1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Hưng Phúc

77 823 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Hưng Phúc
Tác giả Đặng Thựy Trang
Người hướng dẫn Ths. Phan Hữu Nghị
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Tài chính doanh nghiệp
Thể loại chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 545,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu tham khảo kinh tế đầu tư: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Hưng Phúc

Trang 1

trêng §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n

N©ng cao hiÖu qu¶ sö dông vèn

t¹i c«ng ty Tr¸ch nhiÖm h÷u h¹n Hng phóc

Gi¸o viªn híng dÉn : Ths Phan H÷u NghÞ

Sinh viªn thùc hiÖn : §ÆNG THïY TRANG

Hµ Néi, 10/2008

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Mỗi doanh nghiệp khi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh thìvấn đề quan trọng nhất là các nguồn vốn của doanh nghiệp Nguồn vốn củadoanh nghiệp sẽ là yếu tố tiên quyết và vô cùng quan trọng trong việc thànhlập và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Bêncạnh nguồn vốn chúng ta cũng cần phải kể đến các yếu tố khác như nguồnnhân lực, trình độ quản lý…cũng có vai trò nhất định nhằm góp phần thúcđẩy các doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, nguồn vốn lại càng có ý nghĩa vô cùng tolớn Nguồn vốn của mỗi doanh nghiệp không tự nhiên mà có, nó đòi hỏidoanh nghiệp phải có những phương thức tạo vốn và huy động vốn để đápứng những đòi hỏi ngày càng cao của nền kinh tế Hiện nay có rất nhiều hìnhthức huy động cũng như các nguồn vốn huy động khác nhau, nhưng điềuquan trọng là mỗi doanh nghiệp cần phải xác định cho mình phương thức huyđộng tốt nhất và phù hợp nhất Bởi mỗi phương thức huy động lại có những

ưu điểm và nhược điểm riêng

Bởi vai trò to lớn đó của nguồn vốn nên các doanh nghiệp đều nhậnthức được tầm quan trọng của việc huy động vốn cho doanh nghiệp Do đótrong quá trình thực tập tại công ty THHH Hưng Phúc em đã chọn đề tài:

“Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Hưng Phúc”

Đây cũng chính là vấn đề đang được ban giám đốc công ty đặc biệtquan tâm Đề tài nghiên cứu các lý thuyết kinh tế về nguồn vốn và các hoạtđộng huy động vốn, kết hợp với thực trạng huy động vốn tại công ty trongthời gian qua để từ đó đưa gia những ý kiến đóng góp, những giải pháp gópphần giải quyết những vấn đề còn tồn tại trong công ty về hoạt động huy độngvốn để từ đó công ty có những phương thức huy động vốn có hiệu quả hơn

Trang 3

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ NGUỒN VỐN TRONG DOANH NGHIỆP

I VỐN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

1 1 Khái quát về vốn trong doanh nghiệp

1.1 Một số khái niệm về vốn

Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành hoạt động sản xuất kinhdoanh, các doanh nghiệp cần phải có các yếu tố cơ bản sau: Sức lao động, đốitượng lao động và tư liệu lao động Để có được các yếu tố này đòi hỏi doanhnghiệp phải ứng ra một số vốn nhất định phù hợp với quy mô và điều kiệnkinh doanh

Có nhiều định nghĩa khác nhau về vốn

Theo Samuelson: “vốn là hàng hóa được sản xuất ra để phục vụ cho mộtquá trình sản xuất mới, là đầu vào cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp”

Theo D.Begg, tác giả đưa ra hai định nghĩa: “Vốn hiện vật là dự trữ cáchàng hóa đã sản xuất để xản xuất các hàng hóa khác, Vốn tài chính là tiền vàcác giấy tờ có giá của doanh nghiệp”

Qua nhiều thời kỳ đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về vốn Ta có thểxem xét một khái niệm khái quát về vốn của doanh nghiệp như sau:

“Vốn của doanh nghiệp là các quỹ tiền, vốn mà các doanh nghiệp dùngvào quá trình sản xuất kinh doanh của mình Vốn thực chất là một số tiền màdoanh nghiệp ứng ra trước một chu kỳ sản xuất kinh doanh và nó phải được thuhồi đầy đủ (bảo toàn giá trị) sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh”

1.2 Đặc điểm của vốn

Vốn được biểu hiện dưới hình thái giá trị của những tài sản, tức là vốnphải đại diện cho một lượng giá trị thực tại của tài sản nhất định bao gồm: tài

Trang 4

sản hữu hình tư liệu sản xuất, nhà máy, đất đai, nguyên vật liệu…Vô hình nhưchất xám, nguồn nhân lực, thông tin…

Vốn có một số đặc điểm sau:

Vốn phái vận động.

Trong quá tringh vận động vốn có điểm xuất phát và kết thúc T, sau mộtchu kỳ vận động vốn sẽ được tăng lên Phương thức vận động của vốn được thểhiện khác nhau trong các doanh nghiệp khác nhau

T – H…sx…H’ – T’: Doanh nghiệp sản xuất

T – H – T’: Doanh nghiệp thương mại

T – T’: Tổ chức tài chính trung gian

Sự thay đổi hình thái vận động của vốn tạo ra khả năng sinh lời, đấyvừa là mục đích kinh doanh và là phương tiện để vốn vận động tiếp theo ởchu kỳ sau:

Vốn phải được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định

Trong đầu tư kinh doanh cần phải có một lượng vốn lớn để hoạt động.Nhưng mỗi nhà đầu tư không phải ai cũng có đủ số vốn cần thiết để kinhdoanh, do đó họ cần tập trung nhau lại hoặc huy động thêm nguồn vốn cần có

để phục vụ cho nhu cầu đầu tư, kinh doanh

Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền – phản ánh giá trị của những tài sản hữu hình mà còn được biểu hiện ở tài sản vô hình.

Tài sản hữu hình: đất đat, nhà xưởng, máy móc, trang thiết bị…

Tài sản vô hình: nhãn hiệu, vị trí kinh doanh, bản quyền phát minh…

2 Phân loại vốn

1.1 Vốn đầu tư

2.1.1 Khái niệm vốn đầu tư

Trang 5

Vốn đầu tư của doanh nghiệp là các loại hàng hóa hữu hình (nhà cửa,vật kiến trúc, máy móc thiết bị…), hàng hóa vô hình (mặt đất, bí quyết côngnghệ…), các loại tiền tệ (nội tệ, ngoại tệ) và các phương tiện khác (chứngkhoán, vàng, bạc…) không phân biệt chủ sở hữu, được doanh nghiệp huyđộng vào quá trình tái sản xuất của mình theo các hình thức và mức độ khácnhau nhằm duy trì và nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, năng lực quản

lý, năng lực chuyên môn của lao động đồng thời mang lại thu nhập cho vốnchủ sở hữu

Nói một cách khác chung nhất thì vốn đầu tư là toàn bộ các nguồn lực

được sử dụng cho hoạt động đầu tư nhằm thu được lựi ích nhất định Như vậy

vốn đầu tư trong doanh nghiệp là toàn bộ phần vốn được huy động thêm đểphục vụ cho việc duy trì và nâng cao năng lực hoạt động của doanh nghiệp

2.1.2 Phân loại vốn đầu tư

- Vốn do phát hành trái phiếu, cổ phiếu

- Vốn vay của các tổ chức kinh tế và tư nhân trong nước

- Vốn tự bổ sung từ các quỹ doanh nghiệp

o Nguồn vốn nước ngoài

- Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

- Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)

- Vay thương mại các tổ chức tín dụng quốc tế

Trang 6

 Theo thời gian thực hiện vốn đầu tư

- Vốn đầu tư ngắn hạn

- Vốn đầu tư dài hạn

 Theo công dụng kinh tế

- Vốn đầu tư cho lĩnh vực sản xuất vật chất

- Vốn đầu tư cho lĩnh vực không sản xuất vật chất

 Theo nội dung hoạt động

- Vốn chuẩn bị đầu tư

- Vốn đầu tư cơ bản

- Vốn đầu tư cho vận hành sản xuất kinh doanh

1.2 Vốn kinh doanh

Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thường xuyên vận động và chuyểnhóa từ hình thái ban đầu là tiền sang hình thái hiện vật và cuối cùng lại trở vềhình thái ban đầu là tiền Sự vận động của vốn kinh doanh như vậy được gọi

là sự tuần hoàn của vốn Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp diễn ra liên tục, không ngừng Do đó, sự tuần hoàn của vốn kinhdoanh cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ tạo thành sự chuchuyển của vốn kinh doanh Sự chu chuyển của vốn kinh doanh chịu sự chiphối rất lớn bởi đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành kinh doanh

Từ những phân tích trên có thể rút ra: “Vốn kinh doanh của doanh

nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời” Vốn kinh

doanh không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của doanh nghiệp

mà nó còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trìnhhoạt động và phát triển của doanh nghiệp

Trang 7

Căn cứ vào đặc điểm chu chuyển của vốn, có thể chia vốn kinh doanhthành hai loại: Vốn cố định và vốn lưu động.

2.2.1 Vốn cố định

Trong nền kinh tế thị trường, để có được các tài sản cố định cần thiếtcho hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải đầu tư ứng trước một lượng vốntiền tệ nhất định Số vốn doanh nghiệp ứng ra để hình thành nên tài sản cốđịnh được gọi là vốn cố định của doanh nghiệp

Vốn cố định là số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng các tàisản cố định nên quy mô của vốn cố định lớn hay nhỏ sẽ quyết định đến quy

mô, tinh đồng bộ của tài sản cố định, ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang bị

kỹ thuật và công nghệ sản xuất, năng lực sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Mặt khác, trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, vốn cốđịnh thực hiện chu chuyển giá trị của nó Sự chu chuyển này của vốn cố địnhchịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm kỹ thuật của tài sản cố định của tài sản

cố định Có thể khái quát những đặc điểm chủ yếu chu chuyển của vốn cốđịnh trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp như sau:

 Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn cốđịnh chu chuyển giá trị dần dần từng phần và được thu hồi giá trị từngphần sau mỗi kỳ kinh doanh

 Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh mới hoàn thànhmột vòng chu chuyển

 Vốn cố định chỉ hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất đượctài sản cố định về mặt giá trị - tức là thu hổi đủ tiền khấu hao tài sản cốđịnh

Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm về vốn cố định nhưsau: “Vốn cố định của doanh nghiệp là bộ phận của vốn đầu tư ứng trước

Trang 8

về tài sản cố định Đặc điểm của nó là chu chuyển giá trị dần dần từngphần trong nhiều chu kỳ kinh doanh và hoàn thành một vòng chu chuyểnkhi tái sản xuất được tài sản cố định về mặt giá trị.”

Vốn cố định là một bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh Việc tăngthêm vốn cố định trong các doanh nghiệp nói riêng và trong các ngành nóichung có tác động lớn đén việc tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của doanhnghiệp và nền kinh tế Do giữ vị trí then chốt và đặc điểm vận động của vốn

cố định tuân theo tính quy luật riêng, nên việc quản lý vốn cố định được coi làmột trọng điểm của công tác quản lý tài chính doanh nghiệp

2.2.2 Vốn lưu động

2.2.2.1 Khái niệm và nội dung của vốn lưu động

Để tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài các tài sản cố định, doanhnghiệp cần phải có các tài sản lưu động Tài sản lưu động của doanh nghiệpgồm 2 bộ phận:

 Tài sản lưu động sản xuất: Gồm một bộ phận là những vật tư dự trữ đểđảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục như nguyên vật liệuchính, vật liệu phụ, nhiên liệu…và một bộ phận đang trong quá trìnhsản xuất như: Sản phẩm dở dang, bán thành phẩm…

 Tài sản lưu động lưu thông: Là những tài sản nằm trong quá trình lưuthông của doanh nghiệp như: Thành phẩm trong kho chờ tiêu thụ, vốnbằng tiền, vốn trong thanh toán…

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản lưu động sản xuất, tài sản lưuđộng lưu thông luôn thay thế chỗ cho nhau, vận động không ngừng nhằm đảmbảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành liên tục và thuận lợi

Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thườngxuyên, liên tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng tài sản lưu động nhất

Trang 9

định Do đó, để hình thành nên các tài sản lưu động, doanh nghiệp phải ứng ramột số vốn tiền tệ nhất định đầu tư vào các tài sản đó Số vốn này được gọi làvốn lưu động của doanh nghiệp.

Trong quá trình kinh doanh, vốn lưu động chu chuyển không ngừng,nên tại một thời điểm nhất định, vốn lưu động thường xuyên có các bộ phậncùng tồn tại dưới các hình thái khác nhau trong các giai đoạn mà vốn đi qua

Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, do bị chi phối bởicác đặc điểm của tài sản lưu động nên vốn lưu động của doanh nghiệp có đặcđiểm sau:

 Vốn lưu động trong quá trình thể hiện luôn thay đổi hình thái biểu hiện

 Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoànlại toàn bộ sau mỗi chu kỳ kinh doanh

 Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh

Từ những phân tích trên ta có thể rút ra: “Vốn lưu động của doanh

nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên các tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần

và được thu hồi toàn bộ, hoàn thành một vòng luân chuyển khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh”.

Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của qúa trìnhtái sản xuất Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục, doanh nghiệp phải

có đủ tiền vốn đầu tư vào các hình thái khác nhau của vốn lưu động, khiêncho các trạng thái có được mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau Như vậy

sẽ tạo điều kiện cho chuyển hóa hình thái của vốn trong quá trình luân chuyểnđược thuận lợi, góp phần tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, tăng hiệusuất sử dụng vốn lưu động và ngược lại

Trang 10

Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh, đánh giá quá trình vận độngcủa vật tư Trong doanh nghiệp sự vận động của vốn phản ánh sự vận độngcủa vật tư Số vốn lưu động nhiều hay ít phản ánh số lượng vật tư, hàng hóa

dự trữ sử dụng ở các khâu nhiều hay ít Vốn lưu động luân chuyển nhanh haychậm còn phản ánh số lượng vật tư sử dụng tiết kiệm hay không Thời giannằm ở khâu sản xuất và lưu thông có hợp lý hay không Bởi vậy, thông quatình hình luân chuyển vốn lưu động có thể kiểm tra, đánh giá một cách kịpthời đối với các mặt mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm dịch vụcủa doanh nghiệp

2.2.2.2 Thành phần vốn lưu động

Để quản lý vốn lưu động được tốt cần phải phân loại vốn lưu động.Dựa theo tiêu thức khác nhau, có thể chia vốn lưu động thành nhiều loại khácnhau Thông thường có một số cách phân loại chủ yếu sau:

 Dựa theo hình thái biểu hiện của vốn có thể chia vốn lưu động thành:

 Vốn bằng tiền và các khoản phải thu:

Vốn bằng tiền gồm: TIền mặt tại quỹ, tiền gửi Ngân hàng và tiền đangchuyển Tiền là một loại tài sản có tính linh hoạt cao, doanh nghiệp có thể dễdàng chuyển đổi thành các loại tài sản khác hoặc để trả nợ Do vậy, trong hoạtđộng kinh doanh đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần phải có một lượng tiền nhấtđịnh cần thết

Các khoản phải thu: Chủ yếu là các khoản phải thu từ khách hàng thểhiện ở số tiền mà khách hàng nự doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bánhàng, cung ứng dịch vụ dưới hình thức bán trước trả sau Ngoài ra, với một sốtrường hợp mua sắm vật tư khan hiếm, doanh nghiệp còn có thể phải ứngtrước tiền mua hàng cho người cung ứng, từ đó hình thành khoản tạm ứng

 Vốn về hàng tồn kho:

Trang 11

Trong doanh nghiệp sản xuất vốn vật tư hàng hóa gồm: Vốn vật tư dựtrữ, vốn sản phẩm dở dang, vốn thành phẩm Các loại này được gọi chung là

là vốn về hàng tồn kho bao gồm các khoản mục sau:

- Vốn nguyên vật liệu chính: Là giá trị các loại nguyên vật liệu chính

dự trữ cho sản xuất, khi tham gia vào sản xuất, chúng hợp thành thực thể củasản phẩm

- Vốn vật liệu phụ: Là giá trị các loại vật liệu phụ dự trữ cho sản xuất,giúp cho việc hình thành sản phẩm, nhưng không hợp thành thực thể chínhcủa sản phẩm, chỉ thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bề ngoài của sản phẩmhoặc tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh thuận lợi

- Vốn nhiên liệu: Là giá trị các loại nhiên liệu dự trữ dùng trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh

- Vốn phụ tùng thay thế: Là giá trị các loại vật tư dùng để thay thế, sửachữa tài sản cố định

- Vốn vật đóng gói: Là giá trị các loại vật liệu bao bì dùng để đóng góisản phẩm trong quá trình sản xuất và tiêu thụ

- Vốn công cụ dụng cụ: Là giá trị các loại công cụ dụng cụ không đủtiêu chuẩn tài sản cố định dùng cho hoạt động kinh doanh

- Vốn sản phẩm đang chế: Là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản xuấtkinh doanh đã bỏ ra cho các loại sản phẩm đang trong quá trình sản xuất

- Vốn về chi phí trả trước: Là khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng

có tác dụng cho nhiều chu kì sản xuất kinh doanh

- Vốn thành phẩm: Là giá trị của những sản phẩm đã được sản xuấtxong, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật và được nhập kho

Việc phân loại vốn lưu động theo các này tạo điều kiện thuận lợi choviệc xem xét đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh

Trang 12

nghiệp Mặt khác, có thể tìm thấy biện pháp phát huy chức năng các thànhphần vốn.

 Dựa theo vai trò của vốn lưu động đối với quá trình sản xuất kinh doanh:

 Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất:

đề ra các biện pháp tổ chức quản lý thích hợp nhằm tạo ra một kết cấu vốnlưu động hợp lý, tăng được tốc độ luân chuyển vốn lưu động

Trang 13

II- CÁC NGUỒN TÀI TRỢ CỦA DOANH NGHIỆP

1 Tổng quan về các nguồn tài trợ của doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một yếu tố và là tiền đề cần thiếtcho việc hình thành và phát triển hoạt động kinh doanh của một doanhnghiệp Để biến những ý tưởng và kế hoạch kinh doanh thành hiện thực, đòihỏi phải có một lượng vốn nhằm hình thành nên những tài sản cần thiết chohoạt động của doanh nghiệp để đạt được mục tiêu đề ra Do vậy đòi hỏi doanhnghiệp phải tổ chức tốt nguồn vốn

Để tổ chức và lựa chọn hình thức huy động vốn thích hợp và có hiệuquả cần có sự phân loại nguồn vốn Dựa vào tiêu thức nhất định có thể chianguồn vốn của doanh nghiệp thành nhiều loại khác nhau Thông thường sửdụng một số cách thức phân loại sau:

1.1 Dựa vào quan hệ sở hữu

Dựa vào tiêu thức này có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp thành:

- Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp,bao gồm số vốn chủ sở hữu bỏ ra và phần bổ sung từ kết quả kinh doanh

- Nợ phải trả là thể hiện bằng tiền những nghĩa vụ mà doanh nghiệp cótrách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế khác như: Nợ vay, cáckhoản phải trả cho người bán, cho Nhà nước, cho người lao động…

Vốn chủ sở hữu = Giá trị tổng tài sản – Nợ phải trả

1.2 Dựa vào thời gian huy động và sử dụng nguồn vốn

Dựa vào tiêu thức này có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp thành:

- Nguồn vốn thường xuyên: Là tồng thể các nguồn vốn có tình chất ổnđịnh mà doanh nghiệp có thể sở dụng vào hoạt động kinh doanh Nguồn vốnnày thường được sử dụng để mua sắm, hình thành tài sản cố định và một bộ

Trang 14

phận tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp.

Nguồn vốn thường xuyên của DN = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn

Nguồn vốn thường

xuyên của DN = Giá trị tổng tài sản+ Nợ ngắn hạn

- Nguồn vốn tạm thời: Là các nguồn vốn có tình chất ngắn hạn (dướimột năm) doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các yêu cầu có tính chấttạm thời phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doan nghiệp Nguồn vốnthường bao gồm vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các nợngắn hạn khác

1.3 Dựa vào phạm vi huy động

- Nguồn vốn bên trong: Là nguồn vốn có thể huy động được vào đầu tư

từ chính hoạt động của bản thân doanh nghiệp tạo ra Nguồn vốn bên trongthể hiện khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp

- Nguồn vốn bên ngoài: Việc huy động nguồn vốn từ bên ngoài doanhnghiệp để tăng thêm nguồn tài chính cho hoạt động kinh doanh là vấn đề hếtsức quan trọng đối với một doanh nghiệp Cùng với sự phát triển của nền kinh

tế thị trường đã làm nảy sinh nhiều hình thức và phương pháp mới cho phépdoanh nghiệp huy động vốn từ bên ngoài

2 Các nguồn tài trợ của doanh nghiệp

2.1 Nguồn tài trợ ngắn hạn của doanh nghiệp

2.1.1 Nợ phải trả có tính chất chu kỳ.

Các khoản phải trả cho người lao động và các khoản phải nộp khác, cáckhoản này có tên gọi là nợ tích lũy, những khoản này phát sinh thường xuyêntrong hoạt động kinh doanh, tuy nhiên chúng chưa đến kỳ thanh toán

Ngoài những khoản nợ có tính chất thường xuyên trên đây, còn cónhững khoản phát sinh cũng mang tính chất như một nguồn tài trợ mà doanh

Trang 15

nghiệp tận dụng trước nhưng không phải trả chi phí, là những khoản tiền tạmứng trước của khách hàng, số tiền này nhiều hay ít tùy thuộc vào tính chấtquan trọng của sản phẩm hàng hóa đó, tình hình cung cầu trên thị trường, khảnăng mở rộng hay thu hẹp quy mô sản xuất, yêu cầu và điều kiện thanh toáncủa đôi bên.

2.1.2 Tín dụng nhà cung cấp.

Việc mua chịu, bán chịu giữa doanh nghiệp với các nhà cung ứng vật

tư, hàng hóa, dịch vụ đã xuất hiện từ lâu, hình thức tín dụng này chiếm vị tríquan trọng trong nguồn tài trợ ngắn hạn đối với doanh nghiệp, nhất là doanhnghiệp mới hình thành hoặc vốn hoạt động còn bị hạn chế Được nhận vật tư,tài sản, dịch vụ để hoạt động sản xuất – kinh doanh nhưng chưa phải thanhtoán, trả tiền ngay, điều đó rất có lợi cho doanh nghiệp Lợi ích của tín dụngthương mại nhà cung cấp rất lớn:

+ Cung cấp tín dụng cho doanh nghiệp hoạt động

+ Đàm phán tự nguyện giữa doanh nghiệp và nhà cung cấp

+ Kết quả đưa đến nhanh, khi nhà cung cấp biết rõ khách hàng, có thểđánh giá được khả năng thu hồi nợ, mức độ tín nhiệm, cũng như những rủi ro

có thể gánh chịu

2.1.3Tín dụng ngân hàng

Nguồn vốn của ngân hàng thương mại là một nguồn tài trợ đặc biệt chodoanh nghiệp, đó là nguồn tài trợ ngắn hạn, nhu cầu vốn lưu động của doanhnghiệp gia tăng trong hoạt động kinh doanh Các tổ chức tín dụng có thể chocác doanh nghiệp vay ngắn hạn với thời gian tối đa là 12 tháng Thời hạn chovay cụ thể của từng doanh nghiệp được xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất,kinh doanh và khả năng trả nợ của doanh nghiệp Lãi suất cho vay là lãi suấtthỏa thuận theo cớ chế thị trường và phù hợp với các quy định của ngân hàng

Trang 16

Nhà nước, quy định của Luật về các tôt chức tín dụng về lãi suất cho vay khi

ký kết hợp đồng

2.1.4 Chiết khấu thương phiếu

Thương phiếu là chứng chỉ có giá trị nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặccam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định trong một thời gianngắn nhất

Các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu, thồn thường muốn vay ngắn hạncần thể chấp bằng khoản phải thu, nhưng thay vì việc dùng hình thức này để thếchấp, có thể sử dụng thương phiếu để chiết khấu trên thị trường tiền tệ

2.1.5 Bán nợ

Trong nền kinh tế thị trường hình thành cơ chế mua bán nợ Với cơ chế

đó cho phép doanh nghiệp có thể bán nợ phải thu từ khách hàng bao hàm cả

nợ phải thu quá hạn, nợ khó đòi cho tổ chức mua bán nợ Tùy theo quy địnhcủa luật pháp mỗi nước, tổ chức mua bán nợ có thể là ngân hàng thương mạihay công ty mua bán nợ

2.1.6 Các nguồn tài trợ ngắn hạn khác

Ngoài các nguồn vốn để tài trợ ngắn hạn trên, doanh nghiệp còn có thể

sử dụng các nguông khác để tài trợ nhu cầu tăng vốn lưu động tạm thời, nhưcác khoản tiền đặt cọc, tiền ứng trước của khách hàng, các nguồn tài trợkhông có đảm bảo khác như tín dụng thư, các khoản cho vay theo từng hợpđồng cụ thể…

2.2 Những điểm lợi và bất lợi khi sử dụng nguồn tài trợ ngắn hạn

Trong các mô hình tổ chức nguồn tài trợ cho thấy các doanh nghiệpthường sử dụng các nguồn vốn tạm thời có tính chất ngắn hạn để đáp ứngphần lớn nhu cầu về vốn lưu động Trong đó, một nguồn vốn ngắn hạn chủyếu mà các doanh nghiệp sử dụng để đáp ứng nhu cầu về vốn lưu động là

Trang 17

ngồn vốn tín dụng ngắn hạn Do vậy, một vấn đề quan trọng trong công tácquản lý tài chính doanh nghiệp là phải đánh giá được những điểm lợi và bấtlợi khi sử dụng nguồn vốn tín dụng ngắn hạn để tài trợ cho hoạt động củadoanh nghiệp Thông thường nguồn vốn tín dụng ngắn hạn đối với doanhnghiệp có những điểm lợi và bất lợi sau:

Những điểm lợi

o Việc sử dụng tín dụng ngắn hạn giúp cho doanh nghiệp có thể thựchiện dế dàng, thuận lợi hơn so với việc sử dụng tín dụng dài hạn.Bởi vì, thông thường các điều kiện cho vay ngắn hạn mà ngân hàngthương mại và các tổ chức kinh tế khác đưa ra đối với doanh nghiệpthường ít khắt khe hơn so với tín dụng dài hạn

o Chi phí sử dụng tín dụng ngắn hạn thường thấp hơn so với sử dụngtín dụng dài hạn

o Sử dụng tín dụng ngắn hạn giúp cho doanh nghiệp có thể dễ dàng,linh hoạt điều chỉnh hơn cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp

Trang 18

2.3 Nguồn tài trợ dài hạn của doanh nghiệp

Sau khi đã quyết định đầu tư, một trong những quyết định quan trọngtiếp theo là quyết định tài trợ cho nhu cầu vốn đầu tư đó Căn cứ vào phạm vihuy động, các nguồn tài trợ có nhu cầu đầu tư dài hạn của doanh nghiệp đượcchia thành: Nguồn tài trợ bên trong và nguồn tài trợ bên ngoài

2.3.1 Nguồn tài trợ bên trong

Ngoài nguồn vốn đầu tư ban đầu khi thành lập doanh nghiệp (vốn chủ sởhữu), trong quá trình tiền hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanhnghiệp vẫn phải tiếp tục thực hiện các hoạt động đầu tư dài hạn nhằm thay thếcác tài sản cố định khi đã hư hỏng hoặc lạc hậu Bên cạnh đó, để đáp ứng nhucầu đầu tư tăng trưởng, mở rộng kinh doanh, cá doanh nghiệp cũng cần phải bổsung vốn đầu tư dài hạn vào các tài sản cố định và tài sản lưu động

Nguồn vốn huy động bên trong là nguồn vốn có thể huy động được vàođầu tư từ chính hoạt động của bản thân doanh nghiệp ngoài số vốn chủ sử hữu

bỏ ra ban đầu Nguồn vốn bên trong thể hiện khả năng tự tài trợ của doanhnghiệp Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp bao gồm:

 Lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư

Hàng năm các doanh nghiệp có thể sử dụng một phần lợi nhuận sau thuế

để bổ sung tăng vốn, tự đáp ứng nhu cầu đầu tư tăng trưởng của doanh nghiệp

 Khoản khấu hao tài sản cố định

Tiền trích khấu hao tài sản cố định chủ yếu dùng để tái sản xuất giản đơntài sản cố định Tuy nhiên do thời gian sử dụng của các tài sản cố định thường rấtdài, phải sau nhiều năm mới cần thay thế đổi mới; trong khi hàng năm doanhnghiệp đều tính khấu hao và tiền khấu hao được tích lũy lại Vì vậy, trong khichưa có nhu cầu thay thế tài sản cố định cũ, các doanh nghiệp có thể sử dụng sốtiền khấu hao đó để đáp những nhu cầu đầu tư tăng trưởng của mình

Trang 19

2.3.2 Cổ phiếu thường

Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp góp vốn, trong đó số vốnđiều lệ của công ty được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần Sốvốn chủ sở hữu ban đầu của công ty cổ phần được hình thành thông qua việcphát hành cổ phiếu

Để đáp ứng nhu cầu tăng vốn mở rộng kinh doanh, Công ty cổ phần cóthể lựa chọn phương pháp huy động vốn bằng cách phát hành thêm cổ phiếuthường bán ra thu thêm vốn Việc phát hành thêm cổ phiếu thường mới đểhuy động tăng vốn có thể được thực hiện theo các hình thức sau:

 Phát hành cổ phiếu mới với việc dành quyền ưu tiên mua cho các

cổ đông hiện hành

 Phát hành rộng rãi cổ phiếu mới ra công chúng

Công ty cổ phần có thể lựa chọn con đường phát hành cổ phiếu mới racông chúng với việc chào bán công khai Việc thực hiện chào bán công khai

cổ phiếu mới có thể thực hiện theo các phương pháp: Phát hành trực tiếp,chào bán qua người bảo lãnh và chào bán qua đấu thầu

 Phát hành cổ phiếu mới bằng cách chào đón cho người thứ ba.Công ty có thể phát hành thêm cổ phiếu mới với việc dành quyền mua

cổ phiếu cho người thứ ba là những người có quan hệ mật thiết với công tynhư người lao động trong công ty, các đối tác kinh doanh, các định chế tàichính…Việc phát hành cổ phiếu theo phương pháp này vừa giúp công ty tăngđược vốn kinh doanh, vừa tạo sự gắn bó chặt chẽ hơn giữa công ty và nhữngngười thường xuyên có quan hệ với công ty

2.3.3 Cổ phiếu ưu đãi

Trang 20

Cổ phiếu ưu đãi là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu trong Công ty cổphần, đồng thời cho phép người nắm giữ loại cổ phiếu này được hưởng một

số quyền lợi ưu đãi hơn so với cổ đông thường

Cổ phiếu ưu đãi là một phương tiện quan trọng của công ty cổ phầntrong việc huy động vốn mở rộng sản xuất kinh doanh Việc sử dụng cổ phiếu

ưu đãi để đáp ứng nhu cầu tăng vốn của Công tu có những điểm lợi và bất lợisau:

 Những điểm lợi

o Không bắt buộc phải trả cổ tức đúng hạn Điều này giúp doanhnghiệp tránh khỏi nguy cơ phá sản khi hoạt động kinh doanh đanggặp khó khăn, công ty không có khẳ năng trả cổ tức đúng hạn

o Có khả năng làm tăng lợi tức cổ phần tường do các cổ đông thườngkhông phải chia sẻ phần lợi nhuận cao cho các cổ đông ưu đãi

o Giúp công ty tránh được việc chia sẻ quyền quản lý và kiểm soátcho các cổ đông mới Do các cổ đông ưu đãi không có quyền biểuquyết

o Không phải cầm cố, thế chấp tài sản, cũng như lập quỹ thanh toángốc Do vậy việc sử dụng cổ phiếu ưu đãi có tính chất mềm dẻo vàlinh hoạt hơn trái phiếu

 Những điểm bất lợi

o Lợi tức cổ phiếu ưu đãi cao hơn lợi tức trái phiếu Do mức đổ rủi rođối với người đầu tư vào cổ phiếu ưu đãi cao hơn so với người đầu

tư vào trái phiếu

o Lợi tức của cổ phiếu ưu đãi không được trừ vào thu nhập chịu thuếcủa công ty Điều này làm cho chi phí sử dụng cổ phiếu ưu đãi caohơn chi phí sử dụng trái phiếu

Trang 21

Vay dài hạn là một thỏa ước tín dụng dưới dạng tổng hợp giữa ngườivay và người cho vay theo đó người vay có nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền vaytheo lịch trình nhất định Thông thường người ta quy định các khoản vay có

kỳ hạn từ một năm trở lên được tính là vay dài hạn Lợi thế của vay dài hạn sovới các hình thức tài trợ dài hạn khác là chi phí tài trợ thấp và tính linh hoạtcao hơn

Có nhiều hình thức vay dài hạn như: Vay dài hạn của ngân hàng và các

tổ chức tài chính - tín dụng, vay thông qua phát hành trái phiếu, thuê tàichính…Trong đó vay dài hạn ngân hàng là một trong những nguồn vốn quantrọng nhất, không những đối với sự phát triển của một doanh nghiệp, mà cònđối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân Không công ty nào có thể hoạt động màkhông vay vốn ngân hàng

Nguồn vốn tín dụng ngân hàng có nhiều ưu điểm, nhưng nguồn vốnnày cũng có những hạn chế nhất định Đó là, những hạn chế về điều kiện tíndụng, sự kiểm soát của ngân hàng đối với việc huy động và sử dụng tiền vay,chi phí sử dụng vốn vay Bên cạnh việc huy động vốn tín dụng dài hạn từ cácngân hàng thương mại, trong những trường hợp nhất định, các doanh nghiệp

có thể huy động vốn vay trung và dài hạn từ các tổ chức tài chính – tín dụngkhác như: Vay của các công ty tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ hỗ trợ pháttriển…

Trang 22

2.3.4.2 Trái phiếu doanh nghiệp

Trái phiếu doanh nghiệp là chứng chỉ vay vốn do doanh nghiệp pháthành thể hiện nghĩa vụ và sự cam kết của doanh nghiệp thanh toán số lợi tức

và tiền vay vào những thời hạn xác định cho người nắm giữ trái phiếu

Trái phiếu doanh nghiệp có nhiều loại, thông thường có thể phân biệtcác loại trái phiếu theo các tiêu thức chủ yếu sau đây

 Dựa vào hình thức trái phiếu: có thể phân biệt trái phiếu đích danh

và trái phiếu vô danh

 Dựa vào lợi tức trái phiếu: Gồm trái phiếu có lãi suất cố định và tráiphiếu có lãi suất biến đổi

 Dựa vào tính chất của trái phiếu: Gồm trái phiếu thông thường, tráiphiếu có thể chuyển đổi, trái phiếu có phiếu mua cổ phiếu

 Dựa vào mức độ đảm bảo thanh toán của người phát hành: Có thểphân biệt trái phiếu đảm bảo thanh toán và trái phiếu không đảmbảo thanh toán

 Dựa vào mức độ rủi ro tín dụng của trái phiếu: có thể chia tráiphiếu của doanh nghiệp thành các loại khách nhau thông qua việcđánh giá hệ số tín nhiệm

 Dựa vào thời hạn của trái phiếu: Gồm trái phiếu dài hạn và tráiphiếu ngắn hạn

Trong nền kinh tế thị trường trái phiếu là công cụ rất quan trọng chophép doanh nghiệp chủ động huy động vốn vay qua thị trường Xét trên góc

độ doanh nghiệp, việc phát hành trái phiếu để đáp ứng nhu cầu tăng vốn đầu

tư dài hạn có những điểm lợi sau:

Trang 23

 Lợi tức trái phiếu được trừ vào thu nhập chịu thuế khi tính thuế thunhập doanh nghiệp Điều này có lợi cho doanh nghiệp do giảm bớt

số thuế phải nộp vào Nhà nước, tăng thu nhập của các chủ sở hữu

 Lợi tức trái phiếu được giới hạn ở mức độ nhất định Nếu doanhnghiệp có triển vọng trong kinh doanh, có khả năng thu lợi nhuậnthì việc sử dụng trái phiếu để huy động thêm vốn vay sẽ nâng cao

tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu mà không phải chia sẻ quyền phânchia thu nhập cao cho các trái chủ

 Chi phí phát hành trái phiếu thấp hơn so với cổ phiếu thường và cổphiếu ưu đãi Do trái phiếu có mức độ rủi ro thấp hơn cổ phiếuthường và cổ phiếu ưu đãi

 Chủ sở hữu doanh nghiệp không bị chia sẻ quyền quản lý và kiểmsoát doanh nghiệp cho các trái chủ Do trái chủ là chủ nợ của doanhnghiệp, trái chủ không có quyền biểu quyết

 Giúp doanh nghiệp chủ động điều chỉnh cơ cấu vốn một cách linhhoạt Khi doanh nghiệp làm ăn thành đạt, khả năng thu lợi nhuận làchắc chắn có thể huy động tăng vốn vay nhằm mở rộng thị trường

và tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu Ngược lại, khi thị trườngbiến động theo hướng bất lợi, để thu hẹp quy mô kinh doanh, doanhnghiệp có thể chủ động giảm vốn bằng cách mua lại trái phiếutrước thời hạn

Bên cạnh những điểm lợi kể trên, việc sử dụng trái phiếu cũng cónhững điểm bất lợi sau:

 Buộc phải trả cổ tức đúng hạn Điều này có thể gây căng thẳng vềmặt tài chính và dế dẫn tới nguy cơ rủi ro trong trường hợp doanhthu và lợi nhuận của doanh nghiệp không ổn định

Trang 24

 Làm tăng hệ số nợ của doanh nghiệp và mức độ sử dụng đòn bẩytài chính.

 Phải trả nợ gốc đúng hạn

 Sử dụng trái phiếu dài hạn là việc sử dụng nợ trong thời gian dài.Việc sử dụng nợ dưới hình thức trái phiếu mang tính hai mặt Mộtmặt nó đóng vai trò thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp; mặtkhác nó lại là ngu cơ đe dọa sự tồn tại và phát triển của doanhnghiệp nếu việc đầu tư của doanh nghiệp không đúng hướng thìviệc trả cổ tức là một gánh nặng cho doanh nghiệp

 Việc sử dụng trái phiếu để tài trợ cho nhu cầu tăng vốn của doanhnghiệp cũng có giới hạn nhất định Bởi các doanh nghiệp không thể

để hệ số nợ vượt quá xa mức thông thường của các doanh nghiệptrong cùng ngành nghế kinh doanh – đó là giới hạn an toàn về mặttài chính mà các doanh nghiệp cần phải quan tâm trong tổ chứcnguồn vốn của mình

Vậy để đi đến quyết định phát hành trái phiếu đáp ứng nhu cầu tăngvốn cần cân nhắc nhiều yếu tố, trong đó cần chú ý các yếu tố sau:

 Mức độ ổn định của doanh thu và lợi nhuận trong tương lai

 Hệ số nợ hiện tại của doanh nghiệp

 Sự biến động của lãi suất thị trường trong tương lai

 Yêu cầu giữ nguyên quyền kiểm soát doanh nghiệp của các chủ sởhữu hiện tại

2.3.5 Thuê tài chính

2.3.5.1 Thuê tài sản

Trang 25

Thuê tài sản là hợp đồng thỏa thuận giữa hai bên: người thuê và ngườicho thuê; trong đó: Người thuê được quyền sử dụng tài sản trong một thờigian nhất định và phải trả cho người cho thuê một số tiền tương ứng với thờihạn thuê theo sự thỏa thuận của hai bên theo kỳ hạn định trước.

Thuê tài sản có hai phương thức chủ yếu là thuê vận hành và thuê tàichính Thuê vận hành là phương thức được sử dụng rất phổ biến trong đờisống kinh tế - xã hội và hoạt động kinh doanh ở nước ta Phương thức nàyđược sử dụng trong việc thuê các động sản như phương tiện vận chuyển, cácthiết bị công cụ lao động khác, ngoài ra nó cũng được sử dụng vào việc thuêcác bất động sản như nhà ở, văn phòng, nhà kho…Hình thức thuê vận hành cóthế coi là một loại hợp đồng để chấp hành, tài sản không được ghi chép vàobảng cân đối kế toán của người thuê, phần tiền trả theo thỏa thuận được ghinhư mọi khoản chi phí sản xuất kinh doanh thông thường khác Trong hợpđồng thuê vận hành không dự kiến chuyển giao quyền sở hữu tài sản khi hếthạn thuê; do vậy, thuê vận hành không phải là giải pháp tài trợ cho việc muatài sản trong tương lai

2.3.5.2 Thuê tài chính

Thuê tài chính còn gọi là thuê vốn là phương thức tào trợ tín dụng trung

và dài hạn không thể hủy ngang Theo phương thức này, người cho thuêthường mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của người thuê và nắm giữ quyền sởhữu đối với tài sản cho thuê Người thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toántiền thuê trong suốt thời hạn đã thỏa thuận và không được hủy bỏ hợp đồngtrước hạn Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được chuyển quyền sở hữu,mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó tùy theo các điều kiện đã thỏa thuậntrong hợp đồng thuê

Trang 26

Theo các quy định hiện hành, một giao dịch cho thuê tài chinhsphairthỏa mãn một trong các điều kiện sau:

 Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê đượcchuyển quyền sở hữu tài sản thuê, hoặc được tiếp tục thuê theo sựthỏa thuận của hai bên

 Nội dụng hợp đồng thuê có quy định: Khi kết thúc thời hạn thuê,bên thuê được quyền chọn mua tài sản thuê theo giá danh nghĩathấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại

 Thời hạn cho thuê tài sản tối thiểu phải chiếm phần lớn thời gian sửdụng kinh tế của tài sản cho dù không có sự chuyển dao quyền sởhữu

 Tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, giá trị hiện tại của khoản thanhtoán tiền thuê tối thiểu chiếm phần lớn giá trị hợp lý của tài sảnthuê

Các hình thức giao dịch thuê tài chính điển hình bao gồm:

- Thuê tài chính với sự tham gia của ba bên

- Thuê tài chính với sự tham gia của hai bên

có thể gánh chịu nhiều rủi ro như rủi ro về tài chính (sự biến động của tỷ giáhối đoái, về lạm phát, về lãi suất…); bên cạnh đó là các rủi ro về tài sản (sự

Trang 27

tiến bộ khoa học kỹ thuật, sự kết thúc chu kỳ sống của sản phẩm), về biếnđộng cơ chế chính sách của nhà nước.

2.3.6 Trái phiếu chuyển đổi

Trái phiếu chuyển đổi (convertible Bond) là loại trái phiếu có thể đượcchuyển đổi thành cổ phiếu thường theo một tỷ lệ nhất định, tùy theo sợ thỏathuận của công ty khi phát hành Đối với trái phiếu chuyển đổi, hai vấn đềquan trọng nhất cần được quan tâm là tỷ lệ chuyển đổi và giá chuyển đổi

 Tỷ lệ chuyển đổi: là số lượng cổ phiếu thường mà chủ sở hữu trái phiếunhận được khi thực hiện chuyển đổi một trái phiếu thành cổ phiếu

 Giá chuyển đổi: Là phần giá trị theo mệnh giá của trái phiếu màmỗi cổ phiếu nhận được khi chuyển đổi

Mệnh giá của trái phiếu chuyển đổiGiá chuyển đổi =

Tỷ lệ chuyển đổiViệc sử dụng trái phiếu chuyển đổi để tài trợ dài hạn nhu cầu vay vốnkinh doanh của doanh nghiệp cí những điểm lợi chủ yếu sau:

 Giúp công ty huy động vốn vay một cách dễ dàng, nhanh chóng,đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất kinh doanh

 Làm tăng nguồn vốn dài hạn, tăng mức độ vững chắc về tài chínhcủa công ty

 Là công cụ hữu hiệu giúp công ty huy động nguồn vốn dài hạn cóchi phí thấp

Tuy nhiên việc sử dụng trái phiếu chuyển đổi cũng mang lại cho công

ty một số điểm bất lợi đó là:

 Chia sẻ quyền quản lý và kiểm soát công ty cho các cổ đông mới

 Làm giảm thu nhập trên một cổ phiếu của cổ đông

2.3.7 Trái phiếu có quyền mua cổ phiếu

Trang 28

Trái phiếu có quyền mua cổ phiếu là loại trái phiếu có kèm theo chứngquyền cho phép trái chủ có quyền mua một số lượng cổ phiếu của công ty vớigiá xác định và tại những thời điểm nhất định.

Chứng quyền là loại chứng khoán do công ty phát hành kèm theo tráiphiếu xác nhận quyền của chủ sở hữu trái phiếu được mua một khối lượng cốphiếu thường nhất định của công ty theo các điều kiện đã xác định

III- CƠ CẤU VỐN VÀ VIỆC QUẢN LÝ NGUỒN VỐN TRONG DOANH NGHIỆP

1 Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp

Hiện nay, doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều nguồn vốn khác nhau đểđáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, điều quantrọng là doanh nghiệp cần phối hợp sử dụng các nguồn vốn để tạo ra một cơcấu vốn hợp lý đưa lại lợi ích tối đa cho doanh nghiệp

1.2 Các chỉ tiêu đánh giá cơ cấu vốn của doanh nghiệp

Trang 29

1.2.1 Hệ số nợ

Hệ số nợ phản ánh nợ phải trả chiếm bao nhiêu phần trăm trong nguồnvốn của doanh nghiệp hay trong tài sản của doanh nghiệp bao nhiêu phầntrăm được hình thành bằng nguồn vốn nợ phải trả

1.3 Đặc trưng cơ bản của cơ bản của cơ cấu vốn doanh nghiệp

 Được cấu thành bởi vốn dài hạn, ổn định, thường xuyên trongdoanh nghiệp

 Đây là số vốn chủ yếu được dùng để tài trợ cho các quyết định đầu

tư dài hạn của doanh nghiệp Việc lựa chọn một cơ cấu vốn hợp lý

có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp

 Có rất nhiều yếu tố tác động đến cơ cấu vốn Do đó, không có một

cơ cấu vốn tối ưu cho mọi doanh nghiệp, trong mọi chu kỳ sản xuất

Trang 30

kinh doanh Nói cách khác, khi nghiên cứu cơ cấu vốn của mộtdoanh nghiệp phải nghiên cứu trong trạng thái động, chứ không thểnghiên cứu trong trạng thái tĩnh.

2 Chi phí sử dụng vốn

2.1 Khái niệm chi phí sử dụng vốn

Để đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư và hoạt động kinh doanh, doanhnghiệp có thể huy động nhiều nguồn tài trợ khác nhau Để có quyền sử dụng cácnguồn vốn này, doanh nghiệp phải trả một khoản thu nhập nhất định cho ngườicung cấp vốn – Người chủ sở hữu vốn hay còn gọi là chi phí sử dụng vốn

Trên góc độ tài chính doanh nghiệp, chi phí sử dụng vốn là chi phí cơhội và chi phí đó được xác định từ thị trườn vốn Đối với doanh nghiệp làngười sử dụng nguồn tài trợ thì chi phí sử dụng vốn là tỷ suất sinh lời tối thiểucần phải đạt được khi sử dụng nguồn tài trợ đó cho đầu tư hay hoạt động kinhdoanh để đảm, bảo cho tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu hay htu nhập trênmột cổ phần không bị sụt giảm

Việc xem xét chi phí sử dụng vốn là vấn đề rất quan trọng đối với cácnhà quản trị tài chính doanh nghiệp Xem xét chi phí sử dụng vốn tạo ra tầmnhìn cho nhà quản trị khi xem xét chiến lược huy động vốn của doanh nghiệp.Chi phí sử dụng vốn là một căn cứ quan trọng để lựa chọn dự án đầu tư làmgia tăng giá trị doanh nghiệp

2.2 Chi phí sử dụng vốn của các nguồn tài trợ riêng biệt

Mỗi nguồn tài trợ mà doanh nghiệp sử dụng có các đặc điểm khác nhau

và chi phí khác nhau

2.2.1 Chi phí sử dụng vốn vay

Trang 31

Để đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động, doanh nghiệp có thể sở dụngvốn vay như vay vốn Ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác,phát hành trái phiếu…Khi sở dụng vốn vay doanh nghiệp phải tạo ra khoảnlợi nhuận tối thiểu bằng số tiền lãi vay phải trả cho chủ nợ thì mới đảm bảothu nhập của chủ sở hữu không bị sụt giảm Do vậy, chi phí sử dụng vốn vay

là tỷ suất sinh lời tối thiểu mà doanh nghiệp cần phải đạt được từ việc sử dụngvốn vay để sao cho tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu hay thu nhập của một cổphần là không bị sụt giảm

Một trong những ưu thế khi doanh nghiệp sở dụng vốn vay là tiền lãivay phải trả được coi là khoản chi phí hợp lý và được tính trừ vào thu nhậpchịu thuế của doanh nghiệp, đây cũng được xem là một “lá chắn thuế” Bởichi phí sử dụng vốn vay hay là chi phí Nợ là chi phí trước khi tính thuế thunhâp doanh nghiệp Do vậy, doanh nghiệp nếu sử dụng nợ sẽ được hưởngphần tiết kiệm thuế, được tính bằng

tk = kb * tTrong đó: tk: phần tiết kiệm thuế do sử dụng nợ

kb: chi phí nợ trước thuết: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp

Vì vậy, thực sự nếu sử dụng nợ với chi phí kb doanh nghiệp chỉ phải trả:

a kb = kb – tk = kb * ( 1 - t )Trong đó a kb là chi phí Nợ sau thuế hay chi phí nợ đã được điều chỉnh bớithuế thu nhập doanh nghiệp

Đây chính là một trong những yếu tố quan trọng để các nhà quản lýdoanh nghiệp lựa chọn sử dụng Nợ trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp

2.2.2 Chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu.

Trang 32

Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp gồm có ba bộ phận chính, đó là: cổphiếu ưu tiên, cổ phiếu thường và lợi nhuận giữ lại Chi phí riêng lẻ củatừng nguồn vốn sẽ tác động đến chi phí vốn chủ sở hữu Từ đó tác độngđến cơ cấu vốn của doanh nghiệp.

2.2.2.1 Chi phí sử dụng cổ phiếu ưu đãi

Vì cổ phiếu ưu tiên có tỷ lệ chi trả cổ tức cố định, cổ đông sở hữu cỏphiếu ưu tiên nên chi phí của việc sử dụng vốn do phát hành cổ phiếu ưu tiên

sẽ được xác định trên cơ sở chuỗi niên kim cố định cổ tức hàng năm Do vậy,chi phí của cổ phiếu ưu tiên, kb bằng:

kb = D/P0

Trong đó: P0: Giá của cổ phiếu ưu tiên

D: cổ tức trả hàng năm cho cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu tiên.2.2.2.2 Chi phí sử dụng lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư

Cũng như cổ phiếu ưu tiên chi phí của lợi nhuận giữ lại cũng được tínhbằng lãi suất yêu cầu đối với khoản lợi nhuận đó của các cỏ đông cổ phiếuthường

Khi doanh nghiệp giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư thì doanh nghiệpkhông phải trả một khoản chi phí nào có ngồn vốn này Tuy nhiên, dưới góc

độ tài chính phải tính đến chi phí cơ hội của số lợi nhuận giữ lại

Nếu công ty quyết định sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư thì công ty cầnphải đẳm bảo đạt được tỷ suất sinh lời tối thiểu bằng tỷ suất sinh lời mà cổđông có thể thu được khi sử dụng só tiền đó vào đầu tư nơi khác với mức độrủi ro tương đương với mức độ rủi ro của công ty

Từ đó có thể rút ra: chi phí sử dụng lợi nhuận để giữ lại để tái đầu tư là

tỷ suất sinh lời đòi hỏi của cổ đông đối với cổ phần thường của công ty

Trang 33

Có ba phương pháp chủ yếu để các định chi phí sử dụng lợi nhuận đểgiữ lại tái đầu tư:

- Phương pháp theo mô hình tăng trưởng cổ tức

- Phương pháp mô hình định giá tài sản (Phương pháp CAPM)

- Phương pháp theo lãi suất trái phiếu cộng thêm thức bù rủi ro

2.2.2.3 Chi phí sử dụng cổ phiếu thường mới

Khi công ty phát hành thêm cổ phiếu thường mới để tăng thêm vốn đầu

tư, công ty phải chịu thêm hai tác động chủ yếu liên quan đến chi phí sử dụngvốn:

- Giá phát hành cổ phiếu thường mới thông thường sẽ thấp hơn giá thịtrường của cổ phiếu trước thời điểm phát hành

- Để phát hành cổ phiếu mới, công ty phải chịu chi phí phát hành, sốchi phí này làm giảm số tiền vốn thực thu được khi phát hành cổ phần mới

Do khi pháy hành cổ phiếu thường mới công ty phải chịu chi phí pháthành và giá phát hành thường thấp hơn giá trị thị trường hiện hành, vì thế chiphí sử dụng cổ phiếu thường mới cao hơn so với chi phí sử dụng lợi nhuậngiữ lại để tái đầu tư và cũng lớn hơn chi phí sử dụng cổ phiếu ưu đãi và tráiphiếu

Vậy, có thể rút ra: Chi phí sử dụng cổ phiếu thường mới là tỷ lệ sinh lờitối thiểu mà công ty cần đạt được khi sử dụng số vốn huy động bằng pháthành cổ phiếu thường mới để sao cho thu nhập trên một cổ phần của các cổđông hiện hành hay giá cổ phiếu của công ty không bị sụt giảm

3 Quản lý vốn

3.1 Quản lý vốn cố định

Trang 34

Khấu hao tài sản cố định là sự phân bổ một cách có hệ thống giá trịphải thu hồi của tài sản cố định trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tàisản cố định đó Vậy việc quản lý nguồn vốn cố định chính là việc quản lý cácquỹ khấu hao bởi mục đích của khấu hao tài sản cố định là nhằm thu hồi vốn

để tái sản xuất ra TSCĐ

Khi xác định mức trích khấu hao của tài sản cố định cần xem xét cácyếu tố sau:

- Tình hình tiêu thụ sản phẩm

- Hao mòn vô hình của tài sản cố định

- Nguồn vốn đầu tư cho tài sản cố định

- Quy định của nhà nước về trích khấu hao

Việc lựa chọn các phương pháp khấu hao tài sản cố định là một nộidung quan trọng của công tác quản lý vốn cố định nói riêng và quản lý vốnnói chung của doanh nghiệp Thông thường người ta sử dụng các phươngpháp tính khấu hao sau:

Phương pháp khấu hao đường thẳng

Đây là phương pháp khấu hao bình quân theo thời gian sử dụng được

sử dụng phổ biến để tính khấu hao cho các loại tài sản cố định hữu hình cómức độ hao mòn đều qua các năm

Theo phương pháp này mức khấu hao hàng năm của TSCĐ bằng giá trịphải khấu hao TSCĐ chia cho thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ

Đây là phương pháp đơn giản và dễ tính Mức khấu hao được phân bốđều qua các năm nên không gây ra biến động quá mức khi tính chi phí khấuhao Phương pháp này biết được thời gian thu hồi vốn Nhưng phương phápnày không phù hợp với loại TSCĐ có mức độ hoạt động không đều giữa cácchu kỳ trong năm hay giữa các năm

Trang 35

Phương pháp khấu hao nhanh

 Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần

Công thức xác định:

MKi = Gdi * TKD

Trong đó: MKi: Số khấu hao tài sản cố định năm thứ i

Gdi: Giá trị còn lại của tài sản cố định đầu năm thứ i

TKD: Tỷ lệ khấu hao cố định hàng năm của tài sản cố định i: Tứ tự các năm sử dụng tài sản cố định

Phương pháp khấu hao này được áp dụng đối với các doanh nghiệpthuộc các lĩnh vực có công nghệ đòi hỏi phải thay đổi, phát triển nhanh

 Phương pháp khấu hao theo tổng số năm sử dụng

Công thức xác định:

MKt = NG * TKt

Trong đó: MKt: Số khấu hao tài sản cố định ở năm thứ t

NG: Nguyên giá tài sản cố định

TKt: Tỷ lệ khấu hao tài sản cố định ở năm thứ tHai phương pháp khấu hao trên đều giúp thu hồi vốn nhanh ở nhữngnăm đầu Doanh nghiệp vừa có thể tập trung vốn nhanh từ tiền khấu hao đổimới máy móc công nghệ, kịp thời vừa giảm bớt được tổn thất do hao mòn vôhình Nhưng điểm hạn chế của phương pháp này là giá thành sản phẩm ởnhững năm đầu cao do chịu chi phí khấu hao lớn

Phương pháp khấu hao theo sản lượng

Phương pháp này thường áp dụng cho những tài sản cố định hoạt động

có tính chất mùa vụ và là những tài sản cố định trực tiếp liên quan đến hoạtđộng sản xuất kinh doanh

Trang 36

Nội dung của phương pháp này là: Số khấu hao từng năm của tài sản cốđịnh được tính bằng cách lấy sản lượng sản phẩm dự kiến sản xuất hoàn thànhtrong năm nhân với mức khấu hao bình quân cho một đơn vị sản phẩm.

Phương pháp này thích hợp với những TSCĐ có mức độ hoạt độngkhông đểu giữa các thời kỳ Nhưng việc khấu hao sẽ trở nên phức tạp khitrình độ quản lý TSCĐ còn yếu và không thực hiện nghiêm túc

3.2 Quản lý vốn lưu động

3.2.1 Quản lý vốn bằng tiền

3.2.1.1 Tầm quan trọng của việc quản lý vốn bằng tiền

Vốn bằng tiền của doanh nghiệp bao gồm tiền mặt tại quỹ và tiền gửingân hàng Vốn bằng tiền là yếu tố trực tiếp quyết định khả năng thanh toáncủa doanh nghiệp Vốn bằng tiền là một loại tài sản có tính linh hoạt cao vàcũng là đối tượng của các hành vi tham ô, gian lận, lợi dụng Chính vì thếviệc quản lý vốn bằng tiền là vấn đề hết sức quan trọng trong công tác quản lýtài chính doanh nghiệp

3.2.1.2 Nội dung chủ yếu của quản lý vốn bằng tiền bao gồm các vấn

đề chính sau:

- Xác định mức dự trữ vốn tiền mặt một cách hợp lý, giúp doanhnghiệp đảm bảo khả năng thanh toán bằng tiền mặt cần thiết trong kỳ, tránhđược rủi ro không có khả năng thanh toán

- Để xác định mức tồn quỹ tiền mặt hợp lý có nhiều cách như: dựa vàokinh nghiệm thực tế, có thể sử dụng mô hình quản lý EOQ, hoặc mô hìnhquản lý tiền mặt Millerorr

- Quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi bằng tiền, doanh nghiệp cần phảixây dựng các nội quy, quy chế về quản lý khoản phải thu, chi đặc biệt là thu,

Trang 37

chi bằng tiền mặt để tránh sự mất mát, lạm dụng tiền của doanh nghiệp mưulợi cho cá nhân.

- Tất cả các khoản thu, chi bằng tiền mặt phải thông qua quỹ khôngđược ngoài quỹ

- Phải phân định rõ ràng trong quản lý tiền mặt giữa nhân viên kế toán

và thủ quỹ

- Tăng tốc quá trình thu tiền và làm chậm quá trinh chi tiền

- Cần quản lý chặt chẽ các khoản tạm ứng bằng tiền mặt Xác định rõđối tượng tạm ứng, các trường hợp tạm ứng và thời gian được tạm ứng

- Thường xuyên đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạncủa doanh nghiệp Doanh nghiệp phải thực hiện tốt việc lập kế hoạch lưuchuyển tiền tệ, đảm bảo sự cân bằng thu, chi cà nâng cao khả năng sinh lời sốvốn tiền tệ nhàn rỗi

3.2.2 Quản lý khoản phải thu

3.2.2.1 Quản lý khoản phải thu từ khách hàng là một vấn đề rất quantrọng và phức tạp trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp bởi:

- Các khoản thu từ khách thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn lưuđộng của doanh nghiệp

- Quản lý khoản phải thu liên quan chặt chẽ với việc tiêu thụ sản phẩm,

từ đó tác động tới doanh thu bàn hàng

- Tăng khoản phải thu làm tăng rủi ro đối với doanh nghiệp dẫn đếntình trạng nợ quá hạn khó đòi hoặc không thu hồi được do khách hàng vỡ nợ,gây nên mất vốn

3.2.2.2 Các biện pháp chủ yếu quản lý khoản phải thu

 Xác định chính sách bán chịu với khách hàng

Trang 38

Để quản lý khoản phải thu cần xem sét đánh giá các yếu tố chủ yếu ảnhhưởng đến chính sách bán chịu của doanh nghiệp như:

- Mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng doanh thu và tăng lợinhuận của doanh nghiệp

- Tính chất thời vụ trong sản xuất và tiêu thụ của một số sản phẩm

- Tình trạng cạnh tranh: cần xem xét đổi thủ cạnh tranh để có chínhsách bán chịu có lợi

- Tình trạng tài chính của doanh nghiệp

 Phân tích khách hàng, xác định khối lượng bán chịu

Công việc chính yếu trong việc hình thành chính sách tín dụng thươngmại cần xác định là bán chịu cho ai Do vậy, để thẩm định độ rủi ro cần có sựphân tích đánh giá khả năng trả nợ và uy tín của khách hàng nhất là kháchhàng tiềm năng để trên cơ sở đó quyết định hình thức hợp đồng

 Xác định điều kiện thanh toán

Doanh nghiệp phải quyết đinh thời hạn bán chịu và tỷ lệ chiết khấuthanh toán Thời hạn thanh toán là độ dài thời gian kể từ ngày người bán giaohàng cho người mua đến ngày người mua trả tiền Chiết khấu thanh toán làphần giảm trừ một số tiền nhất định cho người mua trả tiền trước thời hạnthanh toán đã thỏa thuận

 Thường xuyên kiểm soát nợ phải thu

Mở sổ theo dõi chi tiết nợ phải thu và tình hình thanh toán với kháchhàng Cần thường xuyên xem xét đánh giá tình hình phải thu, dự đoán nợ phảithu từ khách hàng theo công thức:

Npt = Dn * Kpt

Trong đó:

Nkt: Nợ phải thu dự kiến trong năm

Ngày đăng: 18/12/2012, 13:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Hưng Phúc
2. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty (Trang 42)
Bảng thể hiện cơ cấu nguồn vốn của công ty - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Hưng Phúc
Bảng th ể hiện cơ cấu nguồn vốn của công ty (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w