MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH DỆT MAY NHẰM THOẢ MÃN TỐT HƠN NHU CẦU NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở NHÁNH VĂN HOÁ NGƯỜI KINH
Trang 1Lời giới thiệu
Ngày nay, khi đề cập đến bất bất kì một vấn đề gì, đặc biệt là trong lĩnhvực sản xuất kinh doanh và tiêu dùng Ngời ta cần phải quan tâm trớc hết
đến yếu tố con ngời về những đặc trng tâm lý của họ Các đặc trng nàykhông tách rời khỏi mối quan hệ với lẽ sống, nếp sống và chất lợng cuộcsống Hơn nữa, yếu tố sinh học trong mỗi con ngời là khác nhau tác độngcủa môi trờng xung quanh đến con ngời cũng khác nhau Điều này có ảnh h-ởng tới mọi hoạt động tiêu dùng của con ngời
Thực tế cho thấy, chất lợng cuộc sống chỉ đợc nâng cao hơn và pháttriển khi nó ngắn liền với lao động và tiêu dùng giao lu quốc tế Ngày nay,mỗi dân tộc dù phát triển hay đang phát triển trong đó có Việt Nam chúng ta
đều ví chất lợng cuộc sống nh là cái đỉnh, cái mục tiêu cần hớng tới Nói nhvậy không có nghĩa là chúng ta không quan tâm đến việc phát triển trình độcủa các dân tộc, trình độ dân chí, đạo đức, quan tâm đến nghiên cứu, thị hiếu
và thói quen luôn thay đổi của ngời Sản xuất không phải là mục đích tựthân, sản xuất để tiêu dùng muốn tiêu dùng phải sản xuất Sản xuất càngphát triển thì tiêu dùng càng gia tăng Sự đa dạng về phong phú về tiêu dùngtrong thời đại chúng ta đang trở thành động lực mạnh mẽ cho sự phát triểncha từng thấy cuả sản xuất Sự đa dạng và phong phú đó đợc bắt nguồn vừa
từ truyền thống, tập quán tiêu dùng của dân tộc vừa từ quá trình quốc tế hóa,
sự giao lu văn hoá và hội nhập các dân tộc Hơn bao giờ hết, hiện nay quátrình hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ, vì vậy chúng ta cần có phơng hớngphát triển đúng đắn nhu cầu và cách tiêu dùng nói chung để góp phần làm
đẹp cho chất lợng cuộc sống của mỗi con ngời
Đất nớc chúng ta đang thời kỳ phát triển, việc xác định xu hớng và tìm
ra những giải pháp để các ngành nghề kinh doanh trong đó có ngành dệt may
là cần thiết Do dới hạn về kiến thức về khả năng của mình mà nội dung đềtài của em không thể nghiên cứu riêng lẻ từng ngành nghề, từng ngời một đ-
ợc mà chỉ xét một cách tổng quát những nét duy nhất đặc trng tiêu biểu củanhánh văn hoá ngời kinh với hành vi tiêu dùng sản phẩm may mặc thuộcngành dệt may Qua đó, muốn tìm hiểu kỹ hơn và sâu hơn về thực trạngngành dệt may hiện nay nhằm đa ra một vài xu hớng biện pháp để có thể đangành dệt nớc ta phát triển hơn vững bớc trên con đờng hội nhập của thế kỷ21
Trang 2Ch ơng I Nhánh văn hoá ngời kinh và hành vi ngời
tiêu dùng của nhánh văn hoá này đối
ông về sự vô cùng tận của văn hoá thì đáng để chúng ta phải khám phá vàchiêm nghiệm Cha một ai có thể xác định đợc văn hoá xuất hiện từ khi nào?Vì vậy, việc đa ra đáp án cho câu hỏi đó mới là những dự đoán dựa trênnhững nghiên cứu khoa học của các nhà khảo cổ học Cũng nh cha có ai cóthể đa ra đợc một cách định nghĩa đầy đủ và chính xác nhất Vì vậy, đã córất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hoá Ngời ta đã từng định nghĩa vềvăn hoá nh sau: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinhthần, tĩnh và động, vật thể và phi vật thể…) do con ng) do con ngời tạo ra và tích luỹtrong quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tơng tác với môi trờng tự nhiên
và xã hội của mình Khái niệm này đợc xây dựng trên cơ sở 4 đặc trng củavăn hoá là tính nhân sinh, tính giá trị, tính hệ thống và tính lịch sử Đây lànhững đặc trng cần và đủ cho phép phân biệi văn hoá và những khái niệm cóliên quan Nó có khả năng bao quát rất nhiều các cách tiếp cận khác nhau,cách hiểu khác nhau về văn hoá mà còn có thể cho phép chúng ta nhận diệnmột hiện tợng văn hoá và phân biệt chúng với những hiện tợng không phải làvăn hoá Trong khái niệm này, có đề cập đến giá trị vật chất và tinh thần,theo đó ngời ta cũng chia văn hoá thành văn hoá vật chất và văn hoá tinhthần Văn hoá vật chất bao gồm toàn bộ những sản phẩm vật chất do hoạt
động sản xuất của con ngời tạo ra nh đồ ăn, đồ mặc, nhà cửa, đồ sinh hoạthàng ngày, công cụ sản xuất, phơng tiện đi lại…) do con ng Còn văn hoá tinh thần baogồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất tinh thần của con ngờisáng tạo ra nh t tởng, tín ngỡng, tôn giáo, nghệ thuật, lễ hội, phong tục, đạo
đức, ngôn ngữ, văn chơng…) do con ng Tuy nhiên, sự phân chia này mới nhìn tởng nhkhá rõ và hiển nhiên, song nhìn kĩ sẽ thấy xuất hiện hàng loạt trờng hợpphức tạp khó có thể phân biệt ví nh các hoạt động, các quan hệ sản xuất…) do con ngthì xếp vào văn hoá vật chất hay văn hoá tinh thần? Không ít các sử dụngsinh hoạt hàng ngày (bằng vật chất) lại có giá trị nghệ thuật rất cao (bằngtinh thần) ví dụ nh cái muôi múc canh thời Đông Sơn có gắn hình ngời ngồi
Trang 3thổi kèn, chiếc ngai vàng đợc chạm chỗ công phu; ngợc lại, các sản phẩmtinh thần thờng tồn tại dới dạng vật chất hoá ví nh pho tợng, quyển sách…) do con ngTrong thực tế, văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần luôn gắn bó mật thiếtvới nhau và có thể chuyển hoá cho nhau Không phải ngẫu nhiên mà CMácnói rằng: T tởng sẽ trở thành những lực lợng vật chất khi nó đợc quần chúnghiểu rõ Bởi vậy tuỳ theo những mục đích khác nhau, việc phân biệt văn hoávật chất và văn hoá tinh thần phải dựa vào các tiêu chí khác nhau Nhng dùvật chất hay tinh thần cũng phải đợc chuyển thành hiểu biết đợc mọi thànhviên trong cộng đồng văn hoá chia sẻ, những hiểu biết này sẽ chi phối cáchsinh hoạt, hoạt động ứng xử, giao tiếp của mỗi ngời trong cộng đồng Chúng
là căn cứ để đánh giá hành vi của ai đó có phù hợp với văn hoá cộng đồnghay không? Chúng cũng là nội dung của giáo dục văn hoá, là nội dungchuyển giao giữa các thế hệ đảm bảo cho tính đồng nhất, tính truyền thốngcủa một nền văn hoá nhất định
Có nhiều cách hiểu khác nhau về văn hoá, ngời ta có thể hiểu theonghĩa rộng hoặc theo nghĩa hẹp Văn hoá theo nghĩa hẹp đợc giới hạn theochiều sâu hoặc theo chiều rộng theo không gian hoặc theo thời gian…) do con ng Giớihạn theo chiều sâu văn hoá đợc hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếpsống văn hoá, văn hoá nghệ thuật), giới hạn theo chiều rộng văn hoá đợcdùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hóa giao tiếp, văn kinhdoanh) giới hạn theo không gian văn hoá đợc chỉ những giá trị đặc thù củatừng vùng (văn hoá Tây Nguyên, văn hóa Nam Bộ…) do con ng) giới hạn theo thời gianvăn hoá đợc dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá HoàBình, văn hoá Đông Sơn…) do con ng) theo nghĩa rộng văn hoá thờng đợc xem là tất cảnhững gì do con ngời sáng tạo ra
Hồ Chí Minh đã viết trong bản thảo nhật kí trong tù: “vì lẽ sinh tồncũng nh mục đích cuộc sống loài ngời đã sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ,
đạo đức, pháp luật khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụcho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phơng thức sử dụng sinh hoạtcùng với những biểu hiện của nó mà loài ngời đã sản sinh ra nhằm thích ứngnhững nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”
Cũng theo Federico Mayo TGĐ UNESCO đã viết trong tạp chí ngời đatin UNESCO (số 11 năm 1989) nh sau: “đối với một số ngời, văn hoá chỉgồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực t duy và sáng tạo, đối vớinhững ngời khác văn hoá chỉ gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khácvới dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất đến những phongtục tập quán tín ngỡng, lối sống và lao động”
Còn theo nghị quyết trung ơng bộ chính trị khoá VI đã nhấn mạnh: “vănhoá là nhu cầu thiết yếu trong đời sống tinh thần của xã hội, thể hiện trình độphát triển chung của một đất nớc, một thời đại, là lĩnh vực sản xuất tinh thầntạo ra những giá trị văn hoá những công trình nghệ thuật đợc lu truyền từ đờinày sang đời khác, làm giàu đẹp thêm cuộc sống con ngời” nh vậy, văn hoákhông phải là một hoạt động phi sản xuất, một lĩnh vực “ăn theo” các lĩnhvực hoạt động khác Càng ngày thế giới càng nhận ra rằng: Sự phát triển chỉthực sự bền vững nếu đặt trong nền tảng văn hoá, đời sống con ngời chỉ thực
Trang 4sự mang tính ngời nếu nó có đầy đủ một nguồn năng lợng tối thiểu là các giátrị văn hoá Nh vậy, xét đến cùng con ngời có nhu cầu về văn hoá không kémgì các nhu cầu vật chất và tơng lai nhu cầu về văn hoá (tức là hởng thụ tiêudùng văn hoá) sẽ còn tăng lên gấp bội.
Cho đến tận hôm nay, số lợng các định nghĩa về văn hoá đã có đến hàngtrăm, thậm chí có học giả còn cho rằng đã có trên một nghìn định nghĩa vềvăn hoá Những con số đợc nêu đều có những căn cứ nhất định về mặt thống
kê Các định nghĩa đang đợc sử dụng, trên thực tế, cũng vẫn là những địnhnghĩa có tính chất quy ớc nhằm đi tới một khái niệm thỏa thuận để tiện sửdụng Việc định nghĩa văn hoá vẫn xem nh là điều thách thức Những địnhnghĩa xuất phát từ những cách nhìn khác nhau tiếp tục xuất hiện
Nh vậy, văn hoá là một đối tợng của sự khảo cứu mà cái đợc biểu đạttrong đó, trong không ít trờng hợp, lại quá tinh tế hoặc quá xác định Kháiniệm văn hoá dùng để biểu đạt một tính chất (một thuộc tính, một khía cạnhmột phơng diện) tồn tại trong mọi sự vật hiện tợng, mọi quá trình…) do con ng có mốiliên hệ với con ngời, bất kể sự vật hiện tợng trong quá trình đó thuộc về vậtchất hay thuộc về t duy, cái gì đụng đến con ngòi tức là có ảnh hởng đến conngời hoặc đợc con ngời tìm hiểu, nhận thức tác động…) do con ng cũng đều có khíacạnh văn hoá trong nó
Nhợc điểm lớn nhất của nhiều định nghĩa về văn hoá lâu nay là ở chỗ coivăn hoá nh là là một phép cộng đơn thuần của những tri thức bộ phận Địnhnghĩa văn hoá trong các loại từ điển, các công trình nghiên cứu thờng mở
đầu bằng câu “văn hoá là một tập hợp hoặc một phức hợp của các giá trị…) do con ng”quan niệm cảm tính này là sản phẩm của lịch sử của thời kỳ chia tách vănhoá khi mà văn hoá cha đợc coi là một đối tợng khoa học độc lập
Kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài ngời cho thấy rằng: Chỉ hoạt độngtrong cái quỹ đạo của văn hoá, con ngời – cá thể và cộng đồng – mới cókhả năng trở thành chủ chân chính của hoàn cảnh Nói một cách khác, nếubiết chú ý một cách đúng mức đến vai trò của văn hoá trong việc khẳng định
đặc thù nhân tính của hoạt động ngời, thì hoàn cảnh – tự nhiên và xã hội –
có cơ may đợc bảo toàn trong quỹ đạo của cái văn hoá, có khả năng khôngbiến thành nơi bất hạnh của con ngời
Nh vậy, bản chất của văn hoá nằm ở thái độ và cách thức hoạt động củacon ngời Đó là hai mặt của một thuộc tính của mối quan hệ giữa con ngờivới thế giới bên trong và thế giới bên ngoài của nó Có thể hình dung thuộctính đó nh một lát cắt đi qua toàn bộ mối quan hệ phong phú và phức tạp củacon ngời và hiện thực
2 Các đặc trng tiêu biểu của nhánh văn hoá tiêu dùng ngời kinh
Nh đã đề cập ở trên , văn hoá vật chất bao gồm tất cả những gì do hoạt
động sản xuất của con ngời tạo ra trong quá trình sống và lao động Còn vănhoá tinh thần do toàn bộ hoạt động tinh thần của con ngời sáng tạo ra Trongmục này, chúng ta sẽ tìm hiểu một cách cụ thể hơn về các khái niệm này
a, Văn hoá vật chất :
Về nơi c trú, khảo cổ học cha tìm thấy một cách chắc chắn của các nềnnhà Nhng một số cho rằng đã có những ngôi nhà nhỏ cho gia đình và nhữngngôi nhà lớn cho sinh hoạt cộng đồng Nhà sàn là phổ biến, dựa vào nhữngdấu vết những thanh gỗ còn lại cũng nh các hình khắc trên trống đồng
Trang 5Về ăn uống, đã hình thành tập tục “ăn cùng mâm ngồi cùng chiếu”trong gia đình, mà không có điều kiện chia cắt ăn từng khẩu phần riêng Gạonếp, gạo tẻ đều đợc dùng, chỗ đồ xôi tìm đợc khắp nơi Hẳn là đã có nhiềuthứ bánh đợc làm từ gạo nếp và bột gạo Nhìn chung, thức ăn thực vật có giátrị lớn hơn thức ăn động vật Thịt gia súc chủ yếu chỉ dùng cho lễ cúng tổtiên Nguồn thức ăn đạm động vật chủ yếu là đạm thuỷ sản Cá có một vị trívô cùng quan trọng Có thể nói, đặc trng văn hoá ăn Việt Nam là cơm cá vàcơm canh Bát canh rau cũng có vị chí quan trọng trong bữa ăn của ngời ViệtNam, canh là thức ăn nhng cũng là thức uống, ăn cùng với cơm, trộn vớicơm Điểm này khác với nhiều dân tộc.
Ngoài ra ngời Việt còn làm mắm, muối da và nói chung các phơng thứclàm thức ăn dựa vào vi sinh vật ra đời khá sớm ở Việt Nam cũng nh ở ĐôngNam á, do điều kiện khí hậu nóng ẩm ở vùng này Có ngời nói rằng: nghềchăn nuôi sớm nhất và phổ biến ở Đông Nam á đó là nghề chăn nuôi vi sinhvật Đã có rợu do ủ men, nh rợu nếp, rợu các thứ nớc quả cũng đã có sớm
Về văn hoá mặc, thì váy cho phụ nữ và khố cho đàn ông là đặc trng cơbản Những yếu tố này còn tồn tại cho đến cách mạng tháng tám Quần có lẽ
là yếu tố xuất hiện muộn và đợc du nhập từ phơng Bắc, áo không đợc coitrọng vì ở xứ nóng Đã có yếm cho phụ nữ còn đàn ông cởi trần Trong khi
đó đồ trang sức lại đợc đặc biệt a chuộng Có đủ loại đồ trang sức với nhiềukiểu khác nhau bằng đá quí, bằng thuỷ tinh hay bằng đồng, nh vòng tay,vòng cánh tay, vòng cổ, vòng chân, hoa tai, chuổi hạt…) do con ng Cả nữ lẫn nam đềudùng trang sức Sau này, nh ta thấy việc sử dụng đồ trang sức có phần giảm
đi ở dân tộc kinh, có lẽ do ảnh hởng của nho giáo
b Về văn hoá tinh thần :
C dân Việt Nam ở thời Đông Sơn cũng đã tạo ra bộ mặt riêng, khởinguồn cho những đặc điểm văn hoá Việt Nam sau này Về hội họa và điêukhắc, ngời Đông Sơn đã có những phong cách riêng, không thể trộn lẫn vớibất cứ văn hoá nào trong khu vực Tuy cũng là miêu tả hiện thực, nhng nghệthuật tạo hình Đông Sơn chú trọng đến thần thái chung, ít chú ý đến chi tiết
Đến giai đoạn muộn, tính cách điệu và tợng trng đã bộc lộ Nghệ thuật ĐôngSơn mở đầu cho hình thái tạo hình mang đậm trang trí phát triển ở các thờikì sau Trong hoa văn trang trí, ngời thời đó đã phát hiện ra nhiều kiểu đốixứng khác nhau Về âm nhạc vũ đạo, từ thời Đông Sơn đã có nhiều yếu tốgần gũi với dân tộc Mờng và dân tộc Tây Nguyên ngày nay
Nhạc cụ gõ phát triển hơn nhiều nhạc cụ khác ở phía Bắc, tiêu biểu làtrống đồng; trong khi ở phía Nam, đàn đá phổ biến, có thể đã có trống da.Các loại khèn giống với khèn Mèo, khèn Thái sau này cũng đã đợc sử dụng.Nhiều loại đàn dây mà ta có ngày nay thì đợc du nhập từ phơng Bắc về sau
Về tín ngỡng, thờ cúng tổ tiên là một tín ngỡng đã đợc hình thành từ rấtsớm và xuyên suốt qua mọi thời kì lịch sử Việt Nam cho đến ngày nay Tínngỡng phồn thực, gắn liền với các lễ cầu mùa, cũng rất phổ biến Và cuốicùng, sự sùng bái nữ thần với Nguyên lý Mẹ trở thành một cơ tầng vữngchắc cho tín ngỡng dân gian Việt Nam Sau này phật giáo hay đạo giáo, một
Trang 6khi truyền nhập vào Việt Nam, đều kết hợp với tín ngỡng sùng bái nữ thần.Thờ Mẫu vẫn là một tín ngỡng bình dân mạnh mẽ tận hôm nay.
Nhìn chung, từ buổi đầu của văn minh Việt Cổ đã hình thành những đặc
điểm văn hoá riêng nhng vẫn rất gần gũi với các nền văn hoá Đông Nam á
Có thể nói, văn hoá Việt Nam thời sơ sử là nằm trong nền cảnh Đông Nam
á Về sau, do tiếp xúc với văn hoá Hán văn hoá Việt Nam mới mang thêmnhững sắc thái Đông á, tuy nhiên nó không che lấp phủ kín lên nhau màquện lẫn vào nhau, đôi khi việc tách lớp không dễ Tất cả đều góp phần hìnhthành nên nền văn hoá Việt Nam đậm đà và phong phú nh ngày hôm nay
3 Vai trò của văn hoá trong đời sống con ngời.
Mỗi một dân tộc đều đợc đặc trng bởi nền văn hoá riêng và nó có ảnhhởng rất lớn tới đời sống, cách sinh hoạt của mỗi con ngời trong các dân tộc
đó Vì lẽ gì mà văn hoá các dân tộc lại khác nhau nh vậy, vì rằng cách sinhhoạt các dân tộc là không giống nhau, hơn nữa, điều kiện tự nhiên về địa lýcũng khác nhau với các dân tộc khác nhau
Khi xét mối quan hệ tơng tác giữa con ngời và văn hoá, con ngời luôn
đợc xem xét là chủ nhân sáng tạo ra toàn bộ sản phẩm văn hoá, những sảnphẩm nhân tạo này hợp thành một thế giới văn hoá phân biệt với thế giới tựnhiên, và đặt trong mối quan hệ với cuộc sống con ngời thì cái thế giới nhântạo đợc coi là hệ sinh thái văn hoá Cùng với hệ sinh thái tự nhiên, hệ sinhthái văn hoá thờng xuyên tác động đến con ngời, nó bồi dỡng tâm hồn, rènluyện ý chí và tôi luyện nên nhân cách con ngời Trong quan hệ qua lại giữacon ngời và văn hoá bộc lộ 3 khía cạnh quan trọng:
Con ngời - chủ thể thế giới văn hoá
Con ngời - sản phẩm thế giới văn hoá đó
Con ngời - đại biểu mang các giá trị văn hoá do chính con ngời tạo ra Văn hoá là một sản phẩm của hoạt động con ngời, nó không là cái gìkhác tự nó tồn tại bên trong cộng đồng nhân loại mà là toàn bộ những sảnphẩm, hoạt động chứa đựng vốn kinh nghiệm xã hội tạo thành "môi trờngvăn hoá" nuôi dỡng đời sống tinh thần con ngời Hoạt động văn hoá thờngdiễn ra trong thế liên tục, muốn cho hoạt động này khỏi bị đứt đoạn thì mỗithế hệ một phải thờng xuyên làm công việc giáo hoá đối với thế hệ tơng lai.Chức năng giáo dục của văn hoá đợc thể hiện ra nh là sự kế thừa của lịch sử Con ngời mới sinh ra phải tiếp nhận ảnh hởng của môi trờng tồn tại:Thế giới vật thể nhà nớc pháp luật, tôn giáo, khoa học, nghệ thuật, phong tục
và các sinh hoạt tinh thần khác Văn hoá và con ngời là hai khái niệm khôngthể tách rời nhau, con ngời xuất hiện từ khi nào thì văn hoá xuất hiện từ khi
đó Vì con ngời là chủ thể sáng tạo văn hoá nên trong suốt quá trình lịch sửhình thành và phát triển của mình con ngời luôn cố gắng sáng tạo khôngngừng để làm nên các giá trị văn hoá Một trong số những giá trị văn hoá đ-
ợc con ngời sáng tạo ra ấy chính là bản thân con ngời con ngời có văn hoá Với t cách là sản phẩm của văn hoá con ngời là vật mang văn hoá tiêubiểu Các giá trị văn hoá vật chất có thể mất đi nhng nếu con ngời vật mangvăn hoá còn tồn tại thì văn hoá vẫn tồn tại và phát triển Đối với mỗi cá nhânvai trò của văn hoá lại càng đợc thể hiện rõ Một đứa trẻ khi lọt lòng mẹ sẽ
Trang 7đợc nhúng vào môi trờng văn hoá có sẵn và phải học tập để nắm vững cáckiểu mẫu hoạt động, các mệnh lệnh, phơng thức ứng xử, mô hình thiết chếthế giới đó Bởi vừa ra đời, nó còn là một cơ thể sinh học đợc phú cho hàngloạt thuộc tính tiềm năng và trong quá trình phát triển giáo dục của xã hội sẽphát triển các thuộc tính tiềm năng ấy.
Nếu sau khi ra đời, đứa trẻ bị đa vào rừng bị bứt khỏi cái nôi văn hoá,
nó sẽ lớn lên nh một con thú, thực tế đã có nhiều trờng hợp nh vậy, ngời ta
đã phát hiện nhiều đứa trẻ đợc bầy thú nuôi từ nhỏ Khi đợc trở về với cuộcsống loài ngời nhng vẫn không quên đợc những gì thuộc cách sinh hoạt củaloài thú, ban đêm chúng thờng hú lên và cuộc sống của chúng cũng rất ngắnngủi Hay nh hai em bé trai 12 tuổi và A và B, em A sinh ra ở một thành phốChâu Âu phát triển do vậy em có thể biết đợc ý nghĩa của các dấu hiệu đờng
ô tô, bảng điện, và thuộc lịch sử của dân tộc mình…) do con ng Còn em B sinh ra ởEtSkimô - Alat Xca, em có khả năng sử dụng xiên cá, biết điều khiển xechó, đi trong đêm tối có bão tuyết, giải thích hiện tợng sấm chớp, nhậtnguyệt thực theo các quan niệm mà thế hệ cha ông đã truyền lại cho em.Hoặc là một đứa trẻ do bà mẹ Việt Nam sinh ra và đợc lớn lên ở Việt Nam
nó mang trong mình dòng máu Việt Nam Nhng nếu lại đợc nuôi dỡng tronggia đình Mỹ và sống ở Mỹ nó hấp thụ nền văn hoá Mỹ và rất có thể sẽ trởthành ngời Mỹ
Đây chính là kết quả giáo dục của hai nền văn hoá khác nhau Các quátrình sinh lý xác lập cơ sở sinh học của việc học tập ở hai em này tơng tựnhau, nhng hai em bé này sống ở hai hệ thống kinh tế khác nhau gia đìnhchúng kiếm sống theo các phơng thức khác nhau, các cộng đồng xã hội vàvăn hoá của hai xã hội rất khác nhau Vì vậy, tri thức tức là vốn văn hoá củahai đứa trẻ hoàn toàn khác nhau, giữa chúng có những tiêu chuẩn khác nhau
về giá trị, phong tục khác nhau, những quy tắc ứng xử và phản ứng đối vớicách ứng xử của ngời khác hoàn toàn khác nhau Chẳng hạn B hiểu rằng cuối
đầu trớc ngời khác tức là kính trọng họ còn theo A thì đó là sự mặc niệm họ
Đây là quá trình hình thành nhân cách hai đứa trẻ làm cho nó thích ứng vớicuộc sống cộng đồng, là quá trình học tập và tiếp cận với văn hoá của đứatrẻ, tạo cho nó những khả năng hiểu biết về nền văn hoá này và tự giác hoạt
động trong phạm vi văn hoá ấy Nhờ quá trình văn hoá này mà hình thànhnên những thành viên mới của xã hội, dạy cho họ cần phải ứng xử nh thế nào
và cần phải làm gì để đạt đợc mục đích trong cuộc sống
Nh vậy, mỗi một nền văn hoá có một phơng thức văn hoá hoá cá nhânriêng của nó, từ đó mà hình thành nên những kiểu nhân cách khác nhau từtrong mỗi nền văn hoá đó
Ngày nay, khi xã hội đã phát triển đến một mức độ nhất định, sự giao luquốc tế và thông thờng giữa các quốc gia trở nên dễ dàng Do đó mà sự xâmnhập của các nền văn hoá khác nhau cũng trở nên phổ biến Lúc này, vai tròcủa văn hoá đợc thể hiện rõ ràng hơn bao giờ hết, nó giúp con ngời ta tồn tại
đúng với thực chất con ngời của mình, không bị pha tạp đến với con ngờikhác Hơn nữa, nếu nh trong cuộc sống thiếu đi vai trò của văn hoá, cuộcsống trở nên tẻ nhạt và vô hồn Văn hoá không phải ngày một ngày hai hay
Trang 8tự nhiên mà có, nó là cả một quá trình sáng tạo tích cóp cùng với lịch sử pháttriển loài ngời Vì vậy, chúng ta cần giáo dục cho các tầng lớp nhân dân, trớchết là thanh thiếu niên lòng tự hào dân tộc không mặc cảm, tự ti với văn hoádân tộc và sùng bá văn hoá Âu - Mỹ mang nặng tính thực dụng và hởng thụ,coi nhẹ tính nhân văn Sự giao lu văn hoá với bên ngoài phải dẫn đến kết quảlàm giàu nền văn hoá dân tộc, làm sao ta vẫn là ta, vẫn giữa đợc cốt lõi bảnsắc dân tộc.
Trang 9
CHƯƠNG II
Thực trạng hành vi ngời tiêu dùng sản phẩm may
mặc của nhánh văn hoá ngời kinh
1 Xã hội Việt Nam và vấn đề trang phục trong giai đoạn trớc chuyển
đổi
a, Khái quát chung về tình hình kinh tế xã hội và lịch sử phát triển trang phục Việt Nam.
Xã hội Việt Nam đợc hình thành và phát triển từ một cộng đồng ngời
với chặng đờng lịch sử lâu dài Bề dày của lịch sử không ngừng đợc bồi đắptrong quá trình đấu tranh với tự nhiên và kẻ thù xâm lợc để sinh tồn, pháttriển Với khoảng 60 triệu dân, ngời Việt là dân tộc có số dân đông nhất Đ-
ợc tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng, vùng duyên hải và có mặt ở khắpmọi miền đất nớc từ Lạng Sơn đến Minh Hải từ Cao Nguyên phía Tây đếnHải Đảo phía Đông, phía Nam, với nhiều sắc thái văn hoá khác nhau
Nhiều thành tựu khoa học mới về ngành khảo cổ học, sử học…) do con ng đãchứng minh rằng: Ngời Việt là c dân bản địa của nớc ta, họ là c dân nôngnghiệp trồng lúa nớc, có thể nói văn minh ngời Việt là văn minh lúa nớc Trên nền tảng kinh tế lúa nớc, các giá trị văn hoá xã hội phát triển và
đã đợc kiểm chứng, sàng lọc qua rất nhiều thời kỳ
Thời kỳ nguyên thủy – giai đoạn sơ khai của xã hội loài ngời, chúng
ta cũng đã tổ chức đời sống mang tính cộng đồng cao, mọi ngời đã biết lao
động nh săn bắt, hái lợm, trồng cấy để phục vụ cho đời sống Các nghề thủcông nh đan lát, mộc, dệt…) do con ng cũng nảy sinh và phát triển Riêng với nghề dệt,khảo cổ học đã tìm thấy dọi xe chỉ bằng đất nung Đây là cơ sở để ngời taxác định ngành dệt thời kì này kéo dài vài chục vạn năm, lịch sử xã hội pháttriển chậm chạp nhng vẫn theo xu thế đi lên Kinh tế nguyên thuỷ ở nớc tachủ yếu là kinh tế hái lợm, trồng trọt Nó diễn ra trong phạm vi hẹp mangtính chất tự nhiên tự cấp tự túc ở đó, ngời ta trao đổi với thiên nhiên hơn là
đối với xã hội, tình trạng này khiến phân công lao động xã hội diễn ra yếu ớtchậm chạp, kinh tế hàng hoá không có điều kiện phát sinh
Sang đến thời kì bắt đầu dựng nớc ở Việt Nam cách đây khoảng 4nghìn năm lịch sử từ khi kĩ thuật luyện kim xuất hiện, cuộc sống cũng đã trởnên có tổ chức hơn, ngời dân sống thành gia đình và đã định c thành từnglàng xã, bên cạnh quan hệ huyết thống là quan hệ láng giềng Việc công cụbằng kim loại xuất hiện lại sống định c đã tạo điều kiện tập trung phát triểntrồng trọt và chăn nuôi Với trồng trọt, bên cạnh việc trồng cây lơng thực,con ngời còn trồng các loại cây thực phẩm, hoa quả, cây lấy sợi Trồng trọt
đã trở thành nguồn sống chủ yếu của con ngời Trong hoạt động canh tácviệc sử dụng công cụ bằng đồng và sắt cùng với việc bớc đầu sử dụng trâu
bò đã góp phần mở rộng diện tích trồng trọt, con ngời còn biết tận dụngnguồn nớc bên sông để tới lúa Bên cạnh đó, con ngời còn biết chăn nuôi cácgia súc, gia cầm và nó mang tính chất là nghề phụ trong gia đình Ngoài ra,nghề thủ công nghiệp cũng phát triển, kĩ thuật luyện kim đúc đồng cũng đạt
Trang 10tới một đỉnh cao mới sản phẩm của nó khá đa dạng thể hiện rõ nhất là trống
đồng, nó đợc coi là một kì công trong nền văn hoá dân tộc Trong nghề dệtngời dân còn trồng dâu nuôi tằm, trồng các loại cây lấy sợi và dệt vải Căn
cứ vào y phục của nam nữ in trên trống đồng chứng tỏ rằng nghề dệt đã cónhững tiến bộ nhất định Ngoài ra, nó còn cho thấy ở thời kì này dân tộc ViệtNam đã hoà nhập cùng nhiều dân tộc khác trên thế giới, bớc vào ngỡng cửacủa thời đại văn minh
Thời kì phong kiến trung quốc đô hộ (938) cũng là một thời kì dài đợcbắt nguồn từ phong kiến Trung Quốc, với các chính sách nô dịch và bóc lộtcủa phong kiến, đã tạo nên một trở ngại trên con đờng phát triển của của xãhội Việt Nam Nhiều cuộc đấu tranh chống áp bức để sinh tồn đã nổ ra, đây
là yếu tố quyết định tạo điều kiện mở đờng cho công thơng nghiệp có nhữngchuyển biến Trong nông nghiệp, trồng trọt đã trở thành nguồn sống chủ yếucủa con ngời Kĩ thuật trồng trọt có nhiều tiến bộ, công cụ bằng sắt và trâu
bò kéo cày đợc sử dụng phổ biến trong canh tác, hệ thống đê điều đợc hìnhthành giữa các sông lớn vùng đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Ngời dân
đã biết dùng phân bón để bón ruộng, biết triết cành cây để trồng Trải quaquá trình lâu dài trong canh tác ngời Việt Nam đã tiến tới trồng lúa trong hai
vụ chiêm mùa Chăn nuôi gắn liền chặt chẽ với trồng trọt trong hoạt độngkinh tế gia đình Ngoài nuôi vật nh lợn, gà để làm thực phẩm, các ngànhnghề khác trong nớc cũng tiếp tục phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu thôngthờng về ăn, ở, mặc, trong nhân dân, nhu cầu về giao lu văn hoá với nớcngoài Các ngành nghề mới xuất hiện nh nghề khai thác mỏ luyện kim, nghềgốm…) do con ng Tất cả đều thể hiện đờng nét hoa văn nghệ thuật rất tinh xảo Riêngnghề dệt vẫn tiếp tục phát triển, kĩ thuật dệt nhuộn đợc cải tiến Nghề dệt đãcho những sản phẩm nổi tiếng nh lụa, lĩnh, the, vóc, nhiễu với màu sắc họatiết đẹp, đa dạng Nh vậy, thời kì phong kiến Trung Quốc đô hộ Việt Namcác ngành thủ công nghiệp đã có sự phát triển nhng vẫn giữ đợc bản sắc dântộc, ngoài ra các hoạt động giao lu trao đổi trong nớc cũng nh nớc ngoàicũng đã đợc hình thành trong nhu cầu ngời dân, ngời Việt đã tiếp thu đợckinh nghiệm, kĩ thuật sản xuất mới đa dạng bổ xung thêm vào ngành nghềthủ công nghiệp dân tộc Cũng nhờ có hoạt động giao lu mà giao thông vậntải cũng phát triển, mạng lới giao thông thuỷ bộ nối liền các vùng trong nớcvới nhau, nhiều loại thuyền mảng đã có thể đi lại trên sông, biển; trên bộ thìvoi ngựa đợc sử dụng để vận chuyển đồ vật và kéo xe chở đồ tạo cơ sở hoạt
động cho ngoại thơng Nh vậy, kinh tế Việt Nam cũng đã có sự phát triểntrong thời kì này, tuy nhiên vẫn bị ngăn cản bởi chế độ phong kiến TrungQuốc
Đến thời kì phong kiến dân tộc chủ, hầu nh các triều đại phong kiến
đều sử dụng chính sách kinh tế “dĩ nhân vi bản” từ đó đi đến chính cách
“trọng nông ức công thơng”, ruộng đất rất đợc coi trọng và luôn là vấn đềtrọng tâm của các mối quan hệ kinh tế xã hội Tuy nhiên, ruộng đất luôntrong tình trạng biến động và tồn tại dới hai hình thức Thứ nhất là ruộng đấtcủa nhà nớc chiếm đại bộ phận và thứ hai là ruộng đất của t nhân Vì vậy,câu nói “đất của vua chùa của làng” đã sớm đi vào tiềm thức ngời nông dân
Trang 11Về mặc, nghề dệt cũng không ngừng phát triển, ngay từ thời Lí ngoàikhung dệt trong mỗi gia đình để tự cung vải mặc nhà nớc đã cố những cơ sởdệt lụa và vải nh vải bong, lụa, lĩnh, sa, the, nái sồi đoạn, gấm vóc, vải gai…) do con ngCho đến thế kỉ XVIII nghề dệt truyền thống nớc ta đã sử dụng 4 nguyên liệuchính gồm tơ chuối, tơ đay gai, tơ tằm và sợi bông Sự phát triển nghề dệt đãthúc đẩy sự phát triển các trang phục, nhng quá trình này ở nông thông diễn
ra chậm chạp do tập quán làm ăn và tâm lí tiêu dùng “ăn chắc mặc bền ”.Thời kì này đã có sự phân hoá tầng lớp trong xã hội rõ, giữa các bộ phậndân c ở thành thị, nông thôn và những ngời tu hành Ngợc với lớp ngời ởnông thôn – tầng lớp thấp nhất là tầng lớp cao nhất bao gồm vua quanphong kiến và thị dân, y phục của họ biến đổi khá mạnh, nhạy bén với việctiếp thu những ảnh hởng bên ngoài, đặc biệt là của phong kiến Trung Quốc
Từ thời Lê trở đi khi mà nhà nớc tập quyền phát triển, nho giáo trở thành chỗdựa của nhà nớc thống trị, về nhiều phơng diện trong đó có phơng diện ănmặc, mặc dù phải chịu nhiều cỡng bức song y phục vẫn phát triển khá đadạng về kiểu loại và màu sắc, nhà nớc còn có những qui định tỉ mỉ và chặtchẽ về ăn mặc của binh lính, của quan lại triều đình và của nhân dân ta Nhàvua ra lệnh nhân dân không đợc ăn mặc theo kiểu nhà Minh, ngời phụ nữ ănmặc gọn ghẽ với chiếc váy ngắn, yếm cổ xây không ăn mặc áo ngoài và cánhtay để trần thắt lng để múi phía trớc Trong những dịp trang trọng đã thấyphụ nữ mặc áo bên ngoài yếm giống áo tứ thân sau này, tiền thân của chiếc
áo dài truyền thống của phụ nữ Việt Nam áo dài tứ thân buông vạt để lộ áocánh, bên trong là yếm Tay áo dài, chặt, thắt lng vải buộc mối múi xõa mối
Bộ y phục phụ nữ Kinh thời nay đã đạt đến mức độ hoàn chỉnh, tuy có sựkhác nhau về kiểu cách, màu sắc giữa các miền; ở Miền Bắc, phụ nữ mặcyếm, áo cánh ngắn không cài khuy khi cần còn mặc ngoài áo tứ thân mớ ba
mớ bảy, a màu đậm, còn Miền Nam mặc đơn giản hơn mặc áo bà ba, khitrang trọng hơn thì mặc áo dài màu sáng hay kiểu áo năm thân và thích màu
đen Sự khác biệt này không làm mất đi vẻ đẹp cơ bản của phụ nữ Kinh màcàng làm cho diện mạo mỗi miền thêm phong phú Nói chung ở thời kìphong kiến, kinh tế Việt Nam còn phát triển chậm, ngời dân quanh năm phảilàm lụng vất vả “bán mặt cho đất bán lng cho trời”, nghề dệt cũng vậy, tiếnhành chủ yếu theo phơng pháp thủ công với quy mô hẹp, sản phẩm làm ra là
để tự phục vụ mình
Đến thời kì pháp thuộc, dân ta phải chịu “một cổ hai tròng áp bức” đãlàm không đủ ăn, lại phải đóng siêu cao thuế nặng Hơn nữa, xã hội lúc bấygiờ là tự cung tự cấp, sinh hoạt cộng đồng chỉ khép kín sau lũy tre làng,trong điều kiện lam lũ vất vả ấy, làm đã không đủ ăn thì nhu cầu về mặc chỉ
là thứ yếu, tuy ở thời đó ngành dệt có sự phát triển hơn, một số nhà máy sợi,dệt đợc Pháp xây dựng đã mọc lên nhng chủ yếu là nhằm mục đích phục vụcho việc khai thác của pháp và nhu cầu đã đợc cách tân của ngời thành thị,còn ở nông thôn cách ăn mặc về cơ bản là không có gì thay đổi ở thành thị,nam giới tiếp thu kiểu mặc của ngời Châu Âu với complê, áo sơ mi, quần âu,
áo vettông, caravat…) do con ng Còn phụ nữ lại nặng về cải tiến theo phong tục tậpquán truyền thống điển hình là xu hớng cách tân chiếc áo dài truyền thống
Trang 12thành áo dài kiểu “tân thời ” và sau này trở thành chiếc áo dài đặc trng củangời phụ nữ Việt Nam Ngoài chiếc áo dài, các thứ trang phục khác cũng đợccải tiến theo khuynh hớng đổi mới chứ không chỉ theo Âu hoá, ở các thànhthị phía Bắc chiếc quần âu đã thay cho chiếc váy, không chỉ quần đen mà cảquần lụa trắng, áo mặc trong nhà cũng đổi theo kiểu đơng thời, nhấn thêm
eo, cửa tay và cổ áo mở rộng hơn Các thành thị phía Nam chiếc áo bà batruyền thống thờng may bằng thứ vải mộc màu đen nay cũng cải tiến theo h-ớng may bằng vải đẹp và có nhiều hoạ tiết hoa lá sặc sỡ, thân áo cũng đợcthu hẹp bó sát hơn, cổ và tay áo có kiểu dáng đa dạng
Từ khi hòa bình lặp lại 1954, kinh tế vẫn không có gì sáng sủa hơnnhững tàn d hà khắc mà thực dân Pháp và phong kiến áp đặt vẫn còn ảnh h -ởng không nhỏ tới cách làm ăn của ngời dân Đất nớc tạm thời bị chia cắtlàm hai miền Miền Bắc tuy đợc hoà bình, nhng kinh tế lại bị tàn phá nặng
nề sau 15 năm chiến tranh với một nền nông nghiệp lạc hậu, chủ yếu dựavào sản xuất nhỏ cá thể, cơ sở sản xuất kinh tế t bản chủ nghĩa hết sức kémcỏi và non yếu Công nghệ mới phôi thai, nền công nghiệp và thủ côngnghiệp có tính chất phân tán, chiếm đại bộ phận trong nền kinh tế quốc dân,lại đang phải tiến hành công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Miền Namtrở thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ, nền kinh tế dân tộc dân chủ nhân dân
đợc thiết kế trong thời kì kháng chiến chống Pháp bị xoá bỏ để thiết lập lạiquan hệ sản xuất phong kiến, xây dựng nền kinh tế thị trờng mở nằm trong
sự khống chế của đế quốc Mỹ, tạo điều kiện chủ nghĩa t bản phát triển mạnh
ở Miền Nam Nông nghiệp giữ nguyên tình trạng lạc hậu, độc cạnh pháttriển chậm, bấp bênh nh trong thời kì thực dân Pháp thống trị Sản lợng lúagiảm so với năm 1945 và không ổn định Công nghiệp ngày càng bị phụthuộc vào nớc ngoài
Trong may mặc, cũng có những bớc tiến mới, sự giao lu văn hoá giữacác nớc khác nhau đã làm cho quan điểm may mặc có sự thay đổi, việc thaythế váy bằng quần, áo tứ thân bằng áo sơ mi đã phần nào nói lên đợc điều
đó Hơn nữa, do có sự khác nhau về điều kiện kinh tế chính trị xã hội nên xuhớng cung cách ăn mặc hai miền có sự khác nhau Nếu ở Miền Bắc sự biến
đổi trong ăn mặc thể hiện sự đồng đều, xoá nhòa dần ranh giới giữa nôngthôn và thành thị, giữa các tầng lớp xã hội, tiết kiệm giản dị hơn thì ở thànhthị phía Nam chạy theo mốt nớc ngoài với nhịp độ mạnh mẽ hơn, khoảngcách ăn mặc giữa các giai cấp, giữa thành thị nông thôn ngày càng cách biệthơn ở Miền Bắc chỉ có bà già ở nông thôn còn mặc váy còn đa số, chị emthanh niên và trung niên đã chuyển sang mặc quần may kiểu “chân quê” ởthành thị, nhiều nữ thanh niên mặc quần âu thay cho quần đen Chiếc áocánh của phụ nữ đợc cải tiến nhiều nh cắt sát eo hơn chứ không rộng vàthẳng nh trớc, vạt áo lợn vòng, hạ thấp tà, triết li trớc ngực và sau lng Cổ áocũng đa dạng, cổ vuông tròn, hình trái tim Màu sắc cũng phong phú, màunâu, gụ, xanh, trắng, vải hoa Khi kiểu áo mới này thịnh hành thì yếm cổtruyền không còn nữa Nó đợc thay thế bằng áo lót nịt ngực tiếp thu từ Châu
Âu góp phần làm tô thêm vẻ đẹp hình thể của phụ nữ Trong những nămchống chiến tranh phá hoại miền Bắc, hình ảnh cô dân quân mặc quần đen,
Trang 13áo cánh nâu bó sát thân, thắt lng to bản, đầu chịt khăn vuông mỏ quạ, chân
đi dép cao su đen cắt từ lốp ô tô, vai khoác súng trờng là hình ảnh tiêu biểucho phụ nữ Việt Nam thời kì vừa sản xuất vừa chiến đấu chống Mỹ cứu nớc
ở Miền Nam, hơn 20 năm sống dới chế độ thực dân mới của Mỹ – Ngụy,
về cơ bản y phục dân tộc vẫn đợc bảo lu và cải tiến theo hớng kết hợp dântộc với hiện đại Ngay bộ quần áo bà ba truyền thống không ngừng đợc cảitiến Từ chiếc màu đen may bằng vải rẻ tiền dần biến đổi thành loại bà banhiều màu sắc may sát eo hơn Bên cạnh đó, vào những năm 60-70 ở cácthành thị Miền Nam đặc biệt là ở Sài Gòn đã dấy lên phong trào mặc cáckiểu quần áo âu hiện đại nh váy mini, quần bò jean với các mốt ống loe, ống
bó các kiểu áo thun áo phông Một số ít thanh niên nam nữ hoặc theo kiểu
“hippy” may bằng vải thô với nhiều kiểu may cắt kì quặc, thêu thùa rối rắm,phong trào ăn mặc có khi đến mức cực đoan gây nên những phản ứng cực
đoan gây nên những phản ứng xã hội, nhất là với tầng lớp trung niên và ngờigià có ý thức dân tộc nhằm bảo vệ những giá trị truyền thống trớc những lốlăng trong phong trào Âu hoá
Sau năm 1975, khi đất nớc hoàn toàn độc lập, giang sơn thu về mộtmối, trong sự phát triển văn hoá nói chung cũng nh trang phục nói riêng
đang đứng trớc những xu hớng mới Các phong cách địa phơng về ăn mặc
nh Hà Nội, Huế, Sài Gòn nay không còn đóng khung trong các địa phơng
mà đã có điều kiện lan toả ra cả nớc, nhiều vùng dân tộc đã tiếp thu kiểucách trang phục ngời Kinh Ngợc lại, chị em phụ nữ ngời Kinh, nhất là ởthành thị lại a chuộng một số sản phẩm dệt may, cách thức trang trí hoa văndân tộc đa vào y phục của mình Cho dù có sự cách tân lại các kiểu quần áocho hiện đại hơn và xuất hiện các kiểu quần áo đa sạng hơn trớc, nhng nhìnchung vẫn rất đơn giản Tiêu dùng cho may mặc không đợc chú trọng
Nh vậy, trong suốt thời gian từ 1985 trở về trớc may mặc cha phải lànhu cầu phổ biến của đông đảo quần chúng, tâm lí chung của hầu hết mọingời là có gì mặc nấy, không cầu kì đòi hỏi
b, Vai trò của trang phục và mối quan hệ giữa trang phục với phong cách sinh hoạt ngời Việt
Mặc là nhu cầu không thể thiếu trong đời sống con ngời, ngay từ khi
xuất hiện con ngời đã có nhu cầu đợc bảo vệ cơ thể, đây là lí do cho sự ra đờicủa quần áo, khi mới xuất hiện quần áo chỉ là những tấm chắn đợc dệt từ lácây, sau đó là đến các mảnh da thú…) do con ng Ngoài tác dụng là che thân bảo vệ cơthể, nó còn có chức năng làm đẹp con ngời Có thể nói ngay từ thời xa xaquần áo nói riêng và trang phục nói chung luôn chứa đựng hai chức năngchính là bảo vệ và thẩm mỹ Ngày nay, khi xã hội đã bớc sang trang sử mớivăn minh hơn thì chức năng thẩm mỹ càng trở nên quan trọng hơn, nó đã trởthành một trong những yếu tố trọng tâm, hàng đầu làm nên vẻ đẹp hình thứccủa con ngời Tục ngữ nớc ta đã từng thừa nhận :
“Ngời đẹp vì lụa “
và “Hơn nhau tấm áo manh quần
Cởi ra mình trần ai cũng nh ai “
Trang 14Mặc dù chúng ta đều biết rằng: cái đẹp của con ngời không phải là tấm
áo manh quần – những thứ họ mặc trên mình Không chỉ thế, nếu nh cáilàm nên giá trị của con ngời ngoài quần áo ra không còn gì cả thì hoá ra conngời cũng chỉ nh một chiếc mắc áo tầm thờng, chỉ để treo quần áo mà ôngcha ta đã từng gọi một cách rẻ rúng là “phờng giá áo túi cơm” Nhng để xác
định đợc giá trị của một con ngời không phải là chuyện đơn giản, cần có mộtthời gian quen biết, tiếp xúc tìm hiểu chứ không phải mới gặp lần đầu đãnhận ra ngay đợc Vì vậy, y phục tuy là những thứ che thân vô cảm nhng vẫngây ra đợc ấn tợng mạnh trong giao tiếp lần đầu và có thể có tác động tới đồitợng giao tiếp chi phối cách ứng xử và hoạt động của họ Quả là :
“ Quen sợ lòng sợ dạ
Lạ sợ áo sợ quần “
Đặc biệt hơn là có những cuộc gặp lần đầu có thể tạo ra những ấn tợng đeo đẳng mãi, khó thay đổi đợc và có tác dụng không nhỏ tới chủ thể giaotiếp
Nói riêng, về mặt thẩm mỹ của một bộ quần áo đẹp hài hoà với chủ thểgiao tiếp chẳng những tạo nên thiện cảm, ấn tợng đối với chủ thể giao tiếp,
mà nó còn thể hiện tính cách khả năng thẩm mỹ của chủ thể mặc nó…) do con ng mộttrong những khả năng mà ở xã hội hiện đại rất đợc coi trọng Hơn nữa, yphục tạo cho ngời mặc những yêu tố tâm lý, có thể là sự tự tin Có thể nói,khi chúng ta tạo cho mình một vẻ ngoài nh thế nào thì chúng ta sẻ có tâm lý
nh thế ấy, tiếp theo đó là những biểu hiện bằng ngôn ngữ, cử chỉ tơng ứngvới nó
Đáng chú ý hơn, với truyền thống hiếu khách của ngời Việt Nam, mặckhông chỉ vì mình mà còn vì ngời khác, vì sự tôn trọng ngời giao tiếp vớimình, nhất là khi tiếp xúc với ngời nớc ngoài, ngời Việt luôn mặc nhữngtrang phục dân tộc qua đó thể hiện lên sự tôn kính và tinh thần dân tộc Lịch
sử còn ghi lại, vào cuối thế kỉ XIV nớc Đại Việt bị quân Minh xâm lấn rồidùng chính sách đồng hóa, bắt dân ta ăn mặc theo kiểu Trung Hoa, nhng sự
áp đặt đó đã bị chống trả quyết liệt Vào năm 1665 nhằm phục hồi văn hoádân tộc vua Lê đã ban hành: từ đây về sau, đàn bà con gái không thắt eo lng
và không mặc quần có ống chân để nghiêm chỉnh phong tục…) do con ng Cũng nhtiếng Việt, y phục Việt có một sức sống ngoan cờng, giữ đợc bản sắc riêngcủa mình mặc dù phải trải qua nhiều thăng trầm của chiến tranh xâm lợc,góp phần làm nên văn hoá Việt Nam, trong lịch sử dân tộc với những cuộc
đấu tranh ngoan cờng giữ nớc của ông cha ta còn để lại nhiều dấu ấn khôngthể phai mờ về ý thức đấu tranh bảo vệ bản sắc văn hoá trang phục Việt Namvới hình hài vóc dáng Việt Nam Vua Lí Thánh Tông (1040) đã truyền dạycung nữ phải dệt lấy vải vóc để dùng là muốn dân ta không phụ thuộc vàogấm vóc nhà tống thời đó
Để tồn tại trên mảnh đất Việt Nam, suốt chiều dài lịch sử gần mấynghìn năm luôn phải chống trả kiên cờng với sự xâm lăng, đồng hoá của kẻthù và với những khắc nghiệt của thiên nhiên Hơn nữa, Việt Nam là nớc cónền kinh tế nông nghiệp lúa nớc c dân chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa nớc
Trang 15nên rất nghèo Song tất cả những điều đó đã hun đúc nên bản chất ngời ViệtNam dũng cảm, cần cù và giản dị Có lẽ vì thế, trong cốt cách ăn mặc củangời Việt có truyền thống “ăn chắc mặc bền”, các y phục từ xa xa, từ cáchdệt may cho đến cách nhuộm màu thờng đợc gia công sao cho chịu đợc thửthách của thời gian phù hợp và thoải mái trong hoạt động lao động, tạo diềukiện dễ dàng trong thực hiện công việc Có những bộ quần áo lu truyền từ
đời này sang đời khác, sự tiết kiệm trong nghệ thuật mặc cũng là một nét rấtViệt Nam, y phục Việt Nam thờng không có những chi tiết quá thừa, rờm rà,dài lê thê Ngoài những bộ y phục lễ hội, quần áo mặc ở nhà nhiều khi đợctinh giản một cách tài tình, sao cho vừa che đợc những phần cần che trên cơthể một cách có thẩm mỹ nhng lại sử dụng ít nhất vật liệu và thao tác maymặc đơn giản nhất Cái yếm là một ví dụ, nó chỉ là một mảnh vải hình vuông
đeo trớc ngực rất đơn giản và kinh tế đối với ngời nông dân góc trên khoéttròn làm cổ hai góc trên đính với dải để buộc ở sau lng Nhng yếm là một bộphận trung tâm của ngời phụ nữ đợc các bà các cô chọn lọc chăm chút, từngày xa, ai cũng tự làm lấy yếm để mặc, không ai đi mua yếm may sẳn,ngay cả khi giặt cũng phải tìm nơi kín đáo để phơi Các cô gái thành thị mặcyếm trắng, yếm hồng, còn ở nông thôn mặc yếm màu hoa liên, khi lễ hộimặc yếm đào yếm đỏ Yếm mặc trong, áo buông vạt nằm ngoài nên mộtphần thân yếm nhô ra thấp thoáng giữa hai tà áo, ngày nóng bức phụ nữ thônquê trong khi lao động ở nhà chỉ mặc áo ngắn với yếm, cởi trần để hở phầnlng và lờn Tính tha thớt mềm mại cũng là một nét độc đáo trong y phụctruyền thống ngời Việt, đặc điểm này có quan hệ chặt chẽ với môi trờngxung quanh với hình ảnh cây đa, bến nớc, ao đình, bờ tre, khóm trúc lay
động trong gió, những mái đình cong cong…) do con ng Tất cả đều rất quen thuộc vớinông thôn Việt Nam, nó đợc hòa quện một cách tài tình với những bộ trangphục có những dải khăn áo bay bay, về bộ khăn áo mớ ba mớ bảy có đếnhàng chục dải áo Ngày nay, càng với sự phát triển của xã hội trang phụccũng đã có những cải tiến, tuy những bộ quần áo xẻ tà, áo mớ ba mớ bảy, áo
bà ba không còn phổ biến nhng đó chính là cơ sở của việc hình thành nênnhững bộ quần áo ngày nay, phù hợp với tính cách và sự năng động của conngời trong thời đại mới, giờ đây con ngời tham gia nhiều hoạt động xã hội,hoạt động công sở nhằm thể hiện mình tìm kiếm địa vị của mình trong xãhội và mong muốn ngòi khác tôn trọng vì vậy vấn đề trang phục là rất đợcchú ý hơn bao giờ hết bởi chính vai trò của nó là không thể phủ nhận
2 Thực trạng phát triển ngành sản phẩm dệt may và thái độ tiêu dùng sản phẩm này từ sau khi mở cửa thị trờng
a, Xã hội Việt Nam từ khi hội nhập
Ngay khi hội nhập, mặc dù có điểm xuất phát thấp – nền kinh tếnông nghiệp với hầu hết dân số là nông dân Song xã hội Việt Nam đã cónhiều chuyển biến đáng kể Nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần: Kinh tếxã hội chủ nghĩa (gồm khu vực quốc doanh và khu vực tập thể, cùng với bộphân kinh tế gia đình gắn liền với thành phần đó), kinh tế tiểu sản xuất hànghoá (thợ thủ công nông dân cá thể, những ngời buôn bán và kinh doanh dịch
vụ cá thể), kinh tế t bản t nhân, kinh tế t bản nhà nớc, kinh tế tự nhiên tự cấp