Gia tăng dân số và phát triển ở Việt Nam, thực trạng, nguyên nhân và tác động
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, mọi quốc gia đều phấn đấu vì mục tiêu phát triển bền vững Pháttriển được xem như một quá trình biến đổi cả về lượng và về chất Nó là sự kếthợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội Mộttrong những vấn đề nổi cộm hiện nay có liên quan đến sự phát triển của mỗiquốc gia cũng như toàn thế giới chính là vấn đề gia tăng dân số
Trong thời gian gần đây, dân số thế giới tuy không ngừng gia tăng nhưng lại
có sự chênh lệch đáng kể giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển Cũngnhư các quốc gia đang phát triển khác, gia tăng dân số ở Việt Nam đang là mộtvấn đề nóng, tạo ra sức ép đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội Để có thểhiểu rõ hơn về vấn đề này chúng ta sẽ tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân gia tăngdân số tại Việt Nam hiện nay, thông qua đó thấy được những tác động và đề ragiải pháp thích hợp nhằm hạn chế gia tăng dân số, thúc đẩy sự phát triển Đó
cũng chính là mục đích của nhóm khi làm bài tiểu luận: “Gia tăng dân số và phát triển ở Việt Nam, thực trạng, nguyên nhân và tác động”.
Bài tiểu luận được chia làm 3 phần:
Phần I: Lý luận chung về gia tăng dân số và phát triển
Phần II: Gia tăng dân số và phát triển tại Việt Nam: thực trạng, nguyên nhân, tác động
Phần III: Giải pháp hạn chế gia tăng dân số và thúc đẩy phát triển tại Việt Nam
Do thời gian tìm hiểu chưa dài và vốn kiến thức còn hạn chế nên bài tiểu luậncủa nhóm không tránh khỏi sai sót, chúng em rất mong nhận được sự góp ý và
bổ sung của cô giáo và các bạn
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2GIA TĂNG DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ TÁC ĐỘNG
Phần I: Lý luận chung về gia tăng dân số và phát triển
I Khái niệm và các thuật ngữ liên quan
1 Biến động dân số
Sự biến động của dân số là kết quả của quá trình nhân khẩu học và có tácđộng trực tiếp hoặc gián tiếp đến quy mô, cơ cấu cũng như sự phân bố theokhông gian của dân số trong độ tuổi lao động Sự biến động của dân số thườngđược nghiên cứu thông qua sự biến động tự nhiên và biến động cơ học
Biến động dân số tự nhiên do tác động của sinh đẻ và tử vong Trong đó, tỷ
lệ sinh đẻ và tử vong phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế và mức độ thànhcông của chính sách kiểm soát dân số
Các nước đang phát triển thường có tỷ lệ sinh cũng như tốc độ tăng dân sốcao hơn so với các nước phát triển Dân số tăng nhanh trong khi kinh tế tăngchậm đã làm cho mức sống dân cư của các nước đang phát triển chậm được cảithiện và tạo ra áp lực lớn trong giải quyết việc làm
Biến động dân số cơ học là do tác động của di dân Ở các nước đang pháttriển, di dân là một trong những nhân tố rất quan trọng tác động đến quy mô và
cơ cấu lao động đặc biệt cơ cấu lao động nông thôn và thành thị
Trong bài sẽ thường xuyên đề cập đến khái niệm tỷ lệ gia tăng dân số tựnhiên hay do sự di cư được tính bằng tỷ số giữa lượng biến động và tổng dân số,cũng tương tự mang tính chất so sánh nhưng về mặt tương đối
2 Phát triển bền vững
Có rất nhiều quan niệm về phát triển bền vững và theo thời gian, khái niệmphát triển bền vững ngày càng được hoàn thiện Khái niệm phát triển bền vữnglần đầu tiên được WB đề cập chủ yếu nhấn mạnh khía cạnh sử dụng có hiệu quảnguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo đảm môi trường sống cho con người trong
Trang 3quá trình phát triển Ngày nay, quan niệm về phát triển bền vững đã đầy đủ hơn,
đó là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa 3 mặt của
sự phát triển gồm: tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môitrường Vì vậy, tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởngkinh tế ổn định, thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội, khai thác hợp lý, sửdụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trườngsống
Trong đó, tăng trưởng kinh tế được xem là một trong những vấn đề quantrọng trong nghiên cứu kinh tế phát triển Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thunhập của nền kinh tế trong 1 khoảng thời gian nhất định thường là 1 năm Sự giatăng thể hiện ở quy mô và tốc độ Quy mô phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, tốc
độ được sử dụng với nghĩa so sánh tương đối phản ánh sự gia tăng nhanh haychậm giữa các thời kỳ Thu nhập của nền kinh tế thể hiện qua giá trị chính là chỉ
số GDP, GNI được tính cho toàn nền kinh tế hoặc bình quân đầu người
II Một số lý thuyết
1 Lý thuyết về sự thay đổi nhân khẩu học
Để làm rõ về cơ cấu của sự bùng nổ dân số tại các nền kinh tế đang pháttriển, người ta lấy tỉ lệ tăng dân số tương đương với tỉ lệ sinh trừ đi tỉ lệ tử Tỉ lệgia tăng dân số trong một nền kinh tế là tỉ lệ gia tăng tự nhiên của nền kinh tế đócùng với sự điều chỉnh của di cư từ hoặc đến một nền kinh tế khác ( sự thay đổi
về mặt xã hội trong dân cư ) Sự dịch chuyển dân cư đóng một vai trò quan trọngtrước đây, ví dụ như là quá trình phát triển của những lục địa mới, nhưng trở nên
ít quan trọng hơn trên thế giới khi mà việc mở rộng các vùng lãnh thổ mới đãchấm dứt Vì thế, chúng ta sử dụng các điều kiện của tỉ lệ gia tăng tự nhiên làmđại diện cho tỉ lệ gia tăng dân số
Lý thuyết về “Sự thay đổi nhân khẩu học” giải thích sự thay đổi tỉ lệ gia tăng
tự nhiên thông qua tỉ lệ sinh và tỉ lệ tử trong 3 thời kỳ Ban đầu cả tỉ lệ sinh và tửđều cao trong xã hội cận đại và tỉ lệ gia tăng tự nhiên duy trì ở mức thấp Cùngvới sự tăng trưởng của nền kinh tế hiện đại, thời kì đầu của sự thay đổi bắt đầu
Trang 4từ khi tỉ lệ tử bắt đầu giảm trong khi tỉ lệ sinh duy trì ở mức không đổi, kết quả
là tỉ lệ gia tăng tự nhiên cao hơn Trong thời kì thứ 2, tỉ lệ tử không giảm nữa,đồng thời tỉ lệ sinh vẫn giữ ở mức cao cùng với các yếu tố duy trì tỉ lệ gia tăng
tự nhiên cao Đến thời kì thứ 3, tỉ lệ sinh bắt đầu giảm với mức độ nhanh hơn tỉ
lệ tử dẫn đến một tỉ lệ thấp của gia tăng dân số tự nhiên
2 Lý thuyết của Malthus(1798)
Học thuyết về dân số của Malthus có thể tóm tắt như sau: cũng như nhữngloài động vật khác, loài người có bản năng tự nhiên sinh nhiều con đến mức tối
đa, dưới “ đam mê cố hữu” này dân số có xu hướng nhân lên theo cấp số nhân,trong khi hoạt động sản xuất lương thực, thực phẩm bị hạn chế bởi đầu vàokhông thay đổi của nguồn lực tự nhiên đặc biệt là đất đai, chỉ có thể tăng theocấp số cộng, lượng thức ăn nhiều hơn mức đủ sống sẽ được số dân sinh ra thêmtiêu dùng hết, dân số tiếp tục tăng hơn nữa sẽ bị hạn chế lại do nạn đói, thiên tai
và những cuộc chiến giành lương thực; do đó trong dài hạn mức sống và thunhập bình quân đầu người chỉ được duy trì ở mức vừa đủ sống
N/N
W 0
Trang 5Học thuyết này được mô tả bởi đường GG trong hình trên, biểu thị mối quan hệgiữa mức lương (W) hay thu nhập bình quân trên 1 lao động và tốc độ tăng dân
số (N/N) Đường GG cắt trục hoành tại W* Mức lương được tính bằng khoảngcách từ (0) đến W* được coi là mức lương tối thiểu vừa đủ cho người lao động
và gia đình anh ta sống, đồng thời, giữ cho quy mô hộ gia đình bình quân vàtổng dân số không thay đổi
Đường GG dốc lên biểu thị mối quan hệ khi mức lương vượt quá W* ( dotăng cầu lao động hoặc giảm cung lao động) đều dẫn tới tăng dân số Sự tăng lêntheo cấp số nhân trong lực lượng lao động được biểu hiện bởi tốc độ tăng dân số
sẽ dẫn đến dư thừa cung lao động và mức lương giảm về W*
Trang 6Phần II: Gia tăng dân số và phát triển tại Việt Nam,
thực trạng, nguyên nhân, tác động
I Thực trạng gia tăng dân số ở Việt Nam :
1 Tình hình gia tăng dân số:
a Trong thời gian gần đây, tốc độ tăng dân số đã hạ nhiệt
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, kể từ năm 2003, tốc độ tăng dân sốViệt Nam đã liên tục giảm Tốc độ tăng dân số qua các năm lần lượt là: 1,47(2003); 1,40 (2004); 1,31 (2005); 1,24 (2006); 1,21 (2007) Khuynh hướnggiảm hợp lý trong một thời gian dài như vậy dự báo rằng nó sẽ còn tiếp tụctrong tương lai, nếu như các chương trình dân số, vốn là một yếu tố tích cựctạo nên kết quả này, sẽ tiếp tục được duy trì
Bên cạnh đó, các chỉ tiêu đáng tin cậy để đánh giá tốc độ tăng dân số làtổng tỷ suất sinh (TFR) và tỷ suất tăng dân số tự nhiên (CRNI) cũng đã chothấy một kết quả tương tự về việc tốc độ tăng dân số đang giảm dần
Cụ thể, theo báo cáo “Thực trạng dân số Việt Nam 2007” của UNFPA, QuỹDân số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam: số liệu của các cuộc điều tra cho thấy xuhướng TFR (Tổng tỷ suất sinh) giảm là rõ ràng mặc dù có sự tăng lên đôi chúttrong các cuộc điều tra năm 2002 và 2004 Đặc biệt, TFR đã giảm nhanh trong 3cuộc điều tra gần nhất và tiếp tục ở dưới mức sinh thay thế (2,07)
Trang 7Cũng giống như TFR, số liệu của các cuộc điều tra cho thấy tỷ suất tăng dân
số tự nhiên (CRNI) có xu hướng giảm Tỷ suất này không tính đến mức tănghoặc giảm dân số do di cư quốc tế mà được tính bằng cách lấy tỷ suất sinh thô(CBR) trừ đi tỷ suất chết thô (CDR)
CBR (Tỷ suất sinh thô) có xu hướng giảm, ngoại trừ sự gia tăng chút ít tronghai cuộc điều tra năm 2002 và 2004 Biểu đồ dưới đây cho thấy CBR đã giảmtới 1,2 phần nghìn trong cuộc điều tra năm 2006 so với cuộc điều tra 2005.Tương tự, CBR trong cuộc điều tra 2007 là 16,9 phần nghìn đã giảm so với cuộcđiều tra 2006 là 17,4 phần nghìn
Trong khi đó, tỷ suất chết thô (CDR) lại tương đối thấp và thay đổi khôngnhiều:
Tổng tỉ suất sinh theo các cuộc điều tra từ 1999-2007
Trang 8Do vậy, sự thay đổi của CRNI chủ yếu phụ thuộc sự thay đổi tỷ suất sinh thô.Biểu đồ dưới cho thấy CRNI của Việt Nam tiếp tục giảm từ 2001 đến nay mặc
dù có sự tăng lên chút ít vào năm 2004
Tuy nhiên cũng cần chú ý là tỷ suất tăng dân số tự nhiên giảm, không cónghĩa là dân số Việt Nam sẽ không tăng nữa mà nó chỉ làm cho tốc độ gia tăngchậm lại
b Cùng với gia tăng dân số là hiện tượng chênh lệch giới tính tăng lên
Tỷ số giới tính khi sinh (SRB) là số trẻ em trai được sinh ra trên 100 trẻ emgái Bình thường tỷ số này là 105 (dao động từ 103-107) Tuy nhiên các cuộcđiều tra về biến động dân số gần đây đã cho thấy hiện tượng chênh lệch giới tínhngày càng biểu hiện rõ rệt hơn Nếu như cách đây 10 năm tỉ lệ giới tính ở ViệtNam ngang bằng với mức độ trung bình của thế giới là cứ 100 bé gái thì có 105-
107 bé trai thì, tỷ số giới tính thu được trong điều tra trên phạm vi cả nước năm
2007 là 112, cao hơn so với năm 2006 là 110 Theo báo cáo của Tổng cục thống
Trang 9kê năm 2006, trong số 64 tỉnh, thành phố chỉ có 19 tỉnh, thành phố có SRB từ
110 trở lên Con số này đã tăng lên thành 35 vào năm 2007, theo báo cáo của Bộ
Y tế
Mặc dù chưa có những nghiên cứu khẳng định sự phổ biến của hiện tượnglựa chọn giới tính thai nhi, nhưng hiện nay việc dễ dàng tiếp cận các kỹ thuậtcao như siêu âm cho phép người dân biết được giới tính của thai nhi ngay từ cáctháng đầu Nếu có tư tưởng thích con trai, phá thai có thể xảy ra nếu biết đượcgiới tính của thai nhi là gái Kinh nghiệm của nhiều nước có tỷ số giới tính khisinh cao đã cho thấy những hậu quả về kinh tế- xã hội và nhân khẩu học rấtnghiêm trọng
2 Đánh giá tình hình gia tăng dân số:
a Khái quát tình hình gia tăng dân số thế giới:
Trước hết, chúng ta cùng điểm qua các mốc phát triển dân số thế giới :
Tuy nhiên, đà gia tăng dân số đang ngày càng chuyển sang các nước nghèohơn trên thế giới Theo văn phòng Thông tin dân số ở thủ đô Washington thì các
Trang 10nước nghèo nhất thế giới nằm trong nhóm nước có sinh suất cao hơn và có dân
số trẻ hơn, so với các nước công nghiệp hóa thịnh vượng
Vì vậy chưa bao giờ khoảng cách dân số giữa 2 nhóm này cao như hiện nay Theo phúc trình thống kê dân số thế giới được phổ biến trong tháng 8/2008, vàokhoảng năm 2050 dân số thế giới sẽ tăng lên đến 9,3 tỉ so với con số hiện nay là6,7 tỉ
Trong nhiều thập kỷ tới đây, dân số ở nhiều nước giàu nhất thế giới đã thực
sự giảm xuống Các nước không bị tình trạng này, như Hoa Kỳ chẳng hạn, là do
số di dân gia tăng, hơn là do sinh suất cao
Các dự báo cho tương lai Dân số thế giới năm 2017 sẽ là 7 tỷ người Dân sốthế giới năm 2050 sẽ là 9 tỷ người Trong đó, số dân tại các quốc gia kém pháttriển sẽ tăng từ 5,3 tỷ lên đến 7,8 vào năm 2050 Tuy nhiên, dân số của cácnước phát triển sẽ gần như không thay đổi và duy trì ở mức 1,2 tỷ
b Nhận định tình hình gia tăng dân số Việt Nam:
Hiện giờ, nhờ nỗ lực của cả xã hội, tỷ lệ tăng dân số nhanh đã được khốngchế, nhưng quy mô dân số lớn và tiếp tục tăng hơn 1 triệu người mỗi năm Theo
số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2007, dân số của Việt Nam là 85 154 900người, trong đó nam giới có 41 855 300 người, nữ giới có 43 299 600 người.Mức tăng dân số trong các năm có khác nhau, tốc độ tăng trong các năm từ 2000đến 2002 liên tục giảm và chỉ còn 1,32%, năm 2003 là 1,47%, và năm 2004 tuy
có giảm nhưng vẫn ở mức 1,40% - cao hơn so với năm 2000 (1,37%), năm 2005
là 1,31%, năm 2006 là 1,24%, năm 2007 là 1,21%
Như vậy, dân số Việt Nam trung bình mỗi năm tăng khoảng 1,1 triệu người.Theo ước tính, đến năm 2024, dân số nước ta có khoảng 100 triệu người; đếnnăm 2050, có khoảng 115 triệu người, và các chuyên gia hy vọng rằng dân sốViệt Nam sẽ ổn định ở con số này
Một vấn đề đáng phải bàn đến, là chất lượng dân số Việt Nam, nhìn chung làthấp Mặc dù dân số nước ta khá trẻ, tỷ lệ người biết chữ và tuổi thọ cao, nhưng
Trang 11tỷ lệ suy sinh dưỡng ở trẻ sơ sinh cao, dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai thiếu,chênh lệch mức sống giữa các nhóm dân cư lớn, chất lượng lực lượng lao độngthấp, đời sống người già chưa được bảo đảm, chất lượng sống của người dân cònthấp và có sự chênh lệch giữa các vùng Chỉ số phát triển con người của ViệtNam mới đứng thứ 109 trong số 177 nước được so sánh.
Như vậy, bên cạnh mục tiêu giảm tốc độ tăng dân số, thì việc gia tăng chấtlượng dân số Việt Nam cũng là một vấn đề đáng phải lưu ý và quan tâm
II Nguyên nhân gia tăng dân số
Gia tăng dân số là sự tổng hợp của gia tăng tự nhiên và gia tăng cơ học
1 Gia tăng tự nhiên:
Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ tử đã giảm đáng kể trong khi tỷ lệ sinh vẫn
ở mức cao dẫn đến việc tăng dân số quá nhanh
+ Tỉ lệ sinh cao là do các nguyên nhân:
- Yếu tố tự nhiên – sinh học
Sinh đẻ trước hết là hiện tượng sinh học của tự nhiên Con người không phải
ở bất cứ độ tuổi nào cũng có khả năng sinh đẻ Vì vậy cơ cấu tuổi và giới có ảnhhưởng rất lớn đến mức sinh Nơi nào cơ cấu tuổi và giới thuận lợi cho sự pháttriển sinh sản thì nơi đó có mức sinh cao và ngược lại Ở Việt Nam là một nướcđông dân ( dân số t13 trên TG) kết cấu dân số trẻ, phần lớn dân số trong độ tuổisinh đẻ và kết cấu về giới tương đối đồng đều vì vậy tỉ lệ sinh ở Việt Nam ngàycàng gia tăng
- Phong tục tập quán và tâm lí xã hội
Ở mỗi xã hội, mỗi dân tộc đều có các phong tục tập quán và tâm lý XH khácnhau Tập quán và tâm lý XH có liên quan đến mức sinh Tập quán kết hôn sớm,muốn có nhiều con, thích con trai là tập quán và tâm lý chung của XH phongkiến cũ Các quan điểm “ trọng nam khinh nữ”,"trời sinh voi, sinh cỏ", "lắm con
Trang 12nhiều phúc"… dư luận XH cũng lên án những người không hôn nhân con cái đãkhuyến khích đẻ nhiều và người ta tự hào khi có nhiều con.
Nhóm nhân tố này rất đa dạng và tác động theo nhiều hướng khác nhau, ảnhhưởng của nó đối với biến động tự nhiên dân số nói chung và mức sinh nóiriêng Theo quan niệm của đa số các nhà nhân khẩu học thì đời sống thấp sẽ sinh
đẻ cao và ngược lại Mức sinh trong thời đại phong kiến cao hơn mức sinh dướithời CNTB Dân số ở các nước kém phát triển tăng nhanh hơn các nước kinh tếphát triển Trong những năm gần đây, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu kĩ cũngđưa ra kết luận rằng mức sinh tỷ lệ nghịch với mức sống
Nước ta vẫn còn là một nước chậm phát triển vì vậy cũng không phải làngoại lệ với xuất phát điểm là một nước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu, hiện tại
là một nước nông nghiệp, nhu cầu về lao động chân tay lớn cũng là nguyên nhândẫn tới gia tăng tỉ lệ sinh
- Trình độ phát triển của khoa học công nghệ:
Trong thời gian gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, yhọc cũng ngày càng có những tiến bộ vượt bậc, tạo điều kiện cho con người chủđộng được về mức sinh, có thể thụ tinh nhân tạo, theo dõi chăm sóc được thaingay từ khi hình thành, việc chăm sóc trẻ sơ sinh cũng có kế hoạch và chủ độngvới điều kiện ngày càng tốt hơn
- Trình độ dân trí và hiểu biết về sức khỏe sinh sản còn thấp, chưa ý thứcđược tác hại của việc sinh quá nhiều, còn tình trạng tảo hôn, quan hệ tình dụcsớm và bừa bãi, gây ra hậu quả là việc sinh con sớm và ngoài ý muốn
+ Tỉ lệ tử thấp :
- Các tiến bộ về mặt y tế và khoa học – kỹ thuật:
Ở trẻ em, việc tiêm phòng được đầy đủ, giảm tỉ lệ tử vong do các bệnh holao, uốn ván, sởi, đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi
Ở người lớn, y tế phát triển làm tăng khả năng chữa các bệnh hiểm nghèo, từ
đó hạn chế tử vong và nâng cao tuổi thọ bình quân của con người
Trang 13- Nhờ sự phát triển kinh tế - xã hội:
Kinh tế xã hội phát triển làm mức sống và thu nhập ngày càng được cải thiện,đời sống được nâng cao, con người ngày càng thỏa mãn nhiều nhu cầu, điềukiện dinh dưỡng được chăm lo tốt, tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng cũng giảm, tuổi thọđược kéo dài hơn
- Các nguyên nhân dẫn tới tỉ suất tử thô cao chủ yếu là kinh tế - xã hội ( đóinghèo, bệnh tật…) và thiên tai (động đất, núi lửa, hạn hán, bão lụt…) có xuhướng giảm
- Ngoài ra nhà nước còn ban hành nhiều chính sách y tế phúc lợi xã hội, đặcbiệt là đối với người cao tuổi Độ tuổi trung bình của người dân Việt Nam do đó
đã cao hơn trong một vài năm gần đây (72 tuổi)
* Gia tăng cơ giới
+ Gia tăng cơ học bao gồm hai bộ phận:
Xuất cư (những người rời khỏi nơi cư trú) và nhập cư (những người đến nơi
cư trú mới) Sự chênh lệch giữa số người xuất cư và số người nhập cư được gọi
là hiện tượng gia tăng cơ học
Trên phạm vi thế giới gia tăng cơ học không làm ảnh hưởng tới số dân nhưngtrên phạm vi quốc gia và từng địa phương thì nhiều khi nó lại có ý nghĩa quantrọng, làm thay đổi số lượng dân cư, cơ cấu tuổi, giới và tác động không nhỏ tớikinh tế - xã hội
Gia tăng cơ học chủ yếu là do 2 nguyên nhân
- Di dân một cách bừa bãi, ồ ạt giữa các vùng, thành thị và nông thôn Dotình trạng thiếu việc làm ở nông thôn, sức hút từ đô thị hóa, và do chênh lệch lớn
về kinh tế giữa nông thôn và thành thị dẫn đến tình trạng dân cư ở các vùngnông thôn đổ về các thành phố, hay các khu công nghiệp kiếm việc làm Đốitượng di dân chủ yếu các diện kinh tế khó khăn, trình độ dân trí thấp, các dântộc thiểu số Các khu vực nóng về tình trạng di dân tự do hiện nay là Hà Nội,
Trang 14Tây Nguyên, Lào Cai, … Điều này gây ra khó khăn không nhỏ đến phát triểnkinh tế xã hội và sự quản lí của nhà nước
- Di dân đến các vùng kinh tế mới theo chiến lược phát triển kinh tế của nhànước Nhằm mục đích phát triển kinh tế xã hội, phát triển kinh tế đồng đều giữacác vùng miền, nhà nước đã đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng cơ sở đồngthời đưa ra các chính sách thu hút nhà đầu tư, lao động, tập trung dân cư tớinhững khu kinh tế mới Ví dụ việc đầu tư xây dựng khu kinh tế mở Chu Lai, khukinh tế Dung Quất với nhà máy lọc dầu Dung Quất là trung tâm phát triển kinh
tế miền Trung, nhằm phát triển đồng đều cân đối giữa 3 miền,khai thác hiệu quảnguồn tài nguyên, các điều kiện thuận lợi của khu vực Trung bộ, tập trung dân
cư góp phần ổn định nâng cao an ninh quốc phòng tình hình chính trị của khuvực…
III Tác động của gia tăng dân số và phát triển
1.Tác động gia tăng dân số đến phát triển
Khái niệm phát triển bền vững đã được nhắc đến với ý nghĩa là sự thốngnhất, hài hòa giữa 3 mặt tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo
vệ môi trường Vì vậy, để đánh giá tác động của gia tăng dân số đến phát triển taxem xét ở từng khía cạnh
* Gia tăng dân số ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế
Trước hết, tăng trưởng kinh tế được biểu hiện ở tổng thu nhập của toàn bộnền kinh tế hoặc thu nhập bình quân đầu người Xét về mặt lý thuyết, Malthus
đã đánh giá sự tác động này thông qua việc biểu diễn mối quan hệ tuyến tínhgiữa tốc độ gia tăng dân số và mức thu nhập bình quân trên 1 lao động Tức là
cứ thu nhập bình quân tăng thì dân số cũng tăng lên trong đó, lương thực, thựcphẩm sản xuất tăng theo cấp số cộng và dân số tăng theo cấp số nhân Vì thế chođến khi không đáp ứng đủ lượng lương thực, thực phẩm cần thiết cho toàn bộnền kinh tế thì 1 lượng dân số sẽ bị đào thải 1 cách tự nhiên do chiến tranhlương thực…