KCN ở Thái Bình theo đối tác:
Đơn vị: USD
hiện/Đăng ký(%)
Nguồn Ban quản lý các KCN tỉnh Thái Bình.
Sau Đài Loan là Trung Quốc với 3 dự án đầu tư vào KCN ở Thái Bình,tuy số dự án không nhiều như của Đài Loan nhưng quy mô dự án đăng ký lớn,trung bình khoảng 15 triệu USD một dự án, tuy nhiên số vốn thực hiện lại tươngđối ít, do các dự án này có quy mô lớn nên vẫn đang trong quá trình xây dựng
Hồng Kông vẫn là quốc gia đứng đầu trong danh sách các đối tác có quy
mô dự án đăng ký lớn và tỷ lệ vốn sử dụng/vốn đăng ký lớn nhất Quy mô dự
án trung bình gần 20 triệu USD, với hơn 53% vốn đăng ký đã được sử dụng
Hai đối tác còn lại là Hàn Quốc và Mỹ chỉ mới bước chân vào thăm dò
và thử nghiệm tại các KCN ở Thái Bình nên không có gì nổi bật tuy nhiên mới
là dự án đầu tiên mà quy mô lớn hơn 3 triệu USD cũng để lại triển vọng chođầu tư giai đoạn sau
Trang 36b.Cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực sản xuất kinh doanh
Các KCN ở tỉnh Thái Bình hầu hết được quy hoạch đa ngành nghềnhưng vốn FDI đầu tư vào lại chỉ tập trung ở một số ngành nghề truyền thống,
cụ thể được thể hiện dưới bảng sau:
Bảng 2.5: Cơ cấu vốn FDI theo lĩnh vực kinh doanh.
Nguồn: Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Thái Bình
Ngành công nghiệp nhẹ bao gồm các ngành dệt may xuất khẩu vẫnchiếm số lượng lớn và có thể coi đây là ngành nghề truyền thống trong cácKCN ở tỉnh Thái Bình cũng bởi vì chúng phù hợp với nguồn lao động trongtỉnh Một số ngành công nghiệp nặng đã bắt đầu được các nhà đầu tư nướcngoài khai thác ở các KCN tỉnh Thái Bình như sản xuất thép, phôi hợp kimnhôm ở Khu công nghiệp Phúc Khánh do Đài Tín quản lý cùng một số dự ánđầu tư vào lĩnh vực sản xuất đồ điện tử nhưng phần lớn vẫn ở dạng gia côngchế tác và mới bắt đi vào sản xuất trong các khu công nghiệp Tuy chỉ giacông chế tác nhưng vẫn đòi hỏi về tay nghề và trình độ nên lao động trongtỉnh vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp đang hoạt độngtrong lĩnh vực này
Trang 37Số dự án được tập trung nhiều vào lĩnh vực công nghiệp nặng nhưngnhư đã trình bày ở trên do mới bắt đầu đi vào thử nghiệm nên tỷ lệ giải ngânvốn còn thấp, vốn thực hiện chỉ đạt 28,13% vốn đăng ký Tương tự như lĩnhvực công nghiệp nặng là công nghiệp sản xuất đồ điện tử, tỷ lệ vốn đầu tư sửdụng trong các dự án cũng không cao (26,13%), do đây cũng không phải làthế mạnh của các KCN trong tỉnh Hai lĩnh vực truyền thống như công nghiệpnhẹ và công nghiệp chế biến do mang tính truyền thống nên việc đầu tư và sửdụng vốn đầu tư có khả quan hơn các lĩnh vực trên, tỷ lệ giải ngân đều đạttrên 50%.
c Cơ cấu theo hình thức đầu tư
Nếu phân theo hình thức đầu tư thì toàn bộ các dự án đầu tư vào cácKCN ở Thái Bình đều được đầu tư dưới hình thức 100% vốn đầu tư nướcngoài, các nhà đầu tư bỏ toàn bộ vốn đầu tư và chịu trách nhiệm điều hànhtoàn bộ hoạt động của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh
2 Nguồn vốn FDI vào các Khu công nghiệp ở Thái Bình qua các năm
Dự án FDI đầu tiên đầu tư vào KCN ở Thái Bình vào năm 2002 là dự
án sản xuất các loại ắc quy của công ty ắc quy KORNAM của Hàn Quốcđược đầu tư vào KCN Phúc Khánh Tính đến cuối năm 2008 tổng số dự ánFDI vào các KCN là 35 dự án, sau đây là bảng tổng kết dự án đầu tư trực tiếpnước ngoài vào KCN ở Thái Bình
Trang 38Bảng 2.6: Bảng tổng hợp dự án FDI vào các KCN ở tỉnh Thái Bình theo
năm giai đoạn 2002 – 2008
Nguồn: Ban quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Thái Bình
Sau 6 năm (2002 – 2008) số dự án FDI đăng ký vào KCN tỉnh TháiBình đã tăng lên 35 dự án như vậy trung bình mỗi năm các KCN thu hút được
5 dự án Những năm đầu tiên của giai đoạn, số dự án FDI đầu tư vào vẫn rấthạn chế, do thời gian đó các KCN của tỉnh chưa thực sự phát triển, phải đếntận năm 2007 các dự án FDI mới ồ ạt vào các KCN, mỗi năm trung bình 12
dự án được đăng ký tạo thành một bước ngoặt trong việc thu hút FDI vào cácKCN, khiến cho bộ mặt của tỉnh thực sự khởi sắc
Số vốn đăng ký cũng tăng mạnh theo thời gian, đến năm 2008 với con
số đăng ký cao nhất là 102.100.000 USD vì Thái Bình vốn là một tỉnh thuầnnông đang trong giai đoạn phát triển công nghiệp nên với lượng FDI đổ vàonhư vậy sẽ giúp cho các KCN phát triển mạnh kéo theo sự phát triển của nôngnghiệp nông thôn Năm 2008 là năm bùng nổ về thu hút FDI vào các KCN ởtỉnh Thái Bình tuy nhiên lượng vốn sử dụng lại rất ít do các dự án đó mớiđược cấp giấy chứng nhận đầu tư, đang hoặc chưa tiến hành xây dựng
Trang 39Trong cả giai đoạn thì quy mô trung bình một dự án FDI trên 6,5 triệuUSD, xét theo từng năm thì quy mô các dự án cũng tăng theo thời gian mặc
dù quy mô dự án phụ thuộc vào nhà đầu tư và lĩnh vực đầu tư (như quy mô dự
án FDI năm 2005 nhỏ bởi dự án đăng ký vào năm đó đầu tư vào lĩnh vực maymặc) Năm 2004 và năm 2008 là hai năm thu hút được các dự án FDI có quy
mô đăng ký đáng kể (trên 8 triệu USD/1 dự án)
3 Tình hình giải ngân vốn FDI vào các dự án tại các Khu công nghiệp ở Thái Bình
Tình hình giải ngân vốn đầu tư được xem xét trên nhiều khía cạnhnhưng chủ yếu vẫn là dựa trên tiến độ thực hiện và tỷ lệ vốn thực hiện trênvốn đăng ký Do vậy việc trước tiên muốn đánh giá được điều đó phải tổnghợp được tiến độ thực hiện các dự án FDI ở các KCN tại Thái Bình
Bảng 2.7: Bảng tổng hợp tiến độ sản xuất các dự án FDI vào các KCN tỉnh
Thái Bình (2002-2008) phân theo năm đăng ký
Đơn vị: Dự án
Năm
Tiến độ thực hiện
Đã và đangsản xuất
Chuẩn bịsản xuất
Đang xâydựng