1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số Giải pháp cho đầu tư phát triển làng nghề truyền thống ở Hà Nội đáp ứng yêu cầu hội nhập

69 1,7K 12
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Cho Đầu Tư Phát Triển Làng Nghề Truyền Thống Ở Hà Nội Đáp Ứng Yêu Cầu Hội Nhập
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hồng Minh
Thể loại chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 724,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu tham khảo kinh tế đầu tư: Một số Giải pháp cho đầu tư phát triển làng nghề truyền thống ở Hà Nội đáp ứng yêu cầu hội nhập

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU Lịch sử 1000 năm Thăng Long-Hà Nội đã chứng kiến bao thăng trầm của

sự tồn tại và phát triển các làng nghề truyền thống.Các nghề và làng nghề đã gópphần tạo dựng bản sắc văn hóa cho thủ đô, đóng vai trò quan trọng trong đời sốngkinh tế xã hộI, đặc biệt cùng với việc bảo tồn làng nghề truyền thống phát triển

và mở rộng làng nghề có ý nghĩa quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu nông thônngoại thành theo hướng CNH-HĐH

Trong thời gian qua, việc khuyến khích và mở rộng làng nghề đã được cáccấp lãnh đạo Trung ương và Thành phố quan tâm sâu sắc Pháp lệnh Thủ đô vàNghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ VIII cũng đã chỉ rõ định hướnglớn về phát triển nghề và làng nghề trong quá trình phát triển nông thôn ngoạithành theo hướng CNH-HĐH, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế hiện nay

Phát huy truyền thống phát triển nghề và làng nghề Thành phố Hà Nội,quán triệt chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, Thành ủy Hà Nội,HĐND và UBND Thành phố đã quan tâm và chỉ đạo các ban ngành địa phươngphát triển và mở rộng làng nghề Đầu tư phát triển làng nghề sẽ góp phần tạo diệnmạo mới cho khu vực nông thôn ngoại thành, giữ gìn và phát triển tinh hoa vănhóa phố nghề làng nghề, tạo bước tiếp cận của khu vực làng nghề với quá trìnhhội nhập kinh tế quốc tế

Từ thực tiễn thực trạng tình hình đầu tư phá+t triển làng nghề truyền thống

Hà Nội những năm gần đây và quy hoạch phát triển làng nghề Hà Nội đến năm

2010, em quyết định chọn đề tài “ Một số giải pháp cho đầu tư phát triển làng nghề truyền thống ở Hà Nội đáp ứng yêu cầu hội nhập” làm đề tài chuyên đề

thực tập tốt nghiệp

Qua đây em xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Hồng Minh đã trực tiếphướng dẫn em hoàn thành chuyên đề này, cảm ơn các cán bộ CNV phòng kếhoạch tổng hợp - Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội, cùng các thầy cô trong bộ môn

đã tạo điều kiện và giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này

Tuy nhiên do thời gian và năng lực hạn chế nên chuyên đề còn nhiều thiếusót, rất mong được sự đóng góp của thầy cô và các bạn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

CHƯƠNG 1

THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG HÀ NỘI

1. Một số vấn đề chung về làng nghề truyền thống ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng

1.1 Nghề và làng nghề truyền thống.

1.1.1.Khái niệm.

a Khái niệm nghề truyền thống

Nghề truyền thống trước hết là những nghề tiểu thủ công nghiệp được hìnhthành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, được sản xuất tập trung tại mộtvùng hay một làng nào đó Từ đó hình thành các làng nghề, xã nghề Đặc trưng

cơ bản nhất của mỗi nghề truyền thống là: phải có kỹ thuật và công nghệ truyềnthống, đồng thời có các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề Sản phẩm làm ravừa có tính hàng hóa vừa có tính nghệ thuật và mang đậm bản sắc văn hóa dântộc

Nghề truyền thống ở Hà Nội rất phong phú và đa dạng, có những nghề đãhình thành và tồn tại hàng trăm năm Nhiếu sản phẩm truyền thống đã nổi tiếng ởtrong nước và thế giới: Gốm sứ Bát tràng có trên 600 năm, dệt sợi Triều Khúc tồntại và phát triển trên 300 năm…

Những nghề truyền thống thường được truyền trong phạm vi từng làng.Ngày nay khoa học kĩ thuật và công nghệ phát triển mạnh mẽ, việc sản xuất cácsản phẩm có tính truyền thống được hỗ trợ bởi quy trình công nghệ mới với nhiềuloại nguyên liệu mới Do vậy khái niệm nghề truyền thống cũng được nghiên cứu

và mở rộng hơn, có thể hiểu “ Nghề truyền thống bao gồm những nghề tiểu thủcông nghiệp xuất hiện từ lâu trong lịch sử, được truyền từ đời này qua đời kháccòn tồn tại đến ngày nay, kể cả những nghề đã được cải tiến hoặc sử dụng nhữngloại máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyềnthống, và đặc biệt sản phẩm của nó vẫn thể hiện những nét văn hóa đặc sắc củadân tộc”

Trang 3

phần chủ yếu trong năm Những nghề thủ công đó được truyền từ đời này qua đờikhác, thường là nhiều thế hệ.Cùng với thử thách của thời gian, các làng nghề thủcông này đã trở thành nghề nổi trội, một nghề cổ truyền, tinh xảo,với một tầnglớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp đã chuyên tâm sản xuất,

có quy trình công nghệ nhất định và sống chủ yếu bằng nghề đó.Sản phẩm làm ra

có tính mỹ nghệ và đã trở thành hàng hóa trên thị trường”

1.1.2.Phân loại nghề và làng nghề truyền thống

Hiện nay ở nước ta tồn tại nhiều nghề truyền thống khác nhau, phân bốkhắp nơi trong cả nước, được tập trung nhiều nhất ở đồng bằng sông Hồng Cónhiều cách phân loại nghề, tuy nhiên có thể xem xét một số cách như sau:

* Phân loại theo trình độ kĩ thuật:

- Loại nghề có kĩ thuật đơn giản như: đan lát ở Kim Lũ, Xuân Thu huyện SócSơn,….chế biến lương thực thực phẩm ở Yên Viên huyện Gia Lâm, Mễ Trìhuyện Từ Liêm…sản phẩm của những nghề này có tính chất thông dụng, phục vụnhu cầu hàng ngày của dân cư nông thôn

- Loại nghề có kĩ thuật phức tạp như các nghề: nghề chế tác Bạc Định Công,đúc đồng Ngũ Xã, gốm sứ Bát Tràng, chạm khảm ở Liên Hà, Vân Hà…Các nghềnày không chỉ có kỹ thuật công nghệ phức tạp mà còn đòi hỏi ở người thợ sựsáng tạo và khéo léo

* Phân loại theo tính chất kinh tế:

- Loại nghề thường phụ thuộc vào nền kinh tế nông nghiệp tự nhiên: chế biếnnông sản, sản xuất công cụ như : cày, bừa, liềm, hái…

- Loại nghề mà hoạt động của nó độc lập với quá trình sản xuất nông nghiệp

- Dựa vào giá trị sử dụng của các sản phẩm có thể phân loại các ngành nghềtruyền thống theo các nhóm chính như sau:

+ Các ngành nghề sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như: Gốm sứ, chạmkhảm gỗ, chạm khắc đá, thêu, vàng bạc…

+ Các ngành nghề phục vụ cho sản xuất và đời sống như : nề, mộc, hàn, đúcđồng, gang, nhôm, sản xuất vật liệu xây dựng, công cụ…

+ Các ngành nghề sản xuất các mặt hàn tiêu dùng như: dệt vải, dệt chiếu, khâunón…

Trang 4

+ Các ngành nghề chế biến lương thực, thực phẩm như: xay xát, làm bún bánh,nấu rượu, nấu đường mật, chế biến thủy sản…

1.1.3.Đặc điểm làng nghề truyền thống

a Đặc điểm về kỹ thuật, công nghệ:

Đặc điểm đặc trưng đầu tiên của nghề thủ công truyền thống là kỹ thuậtthủ công mang tính truyền thống và bí quyết dòng họ

Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự phát triển của sản xuất trong cáclàng nghề truyền thống đã tạo nên một đặc điểm nữa, đó là sự kết hợp giữa côngnghệ truyền thống và công nghệ hiện đại trong quá trình sản xuất Sự kết hợp này

đã đem lại những ưu thế đặc biệt quan trọng: tạo ra năng suất lao động cao hơngấp nhiều lần so với lao động bằng phương pháp thủ công, sản phẩm được sảnxuất hàng loạt với chất lượng cao, giảm bớt sự nặng nhọc và độc hại cho ngườilao động…

Đặc điểm về sản phẩm

Đặc điểm riêng nhất, đặc sắc nhất của sản phẩm truyền thống là độc đáo và

có tính nghệ thuật cao Sản phẩm của mỗi làng, mỗi vùng mang một trình độ kỹthuật riêng và đặc trưng riêng của làng đó, vùng đó Do vậy người ta có thể phânbiệt được sản phẩm gốm sứ của Bát Tràng với gốm sứ của Đồng Nai,…Các sảnphẩm đều là sự kết hợp giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệthuật Một đặc điểm nữa của sản phẩm truyền thống là mang tính riêng lẻ, đơnchiếc Đặc điểm này cũng do sự quy định của việc sử dụng công cụ thủ công vàcông nghệ truyền thống Tuy nhiên, chính vì xuất phát từ đặc điểm này mà sảnphẩm truyền thống thường có giá thành cao, mẫu mã không phong phú và chậmđược đổi mới Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế trongcạnh tranh và mở rộng thị trường

Sản phẩm truyền thống rất đa dạng và phong phú do phải đáp ứng các nhucầu của đời sống kinh tế và văn hóa của người lao động Đây là điều kiện tốt đểcác làng nghề truyền thống phát triển sản xuất, mở rộng thị trường, thiết lập quan

hệ bạn hàng mới

b Đặc điểm về lao động

Đặc điểm nổi bật trong các làng nghề truyền thống là sử dụng lao động thủcông là chính Trước đây khi kỹ thuật công nghệ còn thô sơ, lạc hậu thì hầu hếtcác công đoạn trong quy trình sản xuất đều do lao động thủ công đảm nhận, kể cả

Trang 5

những công đoạn nặng nhọc và độc hại nhất Trong các làng nghề truyền thốngvai trò của các nghệ nhân rất quan trọng, được coi là nòng cốt của quá trình sảnxuất và sáng tạo ra sản phẩm Chính các nghệ nhân là những người dạy nghề,truyền nghề trực tiếp cho các thành viên trong gia đình hoặc dòng họ Tuy nhiên,

từ sau hòa bình lập lại tình hình đã thay đổi Phong trào hợp tác hóa nông nghiệpđược đẩy mạnh vào những năm 60 của thế kỉ trước, nhiều cơ sở quốc doanh, tậpthể làm các nghề tiểu, thủ công nghiệp truyền thống được thành lập và phát triển.Cũng từ giai đoạn này phương thức dạy nghề và truyền nghề đã có nhiều thay đổi

và ngày càng đa dạng, phong phú với nhiều hình thức đào tạo từ hộ gia đình, tưnhân, địa phương (huyện, xã) và nhà nước Phương thức này cho đến nay vẫnđược xem là phương thức dạy nghề chủ yếu và có hiệu quả trong các làng nghềtruyền thống

c Đặc điểm thị trường

Thị trường là một yếu tố rất quan trọng, nó có ý nghĩa quyết định tới sự tồntại và phát triển đối với mỗi làng nghề

- Thị trường cung ứng nguyên, vật liệu: Thị trường nguyên vật liệu trước đây

chủ yếu là thị trường mua bán tại chỗ, nhất là đối với nguyên liệu phục vụ chonghề chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất sản phẩm tiêu dùng như đan lát.Sau một thời gian nguồn nguyên, vật liệu này cũng cạn dần đi, do đó phải được

bổ sung bằng các nguồn ở nơi khác Vì vậy khi sản xuất phát triển thì cũng đồngthời xuất hiện những tổ chức và cá nhân chuyên khai thác hay làm dịch vụ cungcấp nguyên, vật liệu cho các hộ và các cơ sở chuyên làm nghề Do vậy sau này đãhình thành một thị trường nguyên, vật liệu rộng lớn hơn, không chỉ có những hộchuyên cung cấp ở tại làng nghề đó mà đã có mạng lưới những cá nhân, doanhnghiệp ở các địa phương khác chuyên làm dịch vụ cung cấp theo những hợp đồnglớn cho các hộ gia đình và cơ sở sản xuất ở làng nghề

- Thị trường công nghê: Ngày nay, dưới sự tác động của cách mạng khoa học

kỹ thuật, thị trường công nghệ trong làng nghề truyền thống đã có những bướcphát triển mới, nó có nhiệm vụ chuyển giao công nghệ mới, hiện đại vào quátrình sản xuất nhằm thực hiện “ hiện đại hóa công nghệ truyền thống”, thay thếcông nghệ thủ công lạc hậu bằng công nghệ hiện đại để nâng cao năng suất laođộng, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh

Trang 6

- Thị trường vốn: tuy đã được hình thành nhưng vẫn còn nhỏ bé so với sức phát

triển của sản xuất

- Thị trường lao động: được hình thành, phát triển và có nhiều yếu tố mới,

trước đây việc sử dụng lao động làm nghề chủ yếu là lao động tại địa phương vàmang tính chất thời vụ, hầu hết những người làm thuê chỉ đi làm vào lúc nôngnhàn Hiện nay ngoài số lao động nông nhàn còn có một bộ phận lớn đi làmthường xuyên trong suốt cả năm Thị truờng lao động không chỉ có ở địa phương

có làng nghề truyền thống mà được mở rộng sang các vùng khác, tỉnh khác, vàđây đã trở thành nguồn cung cấp nhân lực quan trọng cho các làng nghề truyềnthống

- Thị trường tiêu thụ sản phẩm: Loại thị trường này rất quan trọng, nó đóng vai

trò quyết định tới sự sống còn của một nghề hay của một làng nghề Thị trườngtiêu thụ sản phẩm được hình thành trên cơ sở phát triển cơ sở sản xuất và nhu cầutrao đổi hàng hóa Tuy nhiên về cơ bản đó vẫn là thị trường tại chỗ, nhỏ hẹp Saunày khi sản xuất phát triển, sự trao đổi hàng hóa được mở rộng, hệ thống chợnông thôn phát triển, hệ thống chợ ở các làng nghề cũng được hình thành và pháttriển nhanh chóng Tuy nhiên khả năng tiêu thụ còn hạn chế và không ổn định domức thu nhập và sức mua của người dân còn thấp Tuy thị trường nông thôn rộnglớn nhưng các vùng sản xuất thuần nông lại chiếm tỷ lệ cao Nhiều loại sản phẩmtruyền thống được thị trường trong nước chấp nhận và đã vươn tới nhiều vùngcủa đất nước

Đối với thị trường nước ngoài thì từ lâu các sản phẩm truyền thống đãthực sự hấp dẫn đối với nhiều khách hàng Tuy nhiên sự đòi hỏi khắt khe của thịtruờng nước ngoài về chất lượng, chủng loại và sự thay đổi mẫu mã vẫn phải thểhiện sắc thái riêng của có của văn hóa Việt Nam trong từng thời sản phẩm cũng

là một khó khăn cho sản xuất của các làng nghề

- Đặc điểm về hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh: Trong lịch sử phát triển

làng nghề truyền thống, hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh truyền thống phổbiến nhất là hình thức hộ gia đình Ngày nay bên cạnh hình thức này, một số hìnhthức khác được ra đời và phát triển

- Hộ gia đình: là hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu trong các làng nghềtruyền thống Hộ gia đình vừa là một đơn vị sản xuất, một đơn vị kinh tế, vừa làmột đơn vị sinh hoạt

Trang 7

- Tổ sản xuất: Là hình thức hợp tác, liên kết tự nguyện một số hộ gia đìnhvới nhau để cùng sản xuất kinh doanh một mặt hàng nào đó Hợp tác là phươngthức tất yếu trong lao động sản xuất và hoạt động kinh tế, là cơ sở tạo ra sức sảnxuất xã hội của lao động Sự hợp tác kinh tế này đã tạo ra sự tương hỗ lẫn nhautrong việc thực hiện các khâu của quá trình sản xuất

- Hợp tác xã: Hợp tác xã kiểu mới ra đời trên cơ sở hợp tác các chủ thểkinh tế tự chủ Luật Hợp tác xã ra đời đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý rất cơ bảncho sự vận động và phát triển của hợp tác xã trong điều kiện kinh tế thị trường

- Doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần Hình thức tổchức này được phát triển từ một số tổ chức sản xuất hoặc một số hộ gia đình cótiềm lực kinh tế khá, có trình độ tổ chức và có khả năng tiếp cận thị trường Ởmột số làng nghề truyền thống, hình thức này tuy không chiếm tỷ trọng lớn về sốlượng lao động nhưng lại đóng vai trò là trung tâm liên kết mà các hộ gia đình làcác vệ tinh, thực hiện các hợp đồng đặt hàng, giải quyết đầu ra, đầu vào cho các

hộ gia đình…

Trên đây là một số hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh cơ bản đã, đanghình thành và phát triển ở các làng nghề truyền thống Những hình thức này cùngtồn tại đan xen, hỗ trợ nhau phát triển Sự đan xen này đã đảm bảo sự thích ứngcủa từng loại hình đối với nhu cầu sản xuất và đặc trưng của ngành nghề Do đó

đã tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế ở các làng nghềtrong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay

1.2 Vai trò , vị trí của ĐTPT làng nghề truyền thống Hà Nội trong hội nhập và phát triển kinh tế- xã hội Thủ Đô

Vấn đề phát triển nghề và làng nghề đã được đề cập trong báo cáo tại hộInghị BCH Trung ương Đảng lần thứ VII( khoá VII) : “ Phát triển các ngành nghề

và làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới bao gồm cả tiểu thủ côngnghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp khaithác và chế biến các nguồn nguyên liệu phi nông nghiệp, các loại hình dịch vụsản xuất và đời sống nhân dân”

Việc phát triển ngành nghề nông thôn đã được nhấn mạnh hơn trongphương hướng nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2001-2005; “

mở mang các làng nghề, phát triển các điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệpsản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, đưa công nghiệp sơ chế và chế biến về nôngthôn và vùng nguyên liệu; phát triển lĩnh vực dịch vụ cung ứng vật tư kỹ thuật,

Trang 8

trao đồi nông sản hàng hoá ở nông thôn…,tăng nhanh việc làm cho khu vực phinông nghiệp”.

Như vậy việc phát triển làng nghề đóng vai trò chủ yếu sau:

1.2.1 Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hoá

Trong quá trình phát triển, các nghề và làng nghề truyền thống đã có vaitrò tích cực góp phần tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ,chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phinông nghiệp có thu nhập cao hơn Khi nghề thủ công hình thành và phát triển thìkinh tế nông thôn không chỉ có ngành nông nghiệp thuần nhất, mà bên cạnh làcác ngành thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ cùng tồn tại và phát triển

Xét trên góc độ phân công lao động thì các nghề và làng nghề đã có tácđộng tích cực tới sản xuất nông nghiệp Nó không chỉ cung cấp tư liệu sản xuấtcho khu vực nông nghiệp và còn có tác dụng chuyển dịch cơ cấu trong nội bộngành nông nghiệp

Khác với sản xuất nông nghiệp, sản xuất trong các làng nghề là một quátrình liên tục đòi hỏi một sự thường xuyên dịch vụ cung ứng vật liệu và tiêu thụsản phẩm Do đó dịch vụ nông thôn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đadạng phong phú, đem lại thu nhập cao cho người lao động

Sự phát triển của làng nghề truyền thống có tác dụng rõ rệt với quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH Sựphát triển lan toả của làng nghề truyền thống đã mở rộng quy mô địa bàn sảnxuất, thu hút nhiều lao động Đến nay cơ cấu kinh tế ở nhiều làng nghề đạt 60-80% cho công nghiệp và dịch vụ, 20-40% cho nông nghiệp

1.2.2 Góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.

Theo điều tra , bình quân mỗi cơ sở chuyên làm nghề ở các làng nghề tạoviệc làm ổn định cho 27 lao động thường xuyên và 8-10 lao động thời vụ, mỗi

hộ chuyên nghề tạo việc làm cho 4-6 lao động thường xuyên và 2-5 lao động thời

vụ Nhiều làng nghề không những thu hút lực lượng lao động lớn ở địa phương

mà còn tạo việc làm cho nhiều lao động ở các địa phương khác Chẳng hạn, làngnghề Gốm sứ Bát Tràng ngoài việc giải quyết việc làm cho gần 2430 lao độngcủa xã, còn giải quyết thêm việc làm cho khoảng 5500-6000 lao động của cácvùng lân cận đến làm thuê

Trang 9

Hơn nữa, sự phát triển của các làng nghề truyền thống đã phát triển và hìnhthành nhiều nghề khác, nhiều hoạt động dịch vụ liên quan xuất hiện, tạo thêmnhiều việc làm mới, thu hút nhiều lao động Mặt khác, việc phát triển các ngànhnghề tại các làng nghề ở nông thôn sẽ tận dụng tốt thời gian lao động, khắc phụcđược tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp, góp phần phân bổ hợp lý lực lượnglao động nông thôn Trên phương diện kinh tế, xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệtruyền thống đã đem lại kim ngạch xuất khẩu hàng trăm triệu đô la mỗi năm.Trên phương diện xã hội xuất khẩu hàng thủ công truyền thống là nhân tố quantrọng để kích thích sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho hàng triệu lao độngthủ công chuyên nghiệp và nhàn rỗi Nếu so sánh thu nhập của lao động ngànhnghề cao hơn khoảng 2-4 lần Những làng nghề có thu nhập cao như làng GốmBát Tràng, bình quân thu nhập của các hộ thấp đạt 15-20 triệu đồng/năm, của các

hộ trung bình là 40-50 triệu đồng/năm, các hộ có thu nhập cao đạt hàng trăm triệuđồng/năm

1.2.3 Thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng thời gian và lực lượng lao động, hạn chế di dân tự do.

Khác với một số ngành nghề công nghiệp, đa số các làng nghề không đòihỏi số vốn đầu tư lớn, bởi rất nhiều nghề chỉ cần công cụ thủ công, thô sơ do thợthủ công tự sản xuất được Đặc điểm của sản xuất trong các làng nghề là quy mônhỏ, cơ cấu vốn và lao động ít nên rất phù hợp với khả năng huy động vốn và cácnguồn lực vật chất của các gia đình Đó là lợi thế để các làng nghề có thể huyđộng các loại vốn nhàn rỗi trong dân vào hoạt động sản xuất kinh doanh Mặtkhác, do đặc điểm sản xuất sử dụng lao động thủ công là chủ yếu, nơi sản xuấtcũng chính là nơi ở của người lao động nên bản thân nó có khả năng tận dụng vàthu hút nhiều lao động, từ lao động thời vụ nông nhàn đến lao động trên độ tuổihay dưới độ tuổi lao động Trẻ em vừa học và tham gia sản xuất dưới hình thứchọc nghề hay giúp việc Sự phát triển của nghề và làng nghề đã có vai trò tích cựctrong việc hạn chế di dân tự do ở nông thôn Quá trình này xét trên bình diệnchung của nền kinh tế đã có những tác động tích cực làm giảm sức ép việc làm ởkhu vực nông thôn, đáp ứng nhu cầu lao động giản đơn ở thành phố; đồng thờilàm tăng thu nhập, nâng cao đời sống xã hội, giảm bớt đói nghèo cho người dânnông thôn Tuy nhiên nó lại có những tác động tiêu cực tới đời sống kinh tế-xãhội, gây áp lực đối với dịch vụ, cơ sở hạ tầng xã hội ở thành phố và là một khókhăn lớn trong vấn đề quản lý đô thị

Trang 10

1.2.4 Đa dạng hoá kinh tế nông thôn, thúc đẩy quá trình đô thị hoá

Đa dạng hoá kinh tế nông thôn là một trong những nội dung quan trọngcủa công nghiệp hoá nông thôn Trong mối quan hệ biện chứng của quá trình sảnxuất hàng hoá, các nghề thủ công truyền thống đã phá vỡ thế độc canh trong cáclàng thuần nông, mở ra hướng phát triển mới với nhiều nghề trong một làng nôngnghiệp Đồng thời cùng với sản xuất nông nghiệp, làng nghề đã đem lại hiệu quảcao trong việc sử dụng một cách hợp lý các nguồn lực ở nông thôn như đất đai,vốn, lao động, nguyên vật liệu, công nghệ, thị truờng Vì vậy một nền kinh tếhàng hoá với sự đa dạng của các loại sản phẩm được hình thành và phát triển Ởnhững vùng có nhiều ngành nghề phát triển thường hình thành trung tâm giao lưubuôn bán, dịch vụ và trao đổi hàng hoá Những trung tâm này ngày càng được

mở rộng và phát triển, tạo nên một sự đổi mới trong nông thôn Hơn nữa, sự tíchluỹ của người dân trong làng nghề cao hơn, có điều kiện để đầu tư xây dựng cơ

sở hạ tầng như đường sá, nhà ở, và mua sắm các tiện nghi sinh hoạt Nông thônđổi thay và từng bước được đô thị hoá qua việc hình thành các thị trấn, thị tứ Vìvậy dễ nhận thấy rằng ở một số làng nghề phát triển thì ở đó hình thành một phốchợ sầm uất của các nhà buôn bán, dịch vụ Xu huớng đô thị hoá nông thôn là xuhướng tất yếu, nó thể hiện trình độ phát triển về kinh tế-xã hội ở nông thôn, làyêu cầu khách quan trong phát triển làng nghề ở ngoại thành Hà Nội

1.2.5 Bảo tồn giá trị văn hoá dân tộc

Lịch sử phát triển của làng nghề truyền thống gắn liền với lịch sử phát triểnvăn hoá của dân tộc, nó là nhân tố góp phần tạo nên nền văn hoá ấy, đồng thời là

sự biểu hiện tập trung nhất bản sắc của dân tộc.Các làng nghề phát triển sẽ bảotồn, duy trì và phát triển nhiều ngành nghề và các giá trị văn hoá của dân tộc

Nghề truyền thống, đặc biệt là nghề thủ công mỹ nghệ là những di sản vănhoá quý báu mà các thế hệ cha ông đã sáng tạo ra và truyền lại cho các thế hệsau.Cho đến nay, nhiều sản phẩm làng nghề là hàng thủ công mỹ nghệ tinh xảo,độc đáo, đạt trình độ bậc cao về mỹ thuật còn được lưu giữ, trưng bày tại nhiềuviện bảo tang nước ngoài

1.3.Nhân tố ảnh hưởng đến ĐTPT làng nghề tại Hà Nội

1.3.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên Hà Nội

Hà Nội nằm trung tâm vùng đồng bằng sông Hồng, tiếp giáp 5 tỉnh: TháiNguyên, Bắc Ninh, Vĩnh phúc, Hà Tây, Hưng Yên Đây là điều kiện thuận lợicho việc phối hợp, phát triển làng nghề của Hà Nội Thành phố gồm 9 quận Nội

Trang 11

thành ( Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Tây Hồ, Cầu Giấy, ThanhXuân, Hoàng Mai,Long Biên) và 5 huyện ngoại thành ( Sóc Sơn, Đông Anh, GiaLâm, Từ Liêm, Thanh Trì) với tổng diện tích 920,97 km2 Diện tích đất ngoạithành chiếm 91%, nội thành chỉ có 9% Trong tổng diện tích đất tự nhiên diệntích sông hồ chiếm 5,9%, núi đá chiếm 0,13%.

Địa hình Hà Nội khá đa dạng làm nền tảng cho cảnh quan thiên nhiên,tạonhững nét độc đáo cho phong cảnh, cũng như cho việc phát triển các loại hìnhkinh tế

Mạng lưới sông ngòi trên địa bàn Hà Nội khá dày đặc, khoảng 0,5km/km2

thuộc hệ thống sông chính là sông Hồng tạo nên hệ thống giao thông thuận lợibằng đường sông với nhiều tỉnh thành phía Bắc Hệ thống giao thông bằng đườngsông thuận lợi cho việc phát triển các làng nghề, nổi bật là: các làng nghề thuộchuyện Gia Lâm như: Bát Tràng, Liên Hà, Vân Hà…

Trên địa bàn Hà Nội và các khu vực lân cận có khá nhiều loại khoáng sảnkhác nhau thuộc 6 nhóm: khoáng sản cháy cứng, kim loại quý, nguyên liệu hoáhọc, nguyên liệu gốm sứ, vật liệu xây dựng và nước khoáng… Đây cũng lànhững điều kiện thuận lợi, là nguồn cung cấp nguyên vật liệu phục vụ cho việcsản xuất những sản phẩm thủ công như gốm ,sứ, đồng…

Như vậy với vị trí đía lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi cũng như là trungtâm kinh tế xã hội của cả nước Hà Nội là đầu mối giao thông quan trọng gắn liềnvới tam giác kinh tế trọng điểm lớn Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh Hà Nội làđịa bàn có hạ tầng cơ sở tương đối phát triển và hoàn thiện so với cả nước, đây làyếu tố thuận lợi quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các làngnghề truyền thống trên địa bàn

1.3.2 Truyền thống văn hoá Thăng Long-Hà Nội

a.Thăng Long-Đông Đô-Hà Nội,sự xuất hiện nghề,làng nghề,phố nghề.

Hà Nội được coi là Thủ đô thiên nhiên của châu thổ sông Nhị, của miềnbắc Việt Nam Mùa thu năm Canh Tuất ( 1010), Lý Công Uẩn dời đô, đổi tên Đại

La thành Thăng Long, giữ vị trí là kinh đô của cả nước Từ một làng nhỏ vensông Tô, trải qua thành Vạn Xuân ( thời Tiền lý), thành Tống Bình- Đại La (thờiTuỳ, Đường) Đầu thế kỷ 11, Thăng Long đã trở thành một vung dân cư tập trung

và cơ sở ban đầu của thành thị Hà Nội Bên ngoài cấm thành là khu dân cư gồm

Trang 12

những làng xóm nông nghiệp, những phố phường thủ công thương nghiệp vànhững bến chợ tấp nập, đông vui.

Do nhu cầu của xã hội, do vị trí làm ăn buôn bán thuận tiện, thợ thủ công

và thương nhân các nơi đổ về Thăng Long, phường thủ công và phố xá xuất hiệnđông đúc Thăng Long đến thời Hậu Lê rút lại cò 36 phường Con số 36 phốphường Hà Nội bắt đầu từ đây Thực ra, phường lúc này vừa là một đơn vị hànhchính cơ sở (như xã) vừa là tập hợp những người cùng hành nghề Có thể thấy rõ

sự hình thành và phát triển các làng nghề, phố nghề đã thể hiện trình độ phâncông lao động xã hội, thủ công nghiệp dần tách khỏi nông nghiệp Xét đến cùngthì về hình thái kinh tế làng nghề ở Việt Nam nói chung và Thăng Long nói riêngvẫn là làng nông nghiệp-thủ công-thương nghiệp

b Làng nghề,phố nghề Hà Nội phong phú và đa dạng

Chỉ nói riêng về nghề thủ công, sự xuất hiện và diễn tiến của phường phốthủ công kiêm thương nghiệp ở nội đô với các làng nghề ven đô và ngoại thành

có những quy luật khác nhau Phường phố thường diễn tiến theo quy luật hội tụ

và kết tinh tài hoa tứ xứ Những thợ thủ công tài hoa của các nơi giỏi một nghềnào đó và mang nghề đó từ quê hương lên kinh thành làm ăn, đua tài, ở đây diễn

ra sự cạnh tranh rất gay gắt

Còn làng nghề ven đô và ngoại thành thì thường diễn tiến tự sinh và là mộtyếu tố nội sinh Kết cấu dân cư chủ yếu là dân sở tại, nhưng nghề nghiệp có thểphát triển hay chuyên sâu, lại phải do sự kích thích của nội đô Người thợ tìmthấy ở nội đô một nơi tiêu thụ lí tưởng Xung quanh Thăng Long-Đông Kinhmọc dần các làng nghề chuyên doanh đặc sản: Làng rau kẻ Láng, làng hoa Ngọc

Hà, Quất Nghi Tàm, đào Nhật Tân…

Chúng ta biết do có sự giao lưu chính trị, kinh tế và văn hoá nên đã xuấthiện một số nghề mới học được của nước ngoài Thí dụ thế kỷ 17, Vũ Uy đi sứTrung Hoa học được nghề thao về dạy cho dân làng Triều Khúc, cũng như LêCông Hành học được nghề làm lọng và thêu, gần đây ( cận đại) ta học được nghềthêu ren( pháp)…

Tóm lại nghề thủ công truyền thống Thăng Long-Hà Nội được hình thành

do 4 nguồn gốc khác nhau Thứ nhất là những nghề có sẵn ở các làng mạc, thônxóm, từ trước khi Thăng Long trở thành kinh đô của cả nước Thứ hai là donhững biến cố lịch sử, thợ thủ công ở nơi khác kéo nhau về ngoại đô, tìm chỗthuận tiện lập nên làng xóm để hành nghề như làng Gốm Bát Tràng do dân Bồ

Trang 13

Bát( Ninh Bình) và Vĩnh Ninh( Thanh Hoá) chuyển cư ra.Thứ ba là thợ thủ côngcác nơi kéo về nội đô làm ăn, họ mang theo những nghề đặc sắc của quê hươngmình, vừa sản xuất vừa bán sản phẩm của một hay vài ba làng nhất định.Thứ tư

là sự du nhập và phát triển của các nghề mới trong các làng thuần nông hoặc cáclàng đang trong quá trình đô thị hoá bị mất đất tạo thành làng nghề mới…

1.3.3 Tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đô thị hóa trên địa bàn Thủ đô.

Trong hơn 10 năm qua, Thủ đô Hà Nội đã đạt được nhiều thành tựu to lớntrong phát triển kinh tế-xã hội.Nhìn lại chặng đường xây dựng và phát triển vừaqua có thể khái quát như sau:

a.Tăng trưởng kinh tế Hà Nội đã đạt tốc độ cao nhất từ trước đến nay.

Trong 10 năm qua tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của HàNội đạt 11,6%( cả nước là 7,5%), trong đó công nghiệp tăng 13,8%, nông lâmnghiệp tăng 4,5% và dịch vụ tăng 11%.Riêng thời kì 5 năm từ( 1996-2000), HàNội đã vượt lên khó khăn và thách thức,GDP đạt mức tăng trưởng bình quân năm

là 10,7%( cả nước là 6,7%), trong đó công nghiệp tăng 14%, nông lâm nghiệptăng 3,4% và dịch vụ tăng 9,5%.Năm 2001,tốc độ tăng trưởng GDP của Thànhphố tăng 10,03% năm 2002 là 10,3% và năm 2003 tổng sản phẩm nội địa( GDP)tăng 11,1% là mức tăng cao nhất trong mấy năm trở lại đây, trong đó giá trị cácngành dịch vụ tăng 7,38%, giá trị sản xuất công nghiệp-xây dựng tăng 18,06% ,lĩnh vực nông lâm nghiệp tăng 2,23%

Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân năm thời kỳ 1991-2000 và

(Nguồn:Quy hoạch pt KT-XH HN thời kì 2001-2010 và niên giám thống kê HN)

a Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế của Thành phố trong những năm gần đây chuyển dịch theohướng dịch vụ-công nghiệp-nông nghiệp, theo hướng giảm dần tỷ trọng nôngnghiệp, tăng dần tỷ trọng ngành dịch vụ và công nghiêp.Năm 2000, thuơng mại-dịch vụ chiếm tỷ trọng 58,3%, tiếp theo là công nghiệp với tỷ trọng 37,9%, lĩnh

Trang 14

vực nông nghiệp chiếm 3,8%.Năm 2001 CN chiếm 36,8%, NN chiếm 2,7%, DVchiếm 60,5%.Năm 2003 CN chiếm 42,06%, NN chiếm 2,26%, DV chiếm55,68%.

Bảng 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

(Nguồn:Quy hoạch pt KT-XH HN thời kì 2001-2010 và niên giám thống kê HN)

Trong cơ cấu GDP của Thành phố năm 2002, kinh tế Nhà Nước Trung ươngđóng vai trò chủ đạo( chiếm 53%), kinh tế nhà nước địa phương chiếm 7,7%,khu vực ngoài quốc doanh chiếm 20,8%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoàichiếm 15,5%

Bảng 3: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinh tế

-kinh tế nhà nước địa phương 7,9 7,8 7,7

- kinh tế ngoài nhà nước 20,5 20,3 20,8

2.khu vực có vốn đầu tư nước

ngoài

(Nguồn:Niên giám thống kê HN 2004)

b Quá trình đô thị hóa

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế-xã hội, áp lực tạo

ra đối với việc sử dụng đất , nhất là đất ở đô thị ngày càng lớn.Sự gia tăng dân

Trang 15

số nhanh( chủ yếu là gia tăng cơ học) đã gây áp lực lớn cho quản lý đô thị vànhu cầu sử dụng đất.Mặt khác,các dự án đầu tư trên địa bàn thành phố có sốlượng lớn và quy mô ngày càng tăng

Theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thời kì 2001-2010 Hà Nội sẽ chuyểnmục đích sử dụng khoảng hơn 22 nghìn ha đất sáng phát triển đô thị và côngnghiệp, trong đó diện tích đất nông nghiệp phải thu hồi, chuyển mục đích sửdụng là 10.166 ha Bên cạnh thu hồi đất sản xuất nông nghiệp, dự kiến tổngdiện tích đất ở khu vực nông thôn phải giải tỏa đền bù khoảng 845 ha, số hộgia đình phải di dời đến năm 2010 khoảng 35.000 hộ

Như vậy trong thời gian qua và thời gian tới quá trình đô thị hóa sẽ diễn ramạnh mẽ, điều này sẽ có tác động lớn đến các vấn đề quản lý đô thị, giảiquyết việc làm nhất là vấn đề chuyển đổi nghề nghiệp đối với những vùng bịmất đất sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là đối với những làng xã có nghềtruyền thống

1.3.4.Nguồn nhân lực-yếu tố quan trọng phát triển nghề và làng nghề

a Quy mô dân số, nguồn nhân lực

Hiện nay, dân số Hà Nội có khoảng 2,8726 triệu người,( trong đó thành thị có1,659 triệu người chiếm 57,8%, nông thôn 1,213 triệu người chiếm42,2%).Tốc độ phát triển dân số Hà Nội tăng nhanh, bình quân hàng năm thời

kỳ 1991-2000 tăng 2,9% Tốc độ tăng cơ học ngày càng cao.Đây cũng là tiềmnăng lớn và có ảnh hưởng tới phát triển nghề và làng nghề ở Thủ đô trongnhững năm tới

b.Trình độ văn hóa,chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động Hà Nội

-Trình độ văn hóa

Tỷ lệ biết chữ của dân số Hà Nội là 99,6%, số người chưa biết chữ trong

độ tuổi lao động có khoảng 4360 người tập trung chủ yếu ở khu vực nôngthôn ngoại thành

Hà Nội là địa phương đạt tiêu chuẩn phổ cập tiểu học đầu tiên trong cảnước.Trình độ văn hóa của người lao động cao,có 85,96% số người tốt nghiệptrung học cơ sở trở lên.Đây là một yếu tố thuận lợi cho việc đào tạo và pháttriển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực cho phát triển làng nghề HàNội nói riêng

- Trình độ chuyên môn của lực lượng lao động Hà Nội

Số người được đào tạo có bằng từ sơ cấp trở lên chiếm trên 32%, trong khi đó

cả nước có 13,3%.Số lao động có chứng chỉ ngoại ngữ chiếm 9,66%

Trang 16

Lao động có trình độ công nhân kỹ thuật có bằng chiếm 10,1% trong đóthành thị chiếm 12,5% và nông thôn chiếm 6,4%

Lao động có trình độ Đại học, Cao đẳng chiếm 11,1%( chủ yếu làm trongcác cơ quan quản lý nhà nước), trong đó ở thành thị là 17,1% và nông thôn là2,1%.Qua số liệu cho thấy: Lao động có trình độ, chuyên môn kỹ thuật chủyếu tập trung ở thành thị, ở khu vực nông thôn chiếm tỷ lệ nhỏ

Trình độ lao động chuyên môn kỹ thuật của nguồn lao động Hà Nội là caonhất trong toàn quốc.Là nơi có tiềm lực khoa học kỹ thuật lớn nhất cả nước,đây là một lợi thế quan trọng vào bậc nhất của Hà Nội

Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự pháttriển.Nguồn nhân lực của làng nghề truyền thống bao gồm những nghệ nhân,những người thợ thủ công và những chủ cơ sở sản xuất kinh doanh.Nhữngnghệ nhân có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc truyền nghề, dạy nghề,đồng thời là những người sáng tạo ra những sản phẩm độc đáo mang đậm dấu

ấn truyền thống Song một hạn chế rất lớn là chất lượng nguồn lao động chưacao,trình độ chuyên môn và trình độ văn hóa thấp, nhất là đối với các chủdoanh nghiệp, là một lực cản lớn trong việc phát triển sản xuất theo hướngCNH-HĐH

1.3.5 Thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề

Trong giai đoạn hiện nay, các yếu tố của nền kinh tế thị trường đã tác độngtrực tiếp đến các họat động sản xuất kinh doanh của làng nghề.Sản xuất củalàng nghề đã trở thành sản xuất hàng hóa, chịu sự tác động khách quan củaquy luật cung cầu, giá cả, lợi nhuận và cạnh tranh

*Tiềm năng về thị trường tiêu thụ trong nước

Nhu cầu tiêu thụ trong nước đối với sản phẩm của các làng nghề, nhất làcác sản phẩm thủ công mỹ nghệ và lương thực- thực phẩm chế biến sẽ tăngkhá nhanh trong thời gian tới bởi các lý do và theo các xu hướng sau:

Sự phát triển có tính bùng nổ về xây dựng nhà ở và mua nhà ở của khu dân cưhiện nay và tiếp diễn trong thời gian tới sẽ thúc đẩy các gia đình tăng nhu cầutrang trí cho những ngôi nhà đó bằng những đồ vật phù hợp với họ, tức lànhững đồ vật chứa đựng cá tình phù hợp từng nguời

Hà Nội có nhiều lợi thế về phát triển du lịch nên đang là điểm đến hấp dẫncủa khách du lịch quốc tế Khách du lịch có xu hướng tăng chi tiêu cho việc đilại và mua sắm quà lưu niệm, trong đó khách nước ngoài có mức độ chi caohơn( Theo tổ chức du lịch thế giới, năm 2003, mức chi tiêu bình quân của

Trang 17

mỗi khách nước ngoài ở các nước Đông Nam Á là 950USD).Đây là nhân tố

có tính động lực thúc đẩy phát triển nhanh thị trường tiêu thụ trong nước vàxuất khẩu tại chỗ sản phẩm làng nghề thủ công,nhất là hàng thủ công mỹ nghệ

và chế biến lương thực, thực phẩm

*Tiềm năng về thị trường thế giới

Trong thời kỳ tới, nhu cầu thị trường thế giới về các sản phẩm của các làngnghề, nhất là các sản phẩm thủ công mỹ nghệ , sẽ tiếp tục tăng nhanh bởi các

lý do, xu hướng sau:

-Một số lượng lớn người tiêu dùng, khách hàng ở các nước Châu Âu, Bắc Mỹ,Nhật Bản và các nước công nghiệp mới Châu Á đang hướng đến những sảnphẩm mang tính dân tộc, tính nghệ thuật cổ truyền dân gian,sản phẩm sản xuấtthủ công

-Dưới tác động của những tiến bộ kỹ thuật, trên thế giới và nhất là ở các nướccông nghiệp phát triển đang diễn ra một sự biến đổi có tính chất cách mạng vềthiết kế và thị hiếu mới của người tiêu dùng

-Mục tiêu các thị trường xuất khẩu hàng đầu của các làng nghề là châu Âu( 24,3%), Hàn Quốc và Đài Loan( 19,8%), Nhật Bản ( 17,4%), Mỹ( 7,7%)…Thị trường Mỹ hiện tại tuy mới chiếm tỷ trọng nhỏ( 2,4%) kim ngạch xuấtkhẩu sản phẩm làng nghề thủ công Việt Nam, nhưng đây là thị trường có nhucầu rất lớn về hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đặc biệt là hàng gốm sứvới nhu cầu được dự báo tăng 10-15%/năm.Thị trường EU có nhu cầu lớn vềcác sản phẩm gỗ,gốm sứ mỹ nghệ, mây tre đan…

*Một số nhân tố có tác động đến thị trường sản phẩm các làng nghề

Tuy Hà Nội có nhiều tiềm năng và yếu tố thuận lợi để phát triển nhưng cáclàng nghề cũng đang gặp phải những khó khăn sau:

Thứ nhất: sản phẩm của các làng nghề thường gặp khó khăn trong tiêu thụ và

giá bán thấp vì sản phẩm luôn chịu sức ép cạnh tranh gay gắt đối với sảnphẩm cùng loại của ngành công nghiệp thành thị và hàng ngoại nhập

Thứ hai: Thị trường trong nước có tiềm năng nhưng 80% dân số có mức thu

nhập thấp và sức mua thấp; hàng nhập ngoại tràn lan trong bối cảnh mở cửathị trường, tự do hoá thương mại; thị trường xuất khẩu lại bị bó hẹp bởi một

số doanh nghiệp lớn.Các doanh nghiệp, các cơ sở kinh doanh ở các làng nghề

ít có điều kiện tham gia xuất khẩu trực tiếp, thường phải qua nhiều khâu trunggian để xuất khẩu

Trang 18

Như vậy thị trường tiêu thụ là yếu tố vô cùng quan trọng có tính chất quyếtđịnh cho việc tổ chức và phát triển sản xuất của các làng nghề.Nhìn chung,tình trạng phổ biến của các làng nghề Hà Nội là thiếu khả năng khai thác thịtrường Vì thế sản phẩm của các làng nghề đang gặp rất nhiều khó khăn trongcạnh tranh với các mặt hàng của các nước trong khu vực và trên thế giới Đếnnay, vẫn chưa có một hệ thống hỗ trợ của nhà nước để các làng nghề tiếp cậnvới thị truờng trong nước và thị trường thế giới, nắm bắt nhu cầu, chủng loại,mẫu mã, giá cả và thị hiếu người dùng.

1.3.6.Các yếu tố về khoa học-công nghệ

Chính sách phát triển KHCN và hỗ trợ thông tin KHCN tác động đến sựphát triển của các làng nghề.Những thành tựu của khoa học kỹ thuật và côngnghệ, đặc biệt là CNTT( trao đổi giao dịch trên mạng, trang web, quảng bá sảnphẩm, công nghệ quản lý…)tác động đến sự hình thành, tạp lập sức cạnh tranhcủa sản phẩm làng nghề.Mặt khác, vấn đề thông tin khoa học công nghệ sẽ tạođiều kiện cho các nghiệp chủ ở các làng nghề có khả năng lựa chọn phươngpháp sản xuất, công nghệ sản xuất và thiết kế sản phẩm thủ công mỹ nghệ, đểcải thiện nhận thức về mẫu mã sản phẩm có ý nghĩa quan trọng trong việchình thành sức cạnh tranh về chất lượng của sản phẩm các làng nghề

Thời gian qua một số cơ sở thủ công mỹ nghệ đã trang bị được một số máymóc, có loại của nước ngoài, có loại sản xuất trong nước, có loại do thợ ở địaphương tự trang,tự chế.Song việc sử dụng máy, các hoá chất mới,một số vậtliệu mới hoặc một số biện pháp gia công kỹ thuật mới vào sản xuất còn tuỳtiện, không đồng bộ nên không làm chuyển biến được cơ bản công nghệ sảnxuất

1.3.7 Xu thế phát triển và các điều kiện trong và ngoài nước ảnh hưởng tới

sự phát triển của nghề và làng nghề

a.Xu thế phát triển và các điều kiện trong nước.

Với vị thế là thủ đô, Hà Nội chịu sự chi phối ảnh hưởng của xu thế phát triển của

cả nước nói chung và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ nói riêng

Cụ thể bao gồm một số nội dung chủ yếu sau đây:

- Nâng GDP năm 2010 lên ít nhất gấp đôi năm 2000.Nâng cao rõ rệt sức cạnhtranh và hiệu quả của sản phẩm,doanh nghiệp và nền kinh tế.Tích luỹ nội bộnền kinh tế đạt trên 30% GDP.Nhịp độ tăng xuất khẩu đạt trên 2 lần so vớitốc độ tăng GDP; giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp còn khoảng 50%

Trang 19

- Nâng lên đáng kể chỉ số HDI; giảm tốc độ tăng dân số xuống còn 1,1%, giảiquyết việc làm ở thành thị và nông thôn;nâng tỷ lệ lao động qua đào tạonghề lên 40%;giảm tỷ lệ thất nghiệp đô thị xuống còn 5%.

- Phát triển khoa học công nghệ đủ khả năng ứng dụng công nghệ hiện đạitiếp cận trình độ thế giới và tự phát triển thêm một số lĩnh vực như côngnghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tựđộng hoá

- Kết cấu hạ tầng được phát triển đi trước một bước đáp ứng tốt yêu cầu pháttriển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng

- Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN cùng với nhiều thành phầnkinh tế, nhiều hình thức sở hữu, kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, kinh

tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vữngchắc

- Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng hệ thống pháp luật, chiến lược và quyhoạch, sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phươngpháp quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, giải phóng sứcsản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục các mặt tiêu cực của

cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động

- Thủ đô Hà Nội- trung tâm đầu não về chính trị, trung tâm lớn về kinh tế vănhoá và khoa học kỹ thuật-trái tim của cả nước là nơi rất nhạy cảm, chắc chắnhơn đâu hết chịu những tác động to lớn, đồng thời có những đóng góp tích cựcvào tiến trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước

-Xu thế phát triển kinh tế-xã hội của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ được thể

hiện trong quy hoạch vùng trọng điểm kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, trong đó HàNội là trung tâm

+ Tăng GDP của toàn vùng chiếm 18-19% GDP của cả nước vào năm2010.Nhịp độ tăng GDP cao gấp 1,2-1,3 lần so với mức trung bình của cảnước.Đảm bảo hiệu quả và tính bền vững trong phát triển kinh tế

+ Giá trị xuất khẩu tăng với nhịp độ 20% và chiếm khoảng 30% so với tổngkim ngạch xuất khẩu cả nước

+ Bảo đảm tốt môi truờng sinh thái, nâng cao đờI sống vật chất và tinh thầncho nhân dân.Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 50%

+ Phát triển các chùm đô thị vệ tinh có bán kính cách thủ đô Hà Nội 30-60km.Ngoại thành Hà Nội cần duy trì phát triển công nghiệp sạch, tiểu thủ công

Trang 20

nghiệp truyền thống nhằm hạn chế ảnh hưởng tới môi trường và hấp dẫn dulịch.

b Xu thế và các điều kiện ngoài nước:

-Xu thế tòan cầu hóa, khu vực hóa và hội nhập:

Bước sang thiên niên kỷ mới, theo các nhà dự báo quốc tế, quốc tế hóa vàkhu vực hóa sẽ vẫn là xu thế đặc trưng nhất thúc đẩy các quốc gia liên kết chặtchẽ với nhau trong một hệ thống kinh tế tòan cầu nhằm xóa bỏ hầu hết hàngrào thuế quan và phi thuế quan;chuyển dịch một cách thông thoáng hànghóa,vốn đầu tư, tiền tệ, dịch vụ, công nghệ và lao động giữa các quốc gia vớiquy mô ngày càng lớn.Tiêu biểu nhất của quá trình toàn cầu hóa là sự bùng nổ

tự do hóa thương mại toàn cầu với sự hoạt động ngày càng tăng của giám sát,phối hợp,dàn xếp lịch trình cắt giảm thuế quan…tạo điều kiện cho phát triểnkinh tế quốc tế…

Cùng với xu thế quốc tế hóa, xu thế khu vực hóa ngày càng phát triển.Khuvực hóa tập hợp những quốc gia trong từng khu vực với những mục đích đadạng và hình thức phong phú, góp phần thúc đẩy tự do hóa thương mại, đầu

tư, dịch vụ trong phạm vi khu vực cũng như giữa các khu vực , tạo lập nhữngkhu vực rộng lớn với một chính sách tài chính tiền tệ, công nghệ, thị trườngthống nhất, giúp cho các quốc gia thành viên tiết kiệm chi phí, tạo môi trườngkinh doanh có hiệu quả, dàn xếp các mối bất đồng trong khu vực bằng conđường đối thoại, tạo lợi thế cho từng quốc gia trong hợp tác và cạnh tranh trênthị trường quốc tế.Khu vực hoá là bước đi cần thiết cho mỗi quốc gia tiến tớitòan cầu hóa, đồng thời nó cũng giúp họ ứng phó với những bất lợi của xu thếtòan cầu hóa và với sự chi phối của các siêu cường: Châu Á với hiệp hội cácnước đông Nam Á, châu Mỹ với khối mậu dịch tự do, châu Âu với khối liênminh đang được hoàn thiện và ngày càng bền vững

Xu thế quốc tế hóa và khu vực hóa của các nước đang phát triển thườnggắn với “ hội nhập quốc tế” Quốc tế hóa sẽ đem lại những cơ hội mới choviệc mở rộng thị trường, truyền bá công nghệ và kỹ năng quản lý, những yếu

tố này sẽ hứa hẹn những năng suất lớn hơn và mức sống cao hơn.Tuy vậy,song hành với những cơ hội của quốc tế hóa là những thách thức vô cùng khókhăn.Đó là khả năng mất việc làm trước sự cạnh tranh của hàng nhậpkhẩu;các ngân hàng và hệ thống tài chính, thậm chí cả toàn bộ nền kinh tế cóthể bị chèn ép và lâm vào hoàn cảnh suy thoái vì các luồng vốn nước ngoài

tràn vào khống chế chúng….Trong bối cảnh quốc tế hóa “ các nuớc đang phát

Trang 21

triển đang phải chịu rủi ro ghê gớm khi bị tự do hóa nền kinh tế của mình quá nhanh hoặc phải tham gia” quốc tế hóa” một cách thiếu cân nhắc và thiếu suy xét”

Sự hợp tác kinh tế Việt Nam với kinh tế thế giới đã đặt ra vấn đề phải giaolưu văn hóa, hợp tác khoa học kỹ thuật trên cơ sở ổn định chính trị.Sự kết hợpchặt chẽ ba nội dung và hỗ trợ lẫn nhau đã trở thành chất xúc tác tạo nên mốiquan hệ quốc tế đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung Thế giới đangtiến tới nền kinh tế mới- nền kinh tế dựa vào tri thức.Đây thực sự là thách thứcđối với nền khoa học và công nghệ ở nước ta nói chung và Hà Nội nói riêngtrong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Nội những năm gần đây

-Nghề kim khí: như rèn Xuân Phương, Tây Mỗ ( Từ Liêm), Dục Tú( Đông Anh)-Nghề sản xuất dược liệu: gắn với tên làng nghề Ninh Hiệp( Gia Lâm)

-Nghề sản xuất diêm:Đình xuyên( Gia Lâm)

-Nghề dát quỳ vàng: là nghề tồn tại lâu năm của làng nghề truyền thống Kiêukỵ( Gia Lâm)

-Nghề đúc đồng:gắn liền với làng Ngũ Xã, tuy nhiên hiện nay đã bị mai một-Nghề Kim Hoàn: còn tồn tại quy mô nhỏ tại Hàng Bạc( Hòan Kiếm)

2.1.1.Về số lượng và phân bố

Trang 22

Theo số liệu Điều tra nghề và làng nghề Hà Nội cuối năm 2005 của nhóm chuyêngia viện nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội, hiện nay có 30 xã có nghề tiểu thủcông nghiệp, trong đó có 10 làng nghề có lịch sử hình thành trên 100 năm, 14làng nghê lịch sử từ 30-100 năm và 6 làng nghề mới hình thành.

Bảng 4: Phân loại các làng nghề truyền thống và làng nghề mới ở ngoại

thành Hà Nội

nghề

Phân loại nhóm làng nghề 1.Gia lâm

Trang 23

A: Làng nghề truyền thống có khả năng phát triển mạnh

B: làng nghề truyền thống đang gặp khó khăn trong phát triển

C: Các làng nghề mới là hệ quả tích cực từ các làng nghề truyền thống lân cận và khả năng phát triển

D: làng nghề có nguy cơ gây ô nhiễm cao

*Các làng nghề truyền thống có khả năng phát triển mạnh:

Các làng nghề thuộc nhóm này là các làng nghề đã có lịch sử nghề hàng trămnăm, đa số là các làng sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ trải qua nhiều thăng trầmthời cuộc nhưng vẫn duy trì và phát triển đuợc sản xuất tương đối thuận lợi.Trongcác sản phẩm nghề vẫn duy trì đc các nét đặc trưng truyền thống

+ Nhóm nghề gốm sứ:Làng nghề gốm Bát Tràng là làng nghề truyền thống với

hơn 600 năm hình thành và phát triển, đã trải qua nhiều thăng trầm và đến nayvẫn phát triển mạnh mẽ.Sản phẩm của làng rất có uy tín không những tại Hà Nội

Trang 24

mà khắp cả nuớc, và bước đầu có uy tín trên một số nước khu vực và ChâuÁ.Hiện nay 100% dân cư trong làng đều tham gia sản xuất gốm sứ với nhiềuthành phần kinh tế với nhiều thành phần kinh tế như: hộ sản xuất, doanh nghiệptưnhân, công ty TNHH.Những sản phẩm chính của làng Bát Tràng là sản phẩmmang tính văn hoá cao, nhưng số lượng sản xuất lại chưa nhiều, không có nhữngsản phẩm tiêu dùng mang tính đại trà và hiện nay giá thành của các sản phẩm lạitương đối cao

+ Nhóm nghề gỗ: đó là hai làng nghề nổi tiếng của huyện Đông Anh là Vân Hà

và Liên Hà với nghề truyền thống là sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ , nay có thêm nghềmới là gỗ phun sơn.Sản phẩm của làng có uytín và có thị truờng trong nước, thậmchí đã xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.Làng nghề có nhiều thợ có tay nghềcao và tỷ lệ số thợ trong làng nghề ngày một nhiều với sản phẩm ngày một nhiềuvới sản phẩm ngày càng phong phú, đa dạng và chất lượng cao.Tuy nhiên việcxúc tiến thương mại, chủ động trong các giao mua bán sản phẩm của làng cònyếu

+ Nhóm sản xuất dược liệu: Làng dược liệu Ninh Hiệp( Gia Lâm) với loại hình

sản phẩm đặc thù là chế biến dược liệu, làng nghề Ninh Hiệp đã tồn tại và pháttriển mạnh qua nhiều thời kỳ.Hiện nay thị trường tiêu thụ sản phẩm dược liệu rấtlớn, riêng ở Hà Nội đã có một dãy phố tiêu thụ sản phẩm của làng đó là dãy phốLãn Ông.Tuy nhiên việc quản lý chất lượng sản phẩm đang là vấn đề cần đặt rađối với làng nghề này

+ Nhóm nghề dệt may

Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp may hiện đại, taị Hà Nộivẫn còn tồn tại một số làng nghề may truyền thống như làng may Cổ Nhuế( TừLiêm), may da Kiêu Kỵ( Gia Lâm).Với lợi thế là các hộ sản xuất nhỏ, các làngnghề may đã nhạy bén, linh hoạt theo yêu cầu của thị trường may mặc nên trongnhững năm qua các làng nghề may đã phát triển tương đối mạnh.Các làng nghềmay hiện nay đang phát triển theo xu hướng nhận may gia công cho các công tylớn trên địa bàn.Tuy nhiên hiện nay các làng nghề may đứng trước mối nguy cơmất dần diện tích sản xuất do tốc độ đô thị hóa trên địa bàn này trong những nămgần đây diễn ra rất nhanh

Trang 25

+ Các làng nghề sản xuất các sản phẩm vàng mã: Làng Vạn Phúc( Thanh Trì) là

một làng nghề làm vàng mã nổi tiếng từ xưa.Hiện nay,sản phẩm của làng đượctiêu thụ khá mạnh trên thị trường Hà Nội và 1 số thị trường các tỉnh lân cận

*Các làng nghề truyền thống nhưng đang gặp khó khăn trong phát triển:

+Làng nghề sản xuất các sản phẩm từ tre nứa, rổ, rá: gặp khó khăn trong vấn đềđầu ra, vốn cho sản xuất

+Nghề dát vàng Kiêu kỵ( Gia Lâm): hiện làng nghề đang bị mai một, thị trườngtương đối hẹp, thu nhập không cao nên người dân dần chuyển sang nghề khác+Nghề đúc đồng Ngũ Xã( Ba Đình): do tốc độ đô thị hóa nhanh nên hầu hếtngười dân làng không sản xuất đồng nữa, nghệ nhân không còn người để truyềnnghề

+Nghề chế biến lương thực, thực phẩm: làng bún Phú Đô, Mễ trì, Yên Viên…trước sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong chế biến thực phẩm, sản phẩmđược sản xuất hàng loạt, chất lượng cao, mẫu mã đẹp chiếm hầu hết thị trườnglàm các sản phẩm truyền thống chỉ có thể tiêu thụ ở thị trường nông thôn và thịtrường thu nhập thấp

*Các làng nghề mới là hệ quả tích cực từ các làng nghề truyền thống lân cận và khả năng phát triển

+Làng nghề gốm sứ Đa Tốn,Kim Lan( Gia Lâm): hai làng liền kề với làng nghềtruyền thống Bát Tràng.Hiện naynghề sản xuất gốm sứ đang phát triển mạnh tại 2làng và đem lại hiệu quả kinh tế-xã hội cao

+Làng nghề Dục Tú( Đông Anh): là địa phương liền kề với nhiều làng nghềtruyền thống như làng nghề gỗ Liên Hà, Vân Hà, làng nghề sắt thép Đa Hội( TừSơn Bắc Ninh), hiện nay hai nghề Gỗ và sắt thép đã hình thành và đang phát triểntại làng nghề Dục Tú

+Phố nghề may khu vực Sài Đồng( Gia Lâm): Ra đời trong cơ chế thị trường,ban đầu ở quy mô các hộ gia đình vốn là công nhân nhà máy may 10, sau pháttriển mạnh với quy mô lớn và trở thành khu vực có nghề may thủ công nghiệp

*Một số làng nghề, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường:

+Làng nghề rèn Xuân Phương( Từ Liêm): do đặc điểm sản xuất xen lẫn khu dân

cư nên vấn đề môi trường tiếng ồn đang đặt ra cần được giải quyết sớm với làngnghề này.Hiện nay tốc độ đô thị hóa nhanh, mặt bằng sản xuất của làng nghềbị

Trang 26

thu hẹp một cách đáng kể.Chất thải mạ kim loại được thải cùng với nước sinhhoạt gây ô nhiễm môi trường cao.

+làng nghề sản xuất gốm sứ Bát Tràng: hầu như tất cả các hộ gia đình đều có lònung gốm , sứ, và trước đây chủ yếu đốt bằng than, nên khói, khí, bụi độc hại ảnhhưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân, lượng khí CO, SO2 trong khói lò quámức cho phép rất nhiều lần, gây bệnh về hô hấp rất nguy hiểm.Hiện nay, nhiều

hộ đã đầu tư xây dựng lò ga nên giảm bớt ô nhiễm, tuy nhiên mức phí để xâydựng lò ga khá lớn, nên hiện vẫn còn rất nhiều hộ đốt lò than, và tình trạng ônhiễm môi trường vẫn chưa được khắc phục

+Các làng nghề sản xuất luơng thực, thực phẩm: với chất thải chủ yếu là các chấthữu cơ, không có hệ thống thu gom rác thải gây nên tình trạng ôm nhiễm

+làng nghề đồng nát, lông vũ, dệt sợi Tân Triều, nghề phun sơn ở Liên Hà, VânHà( Đông Anh)…đều có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng trực tiếpđến sức khỏe người lao động

- Hầu hết các nghề hiện nay được phát triển chủ yếu dưới hình thức hộ cáthể

Bảng 5:Số lượng hộ TTCN cá thể Hà Nội 2001-2005

Nguồn: sở công nghiệp HN

Số lượng hộ TTCN cá thể có đặc điểm là ít biến động hơn so với các loại hình

cơ sở công nghiệp khác.Trong khi giai đọan này các loại hình Dntheo LuậtDoanh nghiệp như DNTN tăng 5 lần, Cty TNHH và Cty Cổ phần tư nhân tănggấp 4 lần…

Bảng 6: Phân bố cơ sở công nghiệp vừa và nhỏ theo địa bàn

Trang 27

( Long Biên và Hoàng Mai chung vào Thanh Trì, Hai Bà Trưng và Gia lâm

Nguồn: Sở công nghiệp Hà Nội 2003

Nếu như các Dn công nghiệp lớn tập trung nhiều vào các cụm công nghiệp

cũ nội thành và một số khu vực công nghiệp mới ví dụ như cụm công nghiệpđường Minh Khai-Hai Bà Trưng, đường Nguyễn Trãi-Thanh Xuân, quốc lộ 1a-Thanh Trì, khu công nghiệp mới Sài Đồng B-Gia Lâm; thì các hộ TCN cá thể tậptrung nhiều ở khu vực các huyện ngoại thành

Do phân bố rộng đến tận thôn xã ngõ xóm và sản xuất ngay tại gia đình,các

hộ TTCN cá thể có khả năng tận dụng tốt hơn nguồn lực tại chỗ trên địa bànphường xã bao gồm đất đai, lao động, nguồn vốn trong dân, tạo ra sự phát triểnđồng đều giữa quận và huyện, phường và xã, giảm khỏang cách về thu nhập giữangười dân ở các vùng.Như vậy, các hộ TTCN cá thể gắn bó mật thiết với địa bàndân cư hơn so với các loại hình DN lớn

Các hộ TCN cá thể có đăng kí kinh doanh còn rất thấp, mới chỉ chiếm từ 30-40%

số hộ và lẽ dĩ nhiên là số hộ có nộp thuế cho Nhà nước cũng rất thấp, chủ yéumới dừng ở mức thuế môn bài

-Lao động CN-TTCN : năm 2004 tổng số lao động CN-TTCN khu vực ngoàidoanh nghiệp nhà nước thuôch 5 huyện là hơn 40000 nguờI chiếm 5,3% lao độngngoại thành.Những huyện có làng nghề phát triển thì số lao động có việc làmtheo nghề tăng nhanh: Gia Lâm tăng 23%, Sóc Sơn tăng 27%

Bảng 7:Phân bố lao động trong một số làng nghề Hà Nội năm 2005

Đơn vị tính: người

Trang 28

TT Tên huyện xã Các nghề

thuộc nông – lâm nghiệp

Các nghề thuộc CN- XD-TTCN

Các nghề thuộc DV- TM

Nghề TTCN chính của làng

I Huyện Gia Lâm

(Nguồn:Khảo sát của viện nghiên cứu pt KT-XH, tháng 10/2003)

2.1.2.Giá trị , ngành nghề và sản phẩm sản xuất kinh doanh

Giá trị sản xuất tính theo giá cố định 1994 của khu vực TTCN cá thể năm 2005đạt 1069503 triệu đồng, chiếm 24,77% giá trị sản xuất công nghiệp dân doanhthành phố, đứng sau khu vực XN, Cty tư nhân( chiếm 67,83%) và đứng trên khuvực HTXTCN( chiếm 7,3%).Từ năm 1997 trở lại đây khu vực TTCN cá thể đạt

Trang 29

tốc độ tăng bình quân 7,6% năm, trong khi khu vực Xn, cty tư nhân tăng 35,2%năm, khu vực HTXTCN tăng 26,5%

Bảng 8: Kết quả giá trị sản xuất của khu vực tiểu thủ công nghiệp cá thể

trên địa bàn Hà Nội

Đơn vị tính: triệu đồng

Nguồn: Sở công nghiệp Hà Nội-Cục thống kê Hà Nội 2005

Đánh giá chung từ năm 2002 đến 2005, tuy tỷ lệ đóng góp của GTSX TTCNtrong GDP Thành phố có giảm từ 2,81% xuống còn 2,23%, song giá trị tuyệt đối

có sự tăng trưởng đáng kể 11,9%.Điều đó khẳng định vai trò của phát triển nghềTTCN trong những năm gần đây ở Hà Nội nói chung và khu vực ngoại thành nóiriêng đã thấy rõ tính hiệu quả của phát triển nghề so với nông nghiệp

Dù có quy mô rất nhỏ nhưng khu vực hộ TTCN cá thể tham gia vào 23 ngànhnghề, chiếm gần như tất cả các ngành nghề công nghiệp, chỉ trừ một số ít ngànhnghề Nhà nước độc quyền như sản xuất than cốc, dầu mỏ, thuốc lá, điện,nuớc… với trên 300 chủng loại sản phẩm khác nhau.Những ngành nghề có nhiều

hộ TTCN cá thể cùng tham gia là chế biến thực phẩm và đồ uống trên 4000 hộ,may đo trên 2500 hộ, gốm sứ 1800 hộ, cơ khí nhỏ trên 2000 hộ…Các ngành nghề

có ít hộ TTCN cá thể tham gia là lắp ráp điện tử, sản xuất dụng cụ y tế, sản xuấtphương tiện vận tải

Bên cạnh các làng nghề tập trung hàng trăm hộ sản xuất cùng một ngành hàng,sản phẩm.Trên địa bàn Hà Nội còn có 150 cụm ngành nghề chuyên ngành TTCNtrong địa bàn phuờng,xã có quy mô từ 10 hộ sản xuất TTCN trở lên.Liên kết vớinhau theo hình thức cụm ngành nghề, các hộ sản xuất sẽ hạn chế được tính nhỏ lẻcủa từng hộ, đồng thời vẫn phát huy tính năng động, linh hoạt mà không rơi vàotình trạng cồng kềnh, nặng nề của sản xuất tập trung.Sự liên kết này thúc đẩy sựhình thành và gắn bó chặt chẽ các hộ chuyên môn hóa như hộ cung ứng, hộ sảnxuất, hộ bao tiêu…làm năng suất và hiệu quả nâng cao rõ rệt

Bảng 9:Giá trị sản xuất của các ngành tại các làng nghề

Đơn vị tính: triệuđồng

Trang 30

thuộc nông-lâm nghiệp

thuộc XD- TTCN

CN-thuộc TM

DV-TTCN chính của làng

I Huyện Gia Lâm

(Nguồn:Tổng hợp từ kết quả khảo sát làng nghề của viện nghiên cứu pt KT-XH tháng 10/2003)

Theo kết quả khảo sát trên các nghề trong làng nghề chiếm giá trị sản xuất rấtlớn, đặc biệt tại các làng nghề đang phát triển mạnh như Bát Tràng, Liên Hà, VânHà

so với các thành phần kinh tế khác, kể cả HTX và các doanh nghiệp tư nhân

Quy mô vốn đầu tư khu vực TTCN cá thể có sự cách biệt khá lớn theongành nghề và mặt hàng cụ thể, ví dụ cùng là ngành gỗ mây tre vốn bình quân là

Trang 31

7,4 triệu đồng nhưng vốn đầu tư cho nghề làm nón chỉ có 50 nghìn đồng/1hộ,nghề đan phên nứa là 3 triệu đồng/hộ, nghề mộc là 18 triệu đồng/hộ

Vốn đầu tư của khu vực TTCN cá thể cũng có sự khác biệt giữa khu vựcnội thành và ngoại thành.Vd bình quân vốn đầu tư của TTCN cá thể của huyệnSóc Sơn là 8 triệu đồng/hộ trong khi của quận Hai Bà Trưng là 20 triệu đồng/hộ

Số lao động khu vực hộ TTCN cá thể năm 2005 là 53387 người ( chiếm khoảng 21% so với tổng số lao động trong ngành công nghiệp toàn thành phố).Trong đó

quận huyện có nhiều lao động TCN cá thể là Gia Lâm trên 20 nghìn người, Hai

Bà Trưng trên 14 nghìn người, Đông Anh 11 nghìn người, Tây Hồ 2000 người….Quy mô lao động khu vực TTCN cá thể của toàn thành phố là 3 lao động/hộ, nhưvậy quy mô này rất thấp so với các loại hình doanh nghiệp khác như HTXTCN

37 lao động/HTX, cty tư nhân 49 lao động/công ty

Khả năng thu hút lao động của TTCN cá thể cũng có sự cách biệt theongành nghề và mặt hàng cụ thể; quy mô lao động cũng có sự khác biệt giữa nộithành và ngoại thành

2.1.4.Công nghệ, kỹ thuật, mặt bằng sản xuất, hạ tầng kỹ thuật

Trong công nghệ sản xuất hàng hóa của làng nghề có thể chia ra làm 2 loại sau:-Một số công đoạn sản xuất được thực hiện theo phương pháp thủ công,không thể thay thế bằng máy móc.Đối với các nghề này việc đào tạo nghề có ảnhhưởng rất lớn đến trình độ kỹ thuật sản xuất.Tại các làng nghề hiện nay công tácđào tạo nghề vẫn chủ yếu theo hình thức cha truyền con nối , đặc biệt là những bíquyết riêng.Do hạn chế về đào tạo nên trình độ kỹ thuật nói chung của thợ sảnxuất tại các làng nghề hiện nay không cao

-Đối với những công đọan sản xuất có sự tham gia của máy móc:Với mỗilàng nghề nhu cầu sử dụng máy móc trong quá trình sản xuất khác nhau.Nhómnghề sử dụng số lượng máy móc nhiều nhất là dệt may, gốm sứ, sắt thép

Trong những năm qua, nhiều cơ sở đã tập trung đầu tư vào đổi mới quytrình công nghệ,thay thế nhiều công đoạn sản xuất thủ công bằng sản xuấtmáy,tốc độ công nghiệp hóa diễn ra rất nhanh tại các cơ sở sản xuất trên quy môlớn.Trong ba năm trở lại đây, qua điều tra chọn mẫu 205 hộ tại 6 xã có nghề TCNphát triển của sở CN Hà Nội cho thấy có tới 42,43% số hộ cho biết đã đầu tư thiết

bị máy móc mới, điển hình là Liên Hà 24/35 hộ, Vân Hà 25/40 hộ, Tân Triều22/27 hộ

Bảng 10:Số lượng các thiết bị phục vụ sản xuất tại các làng nghề

Đơn vị:Chiếc

TT Tên huyện,xã Thủ công Đơn giản Trước năm 90 Hiện đại

I Huyện Gia Lâm

Trang 32

(Nguồn:viện nghiên cứu phát triển kinh tế)

- Mặt bằng sản xuất là một mối quan tâm lớn của các đơn vị sản xuất tại làngnghề.Từ xưa đến nay, các hộ sản xuất đều tận dụng diện tích đất ở của gia đình

để làm cơ sở sản xuất.Hiện nay diện tích sản xuất của các cơ sở tại một số làngnghề vẹn nội rất chật hẹp, đặc biệt là làng nghề dệt may như Tân Triều, Cổ Nhuế,khoảng cách giữa các máy sản xuất, giữa công nhân đều bị thu hẹp chỉ còn tốithiểu so với yêu cầu( 0,5m thay vì 2m)

Bảng 11:Số lượng nhà xưởng và nhu cầu mặt bằng sản xuất tại một số làng

nghề

Trang 33

TT Tên huyện xã Số lượng nhà

xưởng hiện có

Số lượng nhà xưởng đạt yêu cấu sản xuất

Tổng diện tích cần để sản xuất(m2)

Tổng diện tích hiện có(m2)

(nguồn: viện nghiên cứu phát triển kinh tế xã hộiHN)

Theo điều tra khảo sát, có đến 70% số nhà xưởng sản xuất không đáp ứng đượcyêu cầu sản xuất của các hộ sản xuất tại làng nghề.Tại một số làng nghề lớn nhưBát Tràng, nhu cầu về mặt bằng sản xuất của mỗi hộ sản xuất là 500m2 /hộ và2000m2/công ty nhưng hiện nay chỉ có khoảng 200m2/hộ và 500-700m2/1 công

ty, với 1245 hộ sản xuất và 39 tổ chức sản xuất, Bát Tràng hiện còn thiếu khoảng400000m2…

-Đánh giá về hạ tầng kỹ thuật tại các làng nghề:Trong những năm qua,hạ tầng kỹthuật tại khu vực ngoại thành nói chung và các làng nghề nói riêng đã được đầu

tư xây dựng rất nhiều.Vốn đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng ngoại thành Hà Nộingày càng cao.Đã có 70% đường liên xã, liên thôn được rải nhựa, bê tông, nhờ đó

mà giao thông được đảm bảo, kể cả vào mùa mưa lũ.100% số thôn và 100% số

hộ đã có điện từ điện lưới quốc gia đạt tiêu chí lưới điện nông thôn.Có 23,19% số

cơ sở đánh giá hệ thống giao thông nông thôn là thuận lợi, 41% đánh giá hệ

Trang 34

thống này là bình thường, có 35,75% đánh giá là không thuận lợi Tuy nhiên mứcđầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tại các làng nghề vẫn đại trà như các làng nôngthôn khác ở ngoại thành Hà Nội, chưa tính đến việc sản xuất tiểu thủ công nghiệptại các làng này.

*Đánh giá về thị trường:

-Thị trường đầu vào:Nguyên vật liệu cho sản xuất nghề và làng nghề với khốilượng lớn rất đa dạng.Ví dụ như Bát Tràng hàng năm cần 60000 tấn đất caolanh.Vân Hà cần trên 1000m3 gỗ, Kiêu Kỵ cần 120 tấn vải giả da Những nămgần đây, tại các làng nghề phát triển đã hình thành các tổ chức chuyên khai thác

và cung ứng vật tư nguyên liệu như: Bát Tràng, Liên Hà, Vân Hà Tại Đông Anh,Gia Lâm, Thanh Trì có tới 50,33% nguyên liệu vật tư chào bán tại cơ sở,số tựkhai thác chỉ chiếm 17,22%, số mua của các DN Nhà nước là 13,91% làm giacông cho các cơ sở khác là 5,63%.Tuy nhiên vẫn còn một số lượng đông làngnghề không tìm được nguồn nguyên liệu ổn định lâu dài như làng tre trúc XuânThu, làng dệt, tái chế long vũ…

Tuy vậy, các làng nghề chưa chú ý đến việc tạo một thị trường nguyên liệu ổnđịnh lâu dài.Các làng nghề chưa có nguồn cung ứng nguyên liệu đảm bảo chấtlượng ổn định.Hiện nay nguyên liệu chủ yếu dựa vào khai thác tự nhiên, hoặc cácphế thải dân dụng khác

có mức độ chi tiêu cao hơn

Thị trường thế giới:một lượng lớn người tiêu dùng , khách hàng ở các nướcChâu Âu, Bắc Mỹ, Nhật bản và các nước công nghiệp mới châu Á đang hướngđến những sản phẩm mang tính dân tộc, tính nghệ thuật cổ truyền dân gian

Duới tác động của những tiến bộ khoa học kỹ thuật, trên thế giới và nhất là ở cácnước công nghiệp phát triển đang diễn ra một số thay đổi có tính cách mạng vềthiết kế và thị hiếu mới của người tiêu dùng.Tin học hóa những chất liệu mới đãlàm cho việc sản xuất ra sản phẩm rẻ hơn, có hiệu quả hơn và chất lượng cũng tốthơn.Chức năng của sản phẩm đang bị gạt sang một bên, hình thức mới được chú

Ngày đăng: 18/12/2012, 13:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân năm thời kỳ 1991-2000 và - Một số Giải pháp cho đầu tư phát triển làng nghề truyền thống ở Hà Nội đáp ứng yêu cầu hội nhập
Bảng 1 Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân năm thời kỳ 1991-2000 và (Trang 13)
Bảng 3: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinh tế - Một số Giải pháp cho đầu tư phát triển làng nghề truyền thống ở Hà Nội đáp ứng yêu cầu hội nhập
Bảng 3 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinh tế (Trang 14)
Bảng 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành - Một số Giải pháp cho đầu tư phát triển làng nghề truyền thống ở Hà Nội đáp ứng yêu cầu hội nhập
Bảng 2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành (Trang 14)
Bảng 4:  Phân loại các làng nghề truyền thống và làng nghề mới ở ngoại - Một số Giải pháp cho đầu tư phát triển làng nghề truyền thống ở Hà Nội đáp ứng yêu cầu hội nhập
Bảng 4 Phân loại các làng nghề truyền thống và làng nghề mới ở ngoại (Trang 22)
Bảng 5:Số lượng hộ TTCN cá thể Hà Nội 2001-2005 - Một số Giải pháp cho đầu tư phát triển làng nghề truyền thống ở Hà Nội đáp ứng yêu cầu hội nhập
Bảng 5 Số lượng hộ TTCN cá thể Hà Nội 2001-2005 (Trang 26)
Bảng 7:Phân bố lao động trong một số làng nghề Hà Nội năm 2005 - Một số Giải pháp cho đầu tư phát triển làng nghề truyền thống ở Hà Nội đáp ứng yêu cầu hội nhập
Bảng 7 Phân bố lao động trong một số làng nghề Hà Nội năm 2005 (Trang 27)
Bảng 10:Số lượng các thiết bị phục vụ sản xuất tại các làng nghề - Một số Giải pháp cho đầu tư phát triển làng nghề truyền thống ở Hà Nội đáp ứng yêu cầu hội nhập
Bảng 10 Số lượng các thiết bị phục vụ sản xuất tại các làng nghề (Trang 31)
Bảng 11:Số lượng nhà xưởng và nhu cầu mặt bằng sản xuất tại một số làng - Một số Giải pháp cho đầu tư phát triển làng nghề truyền thống ở Hà Nội đáp ứng yêu cầu hội nhập
Bảng 11 Số lượng nhà xưởng và nhu cầu mặt bằng sản xuất tại một số làng (Trang 32)
Hình 1: Đặc điểm độ tuôi lao động tham gia sản xuất nghề chính tại làng  nghề - Một số Giải pháp cho đầu tư phát triển làng nghề truyền thống ở Hà Nội đáp ứng yêu cầu hội nhập
Hình 1 Đặc điểm độ tuôi lao động tham gia sản xuất nghề chính tại làng nghề (Trang 36)
Bảng 14: Chênh lệch thu nhập của các lao động làm nghề so với lao động - Một số Giải pháp cho đầu tư phát triển làng nghề truyền thống ở Hà Nội đáp ứng yêu cầu hội nhập
Bảng 14 Chênh lệch thu nhập của các lao động làm nghề so với lao động (Trang 37)
HÌNH 2: Trình độ tay nghề của các lao động làm nghề tại làng nghề - Một số Giải pháp cho đầu tư phát triển làng nghề truyền thống ở Hà Nội đáp ứng yêu cầu hội nhập
HÌNH 2 Trình độ tay nghề của các lao động làm nghề tại làng nghề (Trang 37)
Bảng 17 :Uớc tính các nguồn đầu tư vốn của các cơ sở sản xuất nghề chính - Một số Giải pháp cho đầu tư phát triển làng nghề truyền thống ở Hà Nội đáp ứng yêu cầu hội nhập
Bảng 17 Uớc tính các nguồn đầu tư vốn của các cơ sở sản xuất nghề chính (Trang 39)
Bảng 18 :Vốn đầu tư ban đầu và suất đầu tư cho một chỗ làm việc trong một - Một số Giải pháp cho đầu tư phát triển làng nghề truyền thống ở Hà Nội đáp ứng yêu cầu hội nhập
Bảng 18 Vốn đầu tư ban đầu và suất đầu tư cho một chỗ làm việc trong một (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w