1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

chuyên đề kỹ năng của luật sư trong các vụ án dân sự - thừa kế

22 805 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 366 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.3/ Tranh chấp thừa kế : Tranh chấp thừa kế là những xung đột, mâu thuẫn, bất đồng được thể hiện ra bên ngoài về quyền thừa kế; tranh chấp về việc thực hiện nghĩa vụ do người chết để l

Trang 1

Chuyên đề

Kỹ năng của Luật sư trong việc hỗ trợ khách hàng khởi kiện tranh chấp thừa kế ra Tòa án

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

Để thành công trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của khách hàng trong các vụ việc tranh chấp thừa kế, Luật sư cần phải chú ý một số công việc đặc thù riêng biệt trong cách giải quyết tranh chấp này Vì quan hệ tranh chấp thừa kế thoạt nhìn thì có

vẽ đơn giản, nhưng bên trong chất chứa nhiều mâu thuẩn phức tạp, năng nề và nhiều lúc gay gắt Quan hệ tranh chấp thừa kế không chỉ liên quan đến một vài đương sự,

mà còn liên quan đến nhiều người trong cùng một gia đình, họ tộc Nếu không có hướng giải quyết tốt “ thấu tình và đạt lý” thì nó trở thành khối ung nhọt phá vỡ tình cảm trong gia đình và họ tộc đã được hình thành nhiều thế hệ Ngoài việc bảo vệ thân chủ mình trong các tranh chấp thừa kế, bằng sự hiểu biết pháp luật của mình luật sư còn có trách nhiệm trong việc giữ gìn những bản chất tốt đẹp của cuộc sống như : tình cảm anh em, tình ruột thịt, xa hơn là tình bà con trong dòng họ phạm vi ba đời; Tạo tiền đề cho gia đình ổn định phồn vinh phát triển xã hội ổn định và phát triển

Thừa kế là việc chuyển dịch tài sản (gọi là di sản) của người chết (gọi là người

để lại di sản) cho người, tổ chức khác (gọi là người thừa kế) theo di chúc hoặc theo quy định pháp luật

Theo quan điểm của Ăng-ghen, thừa kế là “sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống”; quyền thừa kế là quyền hưởng tài sản của người chết để lại theo một trình tự do pháp luật quy định Còn theo cổ luật Việt Nam định nghĩa rằng thừa kế là từ rút gọn của “kế tự thừa siêu” nghĩa là kế thừa dòng dõi, nối tiếp truyền thống làm cho tài sản ngày càng giàu lên Mục đích sâu xa của thừa kế là để củng cố sự trường tồn của dòng họ, giữ gìn sự hoà thuận, thương yêu, đùm bọc nhau giữa anh chị em trong gia đình

Vì vậy, thừa kế đã trở thành một định quan trọng các bộ luật phong kiến Việt Nam

Chế định thừa kế là một chế định quan trọng trong hệ thống các quy phạm pháp luật dân sự Việt Nam Hơn nữa, trong những năm gần đây, số vụ việc tranh chấp về thừa kế luôn chiếm tỷ trọng lớn trong các tranh chấp dân sự và có tính phức tạp cao Bởi vậy, nghiên cứu chế định thừa kế có ý nghĩa rất lớn đối với nhà làm luật nói chung và nghề luật sư nói riêng

Vì có nắm bắt được một cách vững vàng và cặn kẽ những quy định của pháp luật dân sự về thừa kế, người luật sư mới có thể thực hiện tốt việc tư vấn , hỗ trợ khách hàng tranh chấp về thừa kế

Đó là quyền và lợi ích hợp pháp của họ cần được bảo vệ và duy trì Tại Điều 58 Hiếp pháp năm 1992 quy định : “ Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân” Và từ Pháp lệnh thừa kế năm 1990 đến

Trang 3

Bộ luật dân sự năm 2005 và các pháp luật có liên quan đều thể hiện quan điểm không ngừng hoàn thiện những quy định pháp luật về thừa kế nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức Tuy nhiên, trên thực tế số lượng các tranh chấp thừa kế vẫn có số lượng tương đối lớn do tính chất đặc biệt của các loại tranh chấp này là liên quan đến di sản của người đã chết Đây cũng là loại tranh chấp

mà khách hàng thường yêu cầu luật sư giúp đỡ trong việc khởi kiện ra Tòa án

Vậy để giúp khách hàng trong việc khởi kiện tranh chấp thừa kế ra Tòa án, thì Luật sư cần phải có những kỹ năng gì ? Chúng ta cùng tìm hiểu trong nội dung

tiểu luận sau với chuyên đề “ Kỹ năng của Luật sư trong việc hỗ trợ khách hàng khởi kiện tranh chấp thừa kế ra Tòa án”

BÀI 1 PHẦN NỘI DUNG

I _ Khái quát chung về thừa kế :

1.1/ Các khái niệm : ( Điều 631 – 645 BLDS 2005 )

1.1.1/ Quyền thừa kế :

Điều 631 BLDS 2005 “ Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật “

- Thừa kế là một chế định pháp luật dân sự, bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người đã chết cho người khác theo di chúc hoặc theo trình tự do pháp luật quy định

- Hay nói cách khác thừa kế là việc chuyển giao tài sản của một người sau khi người này chết cho những người khác theo quy định của pháp luật

1.1.2/ Di sản thừa kế : (Điều 634 BLDS 2005 )

- Di sản thừa kế bao gồm : tài sản riêng, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác, quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế và được để lại thừa kế

- Tài sản riêng tức là những tài sản thuộc phần sở hữu riêng của người chết đứng tên lúc còn sống

- Tài sản chung với người khác là phần tài sản do lúc còn sống người chết đã đồng tạo ra cùng chung với một người khác, thì lúc chết phần tài sản đó cũng được đưa vào di sản của người chết

Trang 4

đó bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể lập di chúc nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý

- Người lập di chúc có các quyền : chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; phân chia phần di sản cho từng người thừa kế; dành một phần trong khối di sản để di tặng, thờ cúng; giao nghĩa vụ cho người thừa kế trong phạm vi di sản; chỉ định người giữ di chúc, quản lý di sản, người phân chia

di sản

Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể được lập thành văn bản thì

có thể lập di chúc miệng ( di chúc miệng chỉ hợp pháp khi được thực hiện theo đúng trình tự quy định của pháp luật ) – Điều 652 BLDS 2005

1.2.2/ Thừa kế theo pháp luật :

Điều 674 BLDS 2005 “ Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định “

- Hình thức thừa kế theo hàng thừa kế được áp dụng trong những trường hợp : Người chết không để lại di chúc; di chúc không hợp pháp; Người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc,…

* Những người thừa kế theo pháp luật :

- Hàng thừa kế thứ nhất : Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết

- Hàng thừa kế thứ hai : Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh chị em ruột, cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại

- Hàng thừa kế thứ ba : Cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cô ruột, cậu ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cô ruột, cậu ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại

1.2.3/ Thừa kế thế vị : ( Điều 677 BLDS 2005 )

Trường hợp con của người để lại di sản chết trước người để lại di sản, thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng đã chết trước người để lại di sản, thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống

1.3/ Tranh chấp thừa kế :

Tranh chấp thừa kế là những xung đột, mâu thuẫn, bất đồng được thể hiện ra bên ngoài về quyền thừa kế; tranh chấp về việc thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, thanh toán các khoản chi phí từ di sản,…Trong trường hợp có tranh chấp về tài sản thừa kế thì người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu Tòa

án giải quyết

II_ Kỹ năng của Luật sư trong việc hỗ trợ khách hàng khởi kiện tranh chấp thừa kế ra Tòa án :

Trang 5

Luật sư cũng cần chỉ cho khách hàng thấy được khả năng thắng kiện đế n

đâu nế u họ k hở i k iệ n ra t òa á n c ũng như k hả nă ng t hực tế bả n á n s ẽ được thi hành thế nào,dự liệu về diều thực tế sẻ xảy ra Một điều nữa trong nội dung này là luật sư cũng nên hướng dẫn kháchhàng nắm bắt một cách sơ bộ những tài liệu, chứng cứ cần thiết để tòa án chấp nhận xem xét, giải quyết vụ việc, hướng dẫn họ thu thập chứng cứ, và tìm hiểu rõ khả năng thu thập chứng cứ tài liệu của khách hàng để chủ độnghơn trong việc này

2.1/ Kỹ năng tiếp xúc với khách hàng :

2.1.1/ Trao đổi với khách hàng về nội dung yêu cầu :

- Luật sư cần nắm rỏ về khách hàng của mình : Đây là một vấn đề khoa học và nghệ thuật, để bảo vệ lợi ích cho khách hàng luật sư không thể không biết rỏ về khách hàng của mình Luật sư cần phải có được những thông tin đầy đủ, khách quan và chuẩn xác về gốc gác – gia đình của khách hàng của mình Xác định chuẩn xác quan hệ gia đình, dòng tộc của khách hàng với người để lại thừa kế; xác định quan hệ của khách hàng với người hoặc số người đang có tranh chấp về

di sản thừa kế là đương sự của vụ án Ngoài ra luật sư còn phải xác định rỏ mối quan hệ của khách hàng với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ tranh chấp; và với người làm chứng

- Luật sư cần nắm vững yêu cầu của khách hàng : Tưởng đây là vấn đề đơn giản, nhưng thực tế không phải luật sư nào cũng nắm vững và hiểu được yêu cầu đích thực của khách hàng Hiểu rỏ được yêu cầu khách hàng, là nắm bắt được cốt lỏi mục đích và giới hạn cuối cùng của yêu cầu có thể đạt được, Để có thể đạt được vấn đề này luật sư cần phải yêu cầu khách hàng trình bày cụ thể vụ việc và yêu cầu họ cung cấp đầy đủ các thông tin - tài liệu liên quan

- Khi đã có một cái nhìn sơ lược về vụ việc thì điều quan trọng tiếp theo là luật sư phải chỉ ra được loại quan hệ pháp luật tranh chấp có thực sự là tranh chấp thừa

kế hay không, nếu phải thì thuộc trường hợp nào :

+ Tranh chấp quyền thừa kế : quyền yêu cầu chia di sản thừa kế; yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác

+ Tranh chấp thừa kế theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật

+ Tranh chấp về di sản thừa kế nhà ở, quyền sử sụng đất

+ Tranh chấp về việc thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại hoặc thanh toán các khoản chi từ di sản

- Ngoài ra luật sư cũng phải cho khách hàng biết một cách sơ bộ về điều kiện khởi kiện, tư vấn cho khách hàng những vấn đề tố tụng, phân tích những thuận lợi

và khó khăn của việc khởi kiện

2.1.2/ Tư vấn cho khách hàng :

a- Phân tích những lợi ích của việc khởi kiện hoặc không khởi kiện :

- Luật sư cần căn cứ vào các quy định của pháp luật để có cơ sở tư vấn cho khách hàng những ưu thế và bất lợi của họ khi quyết định đem vụ việc khởi kiện ra Tòa

Trang 6

án để giải quyết, từ đó giúp khách hàng có quyết định khởi kiện hoặc không khởi kiện, đó chính là quyền tự định đoạt mà pháp luật quy định cho họ

- Thông thường thì các tranh chấp thừa kế thường xảy ra giữa những người trong cùng một gia đình-họ tộc, khi tính chất căng thẳng của mối quan hệ giữa họ đã lên tới mức muốn pháp luật phân xử Nên bất lợi lớn nhất của khách hàng khi khởi kiện những tranh chấp này ra Tòa án là việc sẽ làm rạn nứt, và làm nghiêm trọng thêm mâu thuẫn gia đình Mặc khác, khi khởi kiện tranh chấp thừa kế ra Tòa án, khách hàng sẽ phải đối diện với một khoảng thời gian có thể rất dài để theo đuổi vụ kiện và có thể phải chịu mức án phí lớn

- Ngoài ra luật sư cũng nên hướng dẫn khách hàng nắm bắt một cách sơ bộ những tài liệu, chứng cứ cần thiết để Tòa án chấp nhận xem xét thụ lý vụ án, hướng dẫn khách hàng thu thập chứng cứ, và tìm hiểu rỏ khả năng thu thập chứng cứ-tài liệu của khách hàng để chủ động hơn trong việc này

b- Phân tích điều kiện khởi kiện của khách hàng :

- Chủ thể khởi kiện : Luật sư có thể hướng dẫn cho khách hàng tự mình hoặc thông

qua người đại diện hợp pháp khởi kiện theo quy định tại Điều 161 BLTTDS

2004“ Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án cấp có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình “

Cũng như các loại vụ việc dân sự khác, khi khởi kiện tranh chấp thừa kế ra Tòa án, chủ thể khởi kiện là cá nhân phải đảm bảo điều kiện về năng lực hành vi dân sự và là người có quyền-lợi ích hợp pháp bị xâm hại Khi tiếp xúc với khách hàng, luật sư cũng cần tư vấn và xem xét về tư cách chủ thể khởi kiện liên quan trực tiếp đến quyền khởi kiện của khách hàng để có hướng tư vấn kịp thời về điều kiện khởi kiện theo đúng quy định của pháp luật Trong trường hợp khách hàng

có nhu cầu ủy quyền cho luật sư hoặc người khác thay mặt mình tham gia tố tụng thì luật sư cũng phải hướng dẫn khách hàng lập giấy ủy quyền theo đúng quy định pháp luật

- Thời hiệu khởi kiện :

Có hai loại thời hiệu khởi kiện đối với vụ án tranh chấp thừa kế :

Điều 645 BLDS 2005 :

“ Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa

kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế “

Khi xem xét điều kiện về thời hiệu khởi kiện luật sư cầu lưu ý các quy định về thời hiệu khởi kiện, đó là :

Trang 7

Quy định về thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện đối với việc thừa kế đã

mở trước ngày ban hành pháp lệnh thừa kế ( 30/8/1990 ), việc xác định thời hiệu khởi kiện về thừa kế trên thực tế cũng tương đối phức tạp liên quan đến khá nhiều các văn bản khác nhau và việc xác định thời điểm mở thừa kế Đối với việc thừa

kế đã mở trước ngày ban hành Pháp lệnh thừa kế, theo quy định tại khoản 4 điều

36 Pháp lệnh thừa kế thì thời hiệu khởi kiện trước ngày 10/9/2000 Nhưng theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 58/UBTVQH10 ngày 20/8/1998 thì từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/01/1999 không tính vào thời hiệu khởi kiện đối với giao dịch dân sự về nhà ở xác lập trước ngày 01/7/1991 Do vậy, thời hiệu khởi kiện loại việc này được tính đến ngày 09/3/2003 Bắt đầu từ ngày 10/3/2003 đương sự không còn quyền khởi kiện đối với những vụ án thừa kế

Trường hợp thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện quy định tại điều 161 BLDS 2005: Do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngạy khách quan làm cho chủ thể

có quyền khởi kiện không thể khởi kiện trong phạm vi thời hiệu; chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; chưa có người đại diện khác thay thế hoặc vì lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục đại diện trong trường hợp người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chết

Các quy định về bắt đầu thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điều 162 BLDS

2005

Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế được hướng dẫn tại mục 2 phần 1 Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP “ Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp

về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa

kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế Khi có tranh chấp và yêu cầu Tòa án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết “

Qua đó cho thấy có sự chuyển hóa về quan hệ giữa yêu cầu chia thừa kế

và yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế Khi đương

sự có yêu cầu chia tài sản chung ở thời điểm hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế, Tòa án chỉ thụ lý và giải quyết khi có tài liệu thể hiện các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế, và đều có thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản :

Trang 8

+ Đối với việc mở thừa kế trước ngày ban hành Pháp lệnh thừa kế thì thời hiệu khởi kiện được xác định là ba năm kể từ ngày ban hành Pháp lệnh thừa kế ( khoản

4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế năm 1990 )

+ Đối với việc mở thừa kế kể từ ngày ban hành Pháp lệnh thừa kế ( 30/8/1990 ), thời hiệu khởi kiện được xác định là ba năm kể từ thời điểm mở thừa kế ( khoản 2 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế năm 1990 )

+ Đối với việc mở thừa kế từ ngày 01/01/2006 thời hiệu khởi kiện về yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, thanh toán các khoản chi

từ di sản được xác định là ba năm kể từ ngày người có di sản thừa kế chết ( Điều

645 BLDS 2005 )

- Thẩm quyền giải quyết của Tòa án :

+ Thẩm quyền theo loại vụ việc : tranh chấp thừa kế là một loại tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 5 Điều 25 BLTTDS 2004

+ Thẩm quyền theo cấp Tòa án : Luật sư cần xác định vụ án khởi kiện đúng theo cấp Tòa có thẩm quyền giải quyết vụ việc theo quy định từ Điều 33 đến Điều 37 BLTTDS 2004; Nghị quyết 32/2004/QH11; Nghị quyết số 01/2005/NQ-HDTP Ngoài việc lưu ý nguyên tắc xác định thẩm quyền đối với cấp Tòa, những trường hợp thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh theo khoản 1 Điều 33 BLTTDS 2004 Luật sư cầu lưu ý trường hợp đương sự ở nước ngoài theo quy định tại điều 56 BLTTDS 2004 bao gồm cả người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Do đó, với những vụ việc mà đương sự không phải là người thuộc các diện thừa kế nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang ở nước ngoài hoặc việc giải quyết vụ án cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài thì sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh

Luật sư Đỗ Anh Tổng, cũng cần lưu ý các trường hợp tranh chấp di sản thừa kế là bất động sản thì áp dụng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 36 BLTTDS

2004 và thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn

- Thủ tục hòa giải ở địa phương ( đối với tranh chấp thừa kế liên quan đến quyền SDĐ ):

Nếu tranh chấp thừa kế mà liên quan đến quyền sử dụng đất thì theo quy định tại điều 135, 136 Luật đất đai năm 2003; các tranh chấp này cần phải được hòa giải tại cơ sở ( Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn ) Trong trường hợp này, luật sư phải hướng dẫn khánh hàng làm đơn đề nghị UBND xã, phường, thị trấn hòa giải Nếu kết quả hòa giải không thành hoặc không hòa giải được thì mới có thể khởi kiện ra Tòa án cấp có thẩm quyền

2.1.3/ Hướng dẫn khách hàng về thủ tục khởi kiện :

Một là : Giúp khách hàng soản thảo đơn khởi kiện theo mẫu được quy định tại

khoản 2 Điều 164 BLTTDS 2004; và hướng dẫn khách hàng chuẩn bị một số tài liệu chứng cứ chứng minh

Trang 9

Hai là : Giải thích cho khách hàng hiểu rỏ nghĩa vụ tạm ứng án phí đối với yêu

cầu khởi kiện ;

Luật sư cần lưu ý giải thích cho khách hàng các quy định của pháp luật có liên quan về án phí : chương IX, mục 1 của BLTTDS 2004, Pháp lệnh về án phí-lệ phí năm 2009; Trường hợp khách hàng có khó khăn về kinh tế, thì luật sư có thể hướng dẫn khách hàng làm đơn xin miễn giảm tiền tạm ứng án phí, đơn này phải được UBND xã, phường, thị trấn, cơ quan, tổ chức xã hội nơi cư trú, làm việc của khách hàng xác nhận thì Tòa án mới xem xét, giải quyết

Ba là : Hướng dẫn khách hàng thu thập, bổ sung thêm tài liệu chứng cứ cần thiết

cho việc khởi kiện

Luật sư cần hướng dẫn khách hàng thu thập các chứng cứ để xác định tổng thể di sản thừa kế, xác định phần đóng góp của những người liên quan, xác định đồng sở hữu của người để lại di sản, thu thập các chứng cứ về nghĩa vụ tài sản và chi phí liên quan đến quyền thừa kế được thanh toán từ di sản, các chứng

cứ chứng minh các điểm tranh chấp về thừa kế

2.2/ Kỹ năng giúp khách hàng chuẩn bị hồ sơ khởi kiện :

2.2.1/ Hồ sơ khởi kiện vụ án tranh chấp thừa kế gồm các giấy tờ sau :

- Đơn khởi kiện;

- Các giấy tờ về quan hệ giữa người khởi kiện và người để lại di sản; giấy khai sinh; chứng minh nhân dân; giấy chứng nhận kết hôn; sổ hộ khẩu; giấy xác nhận con nuôi để xác định diện thừa kế và hàng thừa kế;

Luật sư cũng cần chuẩn bị các tài liệu chứng minh vụ việc còn thời hiệu khởi kiện, giấy tờ chứng minh trong trường hợp này là giấy chứng tử của người chết để lại di sản để xác định thời điểm mở thừa kế

Luật sư cần lưu ý việc lập hồ sơ thừa kế phải đảm bảo các nội dung sau : xác định người để lại di sản, các thời điểm mở thừa kế ( một hay nhiều thời điểm mở thừa

kế ), diện thừa kế và hàng thừa kế ( Điều 676 BLDS 2005 ), mối quan hệ giữa các người thừa kế với nhau và những người để lại thừa kế

Trường hợp các tài liệu chứng cứ mà khách hàng cung cấp cho thấy đã hết thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, cần xác định chứng cứ để có thể áp dụng các trường hợp không tính vào thời hiệu, các trường hợp không áp dụng thời hiệu

2.2.2/ Thủ tục nộp hồ sơ khởi kiện tại Tòa án :

Trang 10

- Nộp đơn khởi kiện, hồ sơ khởi kiện : quy định tại Điều 166 BLTTDS 2004; Luật sư có thể hướng dẫn khách hàng nộp đơn khởi kiện bằng hai hình thức :

Một là : Nộp đơn trực tiếp tại Tòa án và nhận biên lại xác nhận việc nộp đơn,

ngày khởi kiện được tính từ ngày đương sự nộp đơn tại Tòa án

Hai là : Gửi hồ sơ khởi kiện theo đường bưu điện và lấy xác nhận ngày gửi của

bưu điện, ngày khởi kiện được tính từ ngày có dấu bưu điện nơi gửi

- Sau khi nộp đơn khởi kiện, khi có thông báo của Tòa án về việc thụ lý vụ án dân

sư, luật sư phải hướng dẫn khách hàng đi nộp tiền tạm ứng án phí tại Cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp với Tòa án đang thụ lý, và nộp lại ngay cho Tòa án biên lại thu tiền tạm ứng án phí, đây là căn cứ để Tòa án thụ lý giải quyết vụ án

2.3/ Kỹ năng thu thập chứng cứ của Luật sư :

Luật sư hướng dẫn cho đương sự thu thập chứng cứ hoặc tự mình thu thập chứng

cứ Nguyên tắc thu thập chứng cứ của một vụ án thừa kế là phải tập trung vào những đặc trưng của tranh chấp thừa kế, trọng tâm của vấn đề cần chứng minh trên yêu cầu của khách hàng Trong thu thập chứng cứ luật sư cần phải làm sáng

tỏ các vấn đề chứng minh : Thời điểm mở thừa kế, diện thừa kế và hàng thừa kế, các vấn đề đến việc phân chia thừa kế,…

Trong vụ án yêu cầu chia thừa kế theo di chúc, thì luật sư cũng phải lưu ý đến việc thu thập chứng cứ để chứng minh di chúc thuộc loại nào; di chúc miệng hay bằng văn bản Trường hợp di chúc bằng văn bản thì xác định di chúc bằng văn bản thuộc loại nào ( có người làm chứng hay không, có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền hay không,… )

+ Trường hợp di chúc bằng văn bản : cần thu thập các chứng cứ để Tòa án có cơ

sở xem xét nội dung, hình thức của di chúc là phù hợp với quy định của pháp luật

về điều kiện có hiệu lực của di chúc tại thời điểm lập di chúc;

+ Trong trường hợp di chúc bằng miệng : cần có các chứng cứ chứng minh có người làm chứng cho việc lập di chúc miệng ( ít nhất là hai người ); người làm chứng có thuộc trường hợp là người không được làm chứng cho việc lập di chúc miệng,…

Trường hợp cần thiết, luật sư cần hướng dẫn khách hàng làm đơn đề nghị Tòa án trưng cầu giám định, định giá tài sản, thu thập và cung cấp các tài liệu gửi kèm theo đơn đề nghị; các chứng cứ này lưu ý phải là tài liệu gốc để việc giám định có

Trang 11

đình, họ tộc đã được hình thành qua nhiều thế hệ Thậm chí quan hệ tranh chấp đó có thể phá vỡ cả hệ thống tiêu chí đạo đức, mĩ tục đã kết tinh thành truyền thống tương thân, tương ái của từng gia đình và dòng tộc

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ mình trong tranh chấp thừa

kế, Luật sư còn cần có trách nhiệm trong việc giữ gìn tình anh em, nghĩa đồng bào, tình ruột thịt, và xa hơn là tình làng nghĩa xóm, vun đắp cho tình nghĩa gia đình anh

em ruột thịt và tạo cho xã hội ổn định và phát triển Đặc điểm thứ hai: Quan hệ tranh chấp về thừa kế gắn liền với nhiều yếu tố truyền thống Ềgia phongỂ, Ềgia tộcỂ, có những quan hệ gắn với gốc rễ, cội nguồn của một gia đình, họ tộc, thậm chí ở nhiều địa phương gắn với nhiều phong tục tập quán sắc tộc, quần cư Yếu tố gốc gác cội nguồn thể hiện trong quan hệ thừa kế vừa cụ thể, vừa tế nhị - vì không chỉ là quan hệ pháp lý đơn thuần, mà còn mang nặng tình cảm của từng cá nhân tham gia vào quan

hệ đó.Đặc điểm thứ ba: Quan hệ tranh chấp về di sản thừa kế không chỉ liên quan chủ yếu đến quan hệ tài sản và quyền tài sản, mà còn liên quan đến quyền nhân thân của các đương sự tranh chấp thừa kế Việc thừa nhận được hưởng di sản gắn với cội nguồn, quyền nhân thân của họ Cũng từ đó nhiều lúc liên quan đến danh dự của từng cá nhân trong xã hội Có nhiều trường hợp đương sự không chỉ đơn thuần được hưởng di sản của người để lại thừa kế, mà qua đó để khẳng định tính huyết thống, tình cảm của người quá cố đối với mình và ngược lại, bằng cách đó duy trì quan hệ gia đình với người khác Đặc điểm thứ tư: Quan hệ tranh chấp về thừa kế, bao giờ cũng liên quan đến tài sản và quyền tài sản, thường di sản là những tài sản có giá trị lớn hoặc di sản có ý nghĩa về tinh thần Di sản càng có giá trị lớn về kinh tế, có ý nghĩa lớn về mặt tinh thần thì tranh chấp càng gay gắt và đó là quy luật Hơn nữa, do những hạn chế của hệ thống pháp luật nước ta trước đây còn thiếu hoặc chưa quy định đầy đủ về thủ tục đăng ký, quản lý tài sản của công dân (đặc biệt là bất động sản), nên việc xác định nguồn gốc của di sản thừa kế trở nên khá phức tạp, khó khăn Vấn đề khó khăn nan giải của Luật sư là xác định đúng, chính xác có phải người để lại thừa kế là chủ sở hữu đích thực tài sản đó hay không, đặc biệt liên quan đến bất động sản.Đặc điểm thứ năm: Liên quan đến các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế Thực tế hệ thống pháp luật của nước ta trong lĩnh vực thừa

kế, giải quyết tranh chấp thừa kế chưa đồng bộ, thậm chí có chỗ còn chưa thống nhất, còn chồng chéo, mâu thuẫn Do điều kiện khách quan của các cuộc chiến tranh giải phóng đất nước, chúng ta đã không dành sự quan tâm thích đáng đối với lĩnh vực pháp luật này Hơn nữa, do chiến tranh kéo dài, những hồ sơ về gốc gác tài sản của công dân cũng thất lạc, mất mát Sau khi thành lập nhà nước mới và sau khi giải phóng miền nam, những quy định pháp luật về chuyển dịch tài sản và quản lý tài sản (đặc biệt là bất động sản) từ chế độ cũ sang chế độ mới cũng thay đổi và khác biệt về bản chất.Đặc điểm thứ sáu: Nói đến thừa kế là liên quan đến Luật Hôn nhân - Gia đình, Luật Hôn nhân - Gia đình của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà mới

có hiệu lực từ năm 1961 nhưng do đất nước bị kẻ thù chia cắt nên luật này chỉ mới

Ngày đăng: 31/03/2014, 16:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w