LÝ THUYẾT VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001-2010
Trang 1Trường Đại Học Ngoại Thương Khoa kinh tế và kinh doanh quốc tế
Môn Kinh tế phát triển
Đề tài 4: LÝ THUYẾT VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ
VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001-2010.
Nhóm thực hiện tiểu luận – nhóm 1 lớp A13K45E:
1 Kiều Hải Anh
2 Nguyễn Phương Anh
3 Phan Qúy Dung
4 Tô Lan Dung
5 Ngô Thanh Hương
6 Nguyễn Phương Linh
7 Phạm Thị Phương Linh
8 Phạm Thị Thùy Linh
9 Bùi Thị Thanh Nga
10 Nguyễn Mai Phương
11 Hán Thị Thu Phương
12 Võ Thị Kim Thoa
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU……… 7
I LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ 1 Các khái niệm 1.1 Cơ cấu kinh tế………9
1.2 Cơ cấu ngành kinh tế………9
1.3 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế………
10 2 Xu thế chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 1.1 Những cơ sở lý thuyết………10
1.2 Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế………12
3 Các mô hình lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 1.1 Mô hình Rostow………13
1.2 Mô hình hai khu vực Cổ điển (Arthus Lewis)………14
1.3 Mô hình hai khu vực Tân cổ điển………14
1.4 Mô hình hai khu vực của Harry T.Oshima………15
II THỰC TIỄN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001-2010 1 Thực trạng của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong giai đoạn 2001-2010 1.1 Những thành tựu trong chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế………17
1.2 Những hạn chế chủ yếu của quá trình chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế…19 2 Nguyên nhân của những hạn chế……….22
Trang 3III, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN KẾ HOẠCH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001-2010
1 Phương hướng chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế ở nước ta giai đoạn 2001-2010………25
2 Một số giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2001-2010
2.1 Hoàn thiện chính sách đầu tư phát triển………27 2.2 Phát triển khoa học – công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực nhằm thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế………29 2.3 Đẩy mạnh hoạt động thương mại nhằm thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế………32
KÊT LUẬN………35 TÀI LIỆU THAM KHẢO………36
Trang 4Các chữ viết tắt
CNH-HĐH: Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
KHCN: Khoa học công nghệ
Trang 5Danh mục bảng biểu
Bảng 1: Tốc độ tăng GDP của Việt Nam qua các năm 2001-2005.
Bảng 2: Cơ cấu lao động đang làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm phân theongành kinh tế (%)
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm 1-K45E đã cố gắng hết sức mình,tuy vậy, bài tiểu luận sẽ không thể được hoàn thành nếu không có sự hướng dẫn,chỉ bảo tận tình cô giáo Lương Thị Ngọc Oanh, giảng viên môn Kinh tế pháttriển - Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế - Trường đại học Ngoại Thương.Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự góp ý, nhận xét quý báu của cácbạn trong khối K45E, góp phần vào sự hoàn thiện của bài tiểu luận
Bài tiểu luận mặc dù đã được thực hiện cẩn thận và công phu, cũng khôngthể không tránh khỏi những thiếu sót Chính vì thế, nhóm 1 – K45E mong nhậnđược sự góp ý của cô giáo và các bạn nhằm làm cho bài tiểu luận được hoànthiện hơn
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển các ngành trọng điểm, mũinhọn là một vấn đề cơ bản, cốt lõi của tiến trình CNH - HĐH của bất cứ mộtquốc gia nào trong đó Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ
Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau từ trước đến nay
và tương ứng với mỗi giai đoạn lại có những đặc điểm riêng, những ưu tiênriêng trong cơ cấu phát triển kinh tế đất nước Do cơ cấu kinh tế chịu tác độngđồng thời của những nhân tố bên trong và bên ngoài và liên tục biến động nênluôn đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu xem xét để có thể có những nhận định vàkết luận đúng đắn, từ đó có những hành động phù hợp trong từng giai đoạn Đặcbiệt trong giai đoạn từ 2001 đến nay và hướng tới 2010, nước ta đã và đang đốimặt với những thách thức to lớn trên nhiều phương diện Cùng với những tháchthức là những cơ hội để nước ta có thể hòa nhập và phát triển mạnh, do vậy càngđòi hỏi cần phải có những nghiên cứu sâu sắc về quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế đất nước, tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được cũng như nhậnthức rõ về những hạn chế nhằm đẩy mạnh quá trình CNH – HĐH của đất nước
Với lý do trên chúng em đã chọn đề tài: “Lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế và thực tiễn ở Việt Nam giai đoạn 2001-2010” cho bài tiểu luận
của mình
Nội dung tiểu luận gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Trang 8Chương 2: Thực tiễn chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ởViệt Nam
Với mục đích và nội dung nghiên cứu như trên, bài tiểu luận là cái nhìntổng quan về thực trạng chuyển đổi cơ cấu ngành ở nước ta và phần nào đề xuấtmột số giải pháp để đạt được mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tronggiai đoạn 2001-2010
Trang 9I LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ
1 Các khái niệm
1.1 Cơ cấu kinh tế
Trong ba tiêu thức đánh giá sự phát triển của một quốc gia, cơ cấu kinh tếđược xem là tiêu thức phản ánh sự thay đổi về chất, là dấu hiệu đánh giá các giaiđoạn phát triển của nền kinh tế Có thể định nghĩa cơ cấu kinh tế là mối tươngquan giữa các bộ phận trong tổng thể nền kinh tế
Cơ cấu kinh tế được phân thành nhiều loại: cơ cấu ngành kinh tế; cơ cấuvùng kinh tế; cơ cấu thành phần kinh tế; cơ cấu khu vực thể chế; cơ cấu tái sảnxuất; cơ cấu thương mại quốc tế Trong đó, cơ cấu ngành có vai trò quan trọngnhất, sự biến động của nó có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của nền kinh
tế mỗi quốc gia
1.2 Cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế là tương quan giữa các ngành trong tổng thể kinh tế,thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số và chất lượng giữacác ngành với nhau Thông qua đó cơ cấu ngành kinh tế còn phản ánh phần nàotrình độ phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa, hợp tác sản xuất và sựphát triển của lực lượng sản xuất Hiện nay, khi phân tích cơ cấu ngành của mộtquốc gia, người ta thường phân tích theo 3 nhóm ngành chính : Nông nghiệp(bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp), Công nghiệp (bao gồm côngnghiệp và xây dựng), Dịch vụ (bao gồm các ngành kinh tế còn lại như : bưuđiện, du lịch …)
Trang 101.3 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là sự thay đổi tương quan giữa các ngànhkinh tế theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với môi trường vàđiều kiện phát triển
Qua khái niệm trên có thể thấy rằng, chuyển dịch cơ cấu ngành không chỉ
là sự thay đổi về số lượng các ngành, tỷ trọng mỗi ngành mà còn còn bao gồm
sự thay đổi về vai trò của các ngành, tính chất mối quan hệ trong nội bộ cơ cấungành Việc chuyển dịch cơ cấu ngành phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có
và nội dung của sự chuyển dịch là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp
để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hiện đại và phù hợp hơn
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có một ý nghĩa hết sức quan trọng đốivới nền kinh tế của mỗi quốc gia Đó là quá trình diễn ra liên tục và gắn liền với
sự phát triển kinh tế, thể hiện tính hiệu quả của việc phân bổ các nguồn lực khanhiếm cũng như lợi thế tương đối và khả năng cạnh tranh của quốc gia trong nềnkinh tế toàn cầu Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế hợp lý, linh hoạt giúp choviệc thu được mức tăng sản xuất xã hội lớn nhất, phân bố hợp lý lực lượng sảnxuất, phát triển các mối quan hệ đối ngoại và mang lại sự phát triển bền vữngcho nền kinh tế
2 Xu thế chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
2.1 Những cơ sở lý thuyết:
Trang 11Để nắm rõ được tính quy luật của sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế thìtrước hết phải tìm hiểu một số cơ sở lý thuyết Đó là quy luật tiêu dùng củaE.Engel và quy luật tăng năng suất lao động của A.Fisher
a Quy luật tiêu dùng của Ernst Engel (nhà kinh tế người Đức):
Được phát hiện từ cuối thế kỉ 19, quy luật tiêu dùng thực nghiệm củaE.Engel đã phản ánh được mối quan hệ giữa thu nhập và phân phối thu nhập chotiêu dùng: khi thu nhập tăng, tỷ lệ chi tiêu cho lương thực, thực phẩm giảm Do
đó, tỷ trọng nông nghiệp cũng giảm vì chức năng chính của nông nghiệp là sảnxuất lương thực, thực phẩm Đồng thời, E.Engel đã đề xướng ra đường Engel-một đường biểu thị mối quan hệ giữa thu nhập và tiêu dùng cá nhân về một loạihàng hoá cụ thể Đường Engel được minh hoạ như sau:
cư Các nhà kinh tế phân loại thành ba loại hàng hoá, trong đó nông sản là hàngthiết yếu, công nghiệp là hàng hoá lâu bền, dịch vụ là hàng hoá cao cấp Và như
Trang 12vậy có thể đưa ra kết luận là khi thu nhập tăng thì tỷ trọng chi tiêu cho hàng hoáthiết yếu giảm, tỷ trọng chi tiêu cho hàng hoá lâu bền tăng, tỷ trọng chi tiêu chodịch vụ tăng
b Quy luật tăng năng suất lao động của A.Fisher (nhà kinh tế người Mỹ):Năm 1935, trong cuốn “Các quan hệ kinh tế của tiến bộ kĩ thuật”, trên cơ sởquan niệm nền kinh tế gồm ba khu vực: nông - lâm - ngư nghiệp - khai tháckhoáng sản, các ngành công nghiệp xây dựng chế biến và các ngành dịch vụ;A.F phân tích rằng: ngành nông nghiệp dễ có khả năng thay thế lao động nhất và
tỷ lệ lao động nông nghiệp trong cơ cấu ngành kinh tế có xu hướng giảm Trongkhi đó, công nghiệp là ngành khó có khả năng thay thế lao động hơn và tỷ lệ laođộng công nghiệp có xu hướng tăng Còn ngành dịch vụ được coi là khó thay thếlao động nhất và có xu hướng càng tăng nhanh khi kinh tế phát triển
2.2 Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế:
Từ những cơ sở lý thuyết trên có thể rút ra kết luận về tính quy luật của sựdịch chuyển cơ cấu nền kinh tế là chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước Muốn chuyển một nền kinh tế nông nghiệp sang một nền kinh
tế công nghiệp cần trải qua các bước: chuyển từ kinh tế nông nghiệp sang kinh
tế công-nông nghiệp để từ đó chuyển sang nền kinh tế công nghiệp phát triển.Những nội dung cụ thể của xu hướng này thể hiện ở chỗ: tỷ trọng nông nghiệp
có xu hướng giảm đi trong khi đó tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ ngày càngtăng kể cả GDP và lao động Một xu hướng khác lại cho thấy, khi nền kinh tếbước sang những giai đoạn phát triển cao thì tốc độ tăng của ngành dịch vụ sẽngày càng cao hơn so với tốc độ tăng của ngành công nghiệp Trong ngành công
Trang 13nghiệp, tỷ trọng các ngành sản xuất sản phẩm có dung lượng vốn cao ngày cànglớn và gia tăng với tốc độ nhanh, tỷ trọng các ngành sản phẩm có dung lượnglao động cao sẽ giảm dần Đối với ngành dịch vụ, theo sự phát triển kinh tế, cácngành dịch vụ chất luợng cao sẽ có tốc độ phát triển nhanh và chiếm tỷ trọngcao Và ở các nước khác nhau thì xu hướng chuyển dịch như nhau nhưng tốc độchuyển dịch khác nhau Có thể nói những kết luận của E.Engel và A.Fisher đãgợi ra những nội dung khá ró nét về xu thế chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tếtrong quá trình phát triển.
3 Các mô hình lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
3.1 Mô hình Rostow
Mô hình Rostow thể hiện quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia quanăm giai đoạn và ứng với mỗi một giai đoạn là một dạng cơ cấu ngành kinh tếđặc trưng thể hiện bản chất của giai đoạn đó
Xã hội truyền thống: cơ cấu nông nghiệp thuần tuý
Chuẩn bị cất cánh: cơ cấu nông - công nghiệp
Cất cánh: cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ
Trưởng thành: cơ cấu công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp
Tiêu dùng cao: cơ cấu dịch vụ - công nghiệp
Với một mô hình phát triển kinh tế năm giai đoạn như trên, W.Rostow đãchỉ ra được một sự lựa chọn hợp lý về dạng cơ cấu ngành tương ứng với mỗigiai đoạn phát triển nhất định của mỗi quốc gia tuy nhiên mô hình này vẫn cònnhiều hạn chế về cơ sở của sự phân đoạn trong phát triển kinh tế cũng như sựnhất quán về đặc trưng của mỗi giai đoạn so với thực tế
Trang 143.2 Mô hình hai khu vực Cổ điển (Arthus Lewis)
Nhà kinh tế học A.Lewis đã giải thích về mối quan hệ giữa nông nghiệp vàcông nghiệp trong quá trình tăng trưởng thông qua “mô hình hai khu vực cổđiển” của mình Đặc trưng chủ yếu của mô hình này là phân chia nền kinh tếthành hai khu vực, trong đó khu vực truyền thống (nông nghiệp) có đặc điểm lànăng suất thấp, dư thừa lao động và có lợi nhuận biên giảm dần theo quy mô vàtiến tới bằng không Vì thế, có thể chuyển một phần lao động từ khu vực nàysang khu vực hiện đại (công nghiệp) mà không làm ảnh hưởng gì tới sản lượngnông nghiệp Do có năng suất cao nên khu vực công nghiệp có thể tự tích luỹ để
mở rộng sản xuất một cách độc lập mà không phụ thuộc vào những điều kiệnchung của toàn bộ nền kinh tế Như vậy, mô hình hai khu vực cổ điển của Lewis
đã xác định được một hướng giải quyết mới mối quan hệ giữa công nghiệp vànông nghiệp trong quá trình thực hiện mục tiêu tăng trưởng và phát triển
3.3 Mô hình hai khu vực Tân cổ điển
Dưới sự tác động của KHCN, các nhà kinh tế học tân cổ điển cho rằng mọi
sự tăng lên của lao động đều dẫn đến tăng sản lượng nông nghiệp hay nói cáchkhác sự tăng dân số không phải là hiện tượng bất lợi hoàn toàn và do đó không
có lao động dư thừa để có thể chuyển sang khu vực khác mà không làm giảmđầu ra của nông nghiệp Tuy nhiên, sự tác động của khoa học kỹ thuật cũngkhông đủ để làm cho khu vực nông nghiệp thoát khỏi quy luật lợi nhuận biêngiảm dần theo quy mô Do đó, với một số lượng lao động tăng lên bằng nhau,tổng sản phẩm của khu vực này ngày càng giảm đi Trong khi đó để thu hút laođộng từ nông nghiệp sang, khu vực công nghiệp phải trả một mức tiền công lao
Trang 15động cao hơn mức tiền công của khu vực nông nghiệp Hơn thế nữa, mức tiềncông phải trả của khu vực công nghiệp sẽ tăng dần lên theo xu hướng sử dụngngày càng nhiều lao động.
Trong điều kiện trên, để quá trình trao đổi giữa hai khu vực không tạo ranhững bất lợi ngày càng nhiều cho khu vực công nghiệp thì các nhà tân cổ điển
đã cho rằng cần phải đầu tư cho cả hai khu vực ngay từ đầu nhưng tỷ trọng đầu
tư cho nông nghiệp có xu hướng giảm đi và ưu tiên tăng dần tỷ trọng đầu tư chokhu vực công nghiệp
3.4 Mô hình hai khu vực của Harry T.Oshima
Nhà kinh tế người Nhật Bản Harry T.Oshima đã đưa ra những quan điểmmới về mô hình phát triển và mối quan hệ công-nông nghiệp dựa trên những đặcđiểm cơ bản của sản xuất nông nghiệp và hoạt động kinh tế châu Á Thông qua
mô hình của mình, Oshima phân tích mối quan hệ của hai khu vực trong sự quá
độ về cơ cấu từ nền kinh tế do nông nghiệp chiếm ưu thế sang nền kinh tế côngnghiệp Với quan điểm hướng tới một nền kinh tế phát triển, Oshima đã đưa rahướng quan tâm đầu tư phát triển nền kinh tế theo ba giai đoạn:
Giai đoạn bắt đầu của quá trình tăng trưởng: với mục tiêu tạo việc làm chothời gian nhàn rỗi theo hướng tăng cường đầu tư phát triển nông nghiệp, qua đótăng sản lượng để đáp ứng nhu cầu lương thực cho dân số ngày càng gia tăng,tạo tiền đề cho phát triển công nghiệp
Giai đoạn hai: hướng tới có việc làm đầy đủ bằng cách đầu tư cho cả nôngnghiệp và công nghiệp theo chiều rộng
Trang 16 Giai đoạn sau khi có việc làm đầy đủ: thực hiện phát triển các ngành kinh
tế theo chiều sâu nhằm giảm cầu lao động
Qua ba giai đoạn phát triển của mô hình Oshima chúng ta có thể nhận thấy
rõ quan điểm về tăng trưởng và phát triển kinh tế của Oshima là phải dựa trênđộng lực tích luỹ và đầu tư đồng thời ở cả hai khu vực kinh tế và bắt đầu từ nôngnghiệp Với quan điểm đó, ông cho rằng, quá trình tăng trưởng kinh tế nhanhkhông dẫn đến sự phân hoá xã hội và sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập.Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế với sự phát triển chungcủa nền kinh tế có ý nghĩa hết sức quan trọng vì gắn với nó là cả một động thái
về sự phân bố các nguồn lực hạn hẹp của một quốc gia trong những thời điểmnhất định vào những hoạt động sản xuất riêng Sự chuyển dịch cơ cấu ngành thểhiện tính hiệu quả của việc phân bố nguồn lực Trong nền kinh tế hội nhập quốc
tế và khu vực ngày càng phát triển thì việc lựa chọn và chuyển dịch hợp lý cơcấu ngành thể hiện được các lợi thế tương đối và khả năng cạnh tranh của mộtquốc gia trong nền kinh tế toàn cầu, là cơ sở cho sự chủ động tham gia và thựchiện hội nhập thắng lợi
Trang 17II THỰC TIỄN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001-2010
1 Thực trạng của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong giai
đoạn 2001-2010
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH đã được Đảng và Nhànước ta xác định là con đường tất yếu để Việt Nam nhanh chóng thoát khỏi tìnhtrạng lạc hậu, chậm phát triển trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại Theođịnh hướng đó, việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của nước ta, từ năm 1991đến nay nói chung và giai đoạn 2001-2010 nói riêng đã đạt được những thànhtựu đáng kể, tuy nhiên bên cạnh đó cũng vẫn còn tồn tại một số hạn chế cầnđược khắc phục trong thời gian tới
1.1 Những thành tựu trong chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
a Kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2001-2005 Tốc độ tăng (%)GDP 6,89 7,08 7,34 7,79 8,43 7,51
Bảng 1: Tốc độ tăng GDP của Việt Nam qua các năm 2001-2005.
(Nguồn: Niên giám thống kê)
GDP bình quân hằng năm nước ta thời kỳ 2001-2005 đạt cao (7,51% năm), GDPtăng đáng kể từ 6,89 % năm 2001 lên đến 8,43% năm 2005 Tăng trưởng kinh
tế cao kéo theo thu nhập bình quân đầu người cũng được cải thiện đáng kể, tăng
từ 483 USD năm 2003 lên đến 545 USD năm 2004 và 640 USD năm 2005 Kếtquả này cho thấy Việt Nam đã bước vào thời kỳ tăng trưởng nhanh và ổn định,
Trang 18tiềm lực kinh tế của đất nước đã thay đổi đáng kể Năm 2008, tốc độ tăng tổngsản phẩm trong nước tuy thấp hơn tốc độ tăng 8,48% của năm 2007 và mục tiêu
kế hoạch điều chỉnh là tăng 7%, nhưng trong bối cảnh khủng hoảng, đạt tốc độtăng tương đối cao như trên là một nỗ lực lớn
b Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trên thực tế, đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng tích cực: tỷ trọngtrong GDP của ngành nông nghiệp đã giảm nhanh từ 24,5% năm 2000 xuốngcòn 20,9% năm 2005, và đến năm 2008 ước còn 20,6% Tỷ trọng công nghiệptrong GDP đã tăng nhanh, năm 2000: 36,7%; năm 2005: 41% và đến năm 2008ước tính sẽ tăng đến 41,6% Cơ cấu GDP tính theo giá thực tế năm 2008 nhưsau: Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 21, 99% GDP; khu vực côngnghiệp và xây dựng chiếm 39, 91%; khu vực dịch vụ chiếm 38, 1%
Bên cạnh đó, cơ cấu lao động theo ngành kinh tế cũng chuyển đổi theohướng CNH-HĐH Số lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ ngàycàng tăng lên, trong khi số lao động ngành nông nghiệp ngày càng giảm đi (bảng2)
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007Nông, lâm nghiệp 60,65 58,66 56,98 55,37 53,61 51,78 50,20Công nghiệp chế biến 10,08 10,53 11,24 11,62 12,34 13,05 13,50Xây dựng 3,35 3,86 4,16 4,62 4,70 4,93 5,13
Kinh doanh tài sản và
dịch vụ tư vấn
0,19 0,23 0,27 0,31 0,36 0,41 0,49
Tài chính, tín dụng 0,22 0,25 0,27 0,30 0,37 0,42 0,48