Tài liệu tham khảo kinh tế đầu tư: Hoạt động bảo đảm trong cho vay của ngân hàng thương mại
Trang 1Lời mở đầu
Với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế , thì vai trò của ngân hàng thương mại ngày càng được củng cố và thể hiện rõ nét : là một tổ chức trung gian tài chính cầu nối giữa cung và cầu về vốn , giữa tiết kiệm và đầu tư ; là bàn đỡ cho sự phát triển của nền kinh tế Hoạt động của ngân hàng thương mại có ảnh hưởng mạnh mẽ đến toàn bộ nền kinh tế : sự ổn định và phát triển của ngân hàng thương mại sẽ có tác động tích cực đến sự phát triển của nền kinh tế và ngược lại khi ngân hàng thương mại gặp khó khăn hay khủng hoảng sẽ kéo theo một dây chuyền phản ứng tiêu cực của các thành phần trong nền kinh tế và hậu quả là vô cùng nghiêm trọng Vì vậy , việc bảo đảm cho hoạt động của ngân hàng thương mại được diễn ra một cách suôn
sẻ và ổn định là hết sức quan trọng Hoạt động chính của ngân hàng thương mại là huy động vốn và sử dụng vốn Tín dụng là một trong những hoạt động sử dụng vốn và nó đóng vai trò quan trọng hàng đầu đối với ngân hàng thương mại nhưng hoạt động tín dụng lại hàm chứa rất nhiều rủi ro Việc phát triển hoạt động bảo đảm trong cho vay là cơ sở để đảm bảo an toàn cho hoạt động tín dụng đồng thời cũng là cơ sở để chọn lựa và mở rộng đối với những đối tượng khách hàng của ngân hàng vì vậy đề tài có tính cần thiết cao trong việc bảo đảm an toàn cho hoạt động của ngân hàng
Em nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích phát triển các hình thức bảo đảm
đã được sử dụng và phát triển thêm những hình thức bảo đảm mới để đáp ứng được yêu cầu của các đối tượng khách hàng trong nền kinh tế đồng thời cũng chính là bảo đảm an toàn cho hoạt động tín dụng của ngân hàng Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động đảm bảo trong cho vay tại ngân hàng Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hoạt động bảo đảm tại phòng tín dụng khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội
Trang 2chi nhánh Điện Biên Phủ Với phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng,
em mong rằng có thể hoàn thành được một chuyên đề tốt nghiệp thật hiệu quả và có ý nghĩa
Kết cấu chuyên đề tốt nghiệp của em bao gồm ba chương :
Chương 1 : Hoạt động bảo đảm trong cho vay của ngân hàng thương mại.Chương 2 :Thực trang hoạt động bảo đảm trong cho vay của ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội chi nhánh Điện Biên Phủ
Chương 3 : Giải pháp phát triển hoạt động bảo đảm trong cho vay tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội chi nhánh Điện Biên Phủ
Trang 3
Chương 1 Hoạt động bảo đảm trong cho vay của ngân hàng
thương mại
1.1 Vai trò của hoạt động bảo đảm trong cho vay của ngân hàng thương mại
1.1.1 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
- Ngân hàng là một doanh nghiệp hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ Ngân hàng cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền nay để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán Hệ thống các dịch vụ của ngân hàng vô cùng đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính của xã hội Hệ thống đó bao gồm : mua bán ngoại tệ , nhận tiền gửi , cho vay , bảo quản vật có giá , cung cấp các khoản giao dịch và thực hiện thanh toán , quản lý ngân quỹ , tài trợ các hoạt động của chính phủ , bảo lãnh , cho thuê thiết bị trung và dài hạn , cung cấp các dịch vụ : ủy thác và tư vấn , môi giới đầu tư chứng khoán , bảo hiểm , dịch vụ đại lí Trong các dịch vụ trên cho vay là một trong những dịch vụ quan trọng hàng đầu của ngân hàng vì nó là dịch vụ đem lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng và liên quan đến sự sống còn của ngân hàng
- Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định Cho vay là tài sản lớn nhất trong khoản mục tín dụng Cho vay thường được định lượng theo hai chỉ tiêu : Doanh số cho vay trong kì và dư nợ cuối kì Doanh số cho vay trong kì là tổng số tiền mà ngân hàng đã cho vay ra trong kì Dư nợ trong kì là số tiền mà ngân hàng hiện đang còn cho vay tại thời điểm cuối kì
Trang 4Khi lập các báo cáo tài chính (thời điểm) , cho vay được ghi dưới hình thức
dư nợ Một số ngân hàng thường ghi giảm dư nợ phần trích lập dự phòng tổn thất hoặc lãi được nhận trước
- Phân loại cho vay : tùy thuộc vào các tiêu thức khác nhau mà cho vay được phân loại khác nhau :
+ Theo thời hạn của món vay : Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian có liên quan mật thiết đến tính an toàn
và sinh lợi của khoản vay cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng
• Cho vay ngắn hạn : từ 12 tháng trở xuống tài trợ cho tài sản lưu động
• Cho vay trung hạn : từ trên 1 năm đến 5 năm tài trợ cho các tài sản
cố định như phương tiện vận tải , một số cây trồng vật nuôi trang thiết bị chóng hao mòn
• Cho vay dài hạn : Trên 5 năm tài trợ cho công trình xây dựng như nhà , sân bay , cầu , đường , máy móc thiết bị có giá trị lớn , thường
có thời gian sử dụng lâu
+ Theo rủi ro : cho vay bao gồm các khoản có độ an toàn cao , khá , trung bình và thấp Cách phân loại này giúp ngân hàng đánh giá lại các khoản mục tín dụng , dự trù quỹ cho các khoản tín dụng rủi ro cao ,đánh giá chất lượng tín dụng
• Tín dụng lành mạnh : Các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao
• Tín dụng có vấn đề : Các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh như khách hàng chậm tiêu thụ , tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm , khách hàng gặp thiên tai , khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính
Trang 5• Nợ quá hạn có khả năng thu hồi : Các khoản nợ đã quá hạn với thời hạn ngắn và khách hàng có kế họach khắc phục tốt , tài sản bảo đảm
- Nghiệp vụ cho vay của ngân hàng thương mại :
+Cho vay thấu chi :
• Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi trội (vượt ) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi
• Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng không phù hợp về thời gian và quy mô Do vậy , hình thức thanh toán này tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong quá trình thanh toán : chủ động , nhanh , kịp thời Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn ,linh hoạt , thủ tục đơn giản phần lớn không có bảo đảm ,có thể cấp cho cả doanh nghiệp lẫn cá nhân vài ngày trong tháng ,vài tháng trong năm dùng để trả lương ,chi các khoản phải nộp ,mua hàng
• Hình thức này chỉ sử dụng với những khách hàng có độ tin cậy cao ,thu nhập đều đặn và kì thu nhập ngắn
+Cho vay trực tiếp từng lần :
• Cho vay trực tiếp từng lần là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng không có nhu cầu vay thường xuyên ,không có điều kiện để cấp hạn mức thấu chi Một số khách hàng sử dụng vốn chủ sở
Trang 6hữu và tín dụng thương mại là chủ yếu ,họ chỉ vay ngân hàng khi có nhu cầu thời vụ hay mở rộng sản xuất đặc biệt Vốn từ ngân hàng chỉ tham gia vào một giai đoạn nhất định của quá trình sản xuất kinh doanh.
• Nếu cho vay dựa trên giá trị tài sản đảm bảo thì :
Số lượng cho vay =Giá trị tài sản đảm bảo x tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo
Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản Ngân hàng có thể kiểm soát từng món vay tách biệt Tiền cho vay dựa vào giá trị của tài sản đảm bảo
+Cho vay theo hạn mức :
• Đây là nghiệp vụ tín dung theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kì hoặc cuối kì Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh ,nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng
• Hình thức cho vay này thuận tiện cho những khách hàng vay mượn thường xuyên vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh Khi khách hàng có thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ do đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý ngân quỹ của khách hàng Tuy nhiên do các lần vay không tách biệt thành các kì hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó kiểm soát hiệu quả sử dụng vốn từng lần vay,chỉ
có thể phát hiện khi khách hàng nộp báo cáo tài chính hoặc dư nợ lâu không giảm sút
+Cho vay luân chuyển :
Trang 7• Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn Ngân hàng có thể cho vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng
• Theo hình thức này ,giá trị hàng hóa mua vào (có hóa đơn ,hợp pháp , hợp lệ ,đúng đối tượng )đều là đối tượng được ngân hàng cho vay ; thu nhập bán hàng đều là nguồn để chi trả cho ngân hàng Vì vậy ,các khoản phải thu và hàng hóa trong kho trở thành vật bảo đảm cho khoản vay
• Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho các khách hàng vì thủ tục vay chỉ cần thực hiện một lần cho nhiều lần vay Khách hàng được đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời, vì vậy việc thanh toán cho nhà cung cấp sẽ nhanh gọn Ngược lại, nếu khách hàng gặp khó khăn trong việc tiêu thụ thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn do thời hạn của khoản vay không được quy định rõ ràng
+Cho vay trả góp :
• Cho vay trả góp là hình thức tín dụng qua đó ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận Cho vay trả góp thường được áp dụng đối với những khoản vay trung và dài hạn hoặc tài trợ cho những hàng hóa lâu bền
• Cho vay trả góp có độ rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng hàng hóa mua trả góp Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của người vay.Cho vay trả góp thường có mức lãi suất cao nhất trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng
+Cho vay gián tiếp :
• Là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian như :nhóm sản xuất ,hội nông dân,hội cựu chiến binh,hội phụ nữ Cho vay gián tiếp
Trang 8thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều món vay nhỏ ,người vay phân tán,cách xa ngân hàng
• Ngân hàng có thể chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang các tổ chức trung gian như thu nợ , phát tiền vay…Tổ chức trung gian cũng có thể đứng ra bảo đảm cho các thành viên vay ,hoặc các thành viên trong nhóm bảo lãnh cho một thành viên vay.Điều này rất thuận tiện khi người vay không có hoặc không đủ tài sản thế chấp
-Hoạt động cho vay chiếm một tỷ trọng lớn trong khoản mục tín dụng của ngân hàng và cũng là hoạt động hàm chứa nhiều rủi ro nhất Tổn thất nếu xảy ra rủi ro từ hoạt động cho vay đem lại có thể thua lỗ hoặc phá sản cho ngân hàng.Chính vì vậy ,những biện pháp để hạn chế rủi ro phát sinh,giải quyết và bù đắp những tổn thất đã xảy ra là một trong những nội dung chính của quản lý tín dụng trong ngân hàng Một trong những nội dung quan trọng
đó là hoạt động bảo đảm trong cho vay của ngân hàng
1.1.2 Khái niệm hoạt động bảo đảm trong cho vay của ngân hàng thương mại
-Bảo đảm trong cho vay chính là việc bảo vệ quyền lợi của người cho vay dựa trên cơ sở thế chấp ,cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người đi vay hoặc bảo lãnh của bên thứ ba
Các ngân hàng và các định chế tài chính khác coi bảo đảm tín dụng là nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thu nợ thứ nhất (các lưu chuyển tiền tệ) không thể thanh toán được nợ Trong cho vay kinh doanh,nguồn thu nợ thứ nhất từ doanh thu thực tế đối với cho vay ngắn hạn,từ khấu hao và lợi nhuận đối với cho vay trung và dài hạn.Trong cho vay tiêu dùng nguồnthu nợ thứ nhất từ thu nhập cá nhân như tiền lương , các khỏan thu nhập tài chính, (lãi tiền gửi ,
cổ tức ,trái tức) và các khoản thu nhập khác Các nguồn thu nợ thứ nhất này thể hiện dưới hình thức lưu chuyển tiền tệ của người đi vay.Trong hoạt động
Trang 9kinh doanh có muôn ngàn lý do dẫn đến nguồn thu nợ thứ nhất không thể thực hiện được ,nếu không có một nguồn bổ sung tất yếu ngân hàng sẽ gặp rủi ro tín dụng Vì vậy ,để bảo vệ lợi ích của mình ngân hàng thường yêu cầu người đi vay có các bảo đảm cần thiết ,ngoại trừ những khách hàng có hoạt động tốt và quan hệ tín dụng thường xuyên.
-Các đặc trưng của bảo đảm trong cho vay :
Nhìn chung ,bất kì tài sản hoặc quyền về tài sản được phép giao dịch mà có khả năng tạo ra lưu chuyển tiền tệ đều có thể dùng làm bảo đảm Tuy nhiên
từ góc độ của người cho vay bảo đảm phải thể hiện được ba đặc trưng sau:+Giá trị được bảo đảm phải lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm :
Bảo đảm trong cho vay không chỉ là nguồn thu nợ của ngân hàng mà còn có
ý nghĩa thúc dục người đi vay trả nợ ,nếu không họ sẽ mất tài sản Nhưng nếu giá trị của tài sản nhỏ hơn nghĩa vụ được bảo đảm thì người đi vay dễ có động cơ không trả nợ
Nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm vốn gốc ,lãi (kể cả lãi quá hạn) và các chi phí khác trừ trường hợp các bên có thỏa thuận lãi và các loại phí không thuộc phạm vi bảo đảm được thực hiện nghĩa vụ
+Tài sản phải có sẵn thị trường tiêu thụ :
Mức độ thanh khoản của tài sản có quan hệ đến lợi ích của người cho vay Mức độ thanh khoản thấp hay nói cách khác là tài sản khó bán thường khó được ngân hàng chấp nhận Mức độ thanh khoản trung bình có thể chấp nhận được nhưng phải tính đến chi phí do kéo dài thời gian xử lý
+Có đầy đủ cơ sở pháp lý để người cho vay có quyền ưu tiên về xử lý tài sản:
Đặc trưng này phải thể hiện được các mặt sau : tài sản phải thuộc sở hữu hợp pháp của người đi vay hoặc người bảo lãnh và được pháp luật cho phép giao dịch,đồng thời phải có đủ cơ sở pháp lý để ngân hàng – chủ thể cho vay
Trang 10được quyền ưu tiên xử lý tài sản nhằm thu nợ khi người đi vay không thanh toán đúng hạn.
1.1.3 Vai trò của hoạt động bảo đảm trong cho vay của ngân hàng thương mại
-Hoàn trả tín dụng là điều kiện quan trọng nhất thực hiện mục tiêu trong kinh doanh của ngân hàng Để thu hồi được nợ ngân hàng phải xem xét một cách thận trọng đến uy tín và năng lực của khách hàng từ đó áp dụng các phương pháp cho vay thích hợp
+Nếu khách hàng được xếp hạng tín nhiệm cao như phẩm chất tốt trong kinh doanh ,có khả năng tài chính lành mạnh ,chấp hành tốt các hợp đồng tín dụng trong quá khứ và có triển vọng kinh doanh trong tương lai thì ngân hàng cho vay không cần bảo đảm
+Nếu khách hàng không đạt được các tiêu chuẩn cần thiết như trên thì để hạn chế rủi ro buộc ngân hàng phải cho vay có bảo đảm
-Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro sai hẹn và rủi ro phá sản là loại rủi ro dẫn đến tổn thất lớn nhất cho ngân hàng ,vì vậy cần thiết phải thực hiện các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của khách hàng đi vay
-Trong thực tế nếu chúng ta vận dụng các hình thức bảo đảm thích hợp với các loại và kĩ thuật cho vay , cũng như các dự án cụ thể thì vai trò của hoạt động bảo đảm trong cho vay sẽ được thể hiện như sau :
+Giảm bớt tổn thất cho ngân hàng khi khách hàng vì một lý do nào đó không thanh toán được nợ cho ngân hàng
+Làm động lực thúc đẩy khach hàng thực hiện nghĩa vụ trả nợ Nếu không
có bảo đảm có thể dẫn đến việc lơ là nghĩa vụ trả nợ Ngược lại nếu có bảo đảm sẽ tạo động lực tốt hơn cho nghĩa vụ trả nợ , vì nếu không sẽ mất tài sản
Trang 11và tốn kém chi phí nhiều hơn Mặt khác, bảo đảm trong cho vay còn là rào cản đối với những người đi vay co chủ ý lừa đảo
Như vậy bảo đảm có ý nghĩa rất lớn trong hạn chế rủi ro tín dụng ,là một mắt xích quan trọng trong chính sách quản lý tín dụng Chúng ta cần nhận thức rõ được vai trò của hoạt động bảo đảm và đặt nó đúng chỗ để vừa mở rộng được hoạt động cho vay của ngân hàng đồng thời vừa có được những hợp đồng tín dụng chất lượng, hiệu quả cho ngân hàng
1.2 Các hình thức bảo đảm trong cho vay của ngân hàng thương mại
1.2.1 Cho vay cầm cố tài sản
-Ngoại tệ, tiền mặt ,tiền trên tài khoản
-Giấy tờ có giá như trái phiếu, cổ phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc và các giấy tờ có giá khác (vận đơn ) Cổ phiếu của chính tổ chức
tín dụng không được cầm cố vay vốn tại tổ chức tín dụng đó
-Quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền được nhận số tiền bảo hiểm, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng hay từ căn
cứ pháp lý khác
-Quyền đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, kể cả trong DN có vốn đầu tư nước ngoài
Trang 12-Quyền đối với giống cây trồng, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên theo quy định của pháp luật.
• Hàng hóa dễ tiêu thụ trong hiện tại và tương lai
• Hàng hóa được phép lưu thông và khách hàng được phép kinh doanh loại hàng hóa đó
Trên thực tế ,hàng hóa cầm cố thông dụng bao gồm :
Hàng hóa mới mua hoặc nhập khẩu như nguyên vật liệu, nhiên liệu dùng cho sản xuất kinh doanh ; hàng hóa sản xuất chờ tiêu thụ hoặc xuất khẩu ; máy móc, thiết bị ,xe cộ mới hoặc đang sử dụng
Trang 13Các ngân hàng thường cầm cố các loại hàng hóa mới (chưa sử dụng) và chỉ chấp nhận các loại hàng hóa đã qua sử dụng với điều kiện được thị trường chấp nhận một cách rộng rãi ví dụ :phương tiện vận chuyển phổ cập
+ Quản lý hàng hóa cầm cố : Việc quản lý hàng hóa cầm cố được thực hiện theo các cách sau :
• Quản lý tại kho ngân hàng :
Cách thức quản lý này bảo đảm nắm chắc hàng hóa cầm cố nhưng tốn kém
về cơ sở vật chất và quản lý Trên thực tế ít ngân hàng áp dụng cách quản lý này Quy trình quản lý tại kho ngân hàng như sau :
Khách hàng chuyển giao tài sản cho ngân hàng Khi nhận tài sản ngân hàng phải lập biên bản giao nhận hàng hóa Trong quá trình cầm cố ngân hàng phải bảo quản và giữ gìn hàng hóa để khỏi hư hỏng mất mát ,không được sử dụng , bán , đổi , tặng , cho thuê và phải bồi thường mọi thiệt hại liên quan đến hàng hóa cho người cầm cố
Khi khách hàng đã thanh toán xong nợ thì ngân hàng sẽ trả lại hàng cho khách hàng cầm cố
Cách cầm cố tại kho của ngân hàng được áp dụng phổ biến trong giai đoạn đầu thế kỉ 20 trở về trước tại các thành phố cảng Ngày nay, cách thức quản lý này ít được áp dụng
• Quản lý tại kho của khách hàng cầm cố :
Hàng hóa cầm cố được đặt tại một kho riêng của khách hàng và đặt dưới
sự quản lý của ngân hàng Đồng thời để xác nhận hàng hóa đó đã được cầm
cố ngân hàng phải kí một hợp đồng thuê kho với khách hàng và đăng kí hợp đồng đó với cơ quan quản lý nhà nước Giá thuê kho ở hợp đồng này chỉ mang tính chất tượng trưng
Trang 14Để bảo đảm an toàn cho hàng hóa cầm cố ngân hàng phải chọn những kho kiên cố và có hệ thống thiết bị bảo đảm an toàn , phù hợp với tính chất của hàng hóa cầm cố Mặt khác , ngân hàng là người duy nhất giữ chìa khoá và được phép ra vào kho ,đồng thời ngân hàng có bảng niêm phong kho mang tên ngân hàng
• Quản lý tại kho của bên thứ ba :
Người thứ ba có thể là người nhận kí thác đơn thuần , có thể là người nhận
ký gửi để bán hàng hóa hộ , hoặc có thể là người nhận gia công hàng hóa
Để người thứ ba có trách nhiệm quản lý hàng hóa , người này phải tham gia vào việc ký kết hợp đồng cầm cố và phải cam kết rằng chỉ được chuyển giao hàng hóa khi có sự đồng ý của ngân hàng
Tuy nhiên theo qui định của pháp luật , đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu thì khi cầm cố tài sản phải giao cho tổ chức tín dụng giữ Vì vậy, đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu ngân hàng có thể lập thủ tục thuê kho của bên thứ ba bảo hiểm giống như quản lý tại kho của khách hàng cầm cố , hoặc áp dụng phương thức cầm cố các quyền tài sản phát sinh
từ hợp đồng ký thác , hợp đồng gia công…
+ Xác định quyền sở hữu tài sản của người cầm cố :
Tài sản cầm cố bao gồm tài sản có đăng ký quyền sở hữu và tài sản không đăng ký quyền sở hữu Đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu thì việc xác định quyền sở hữu tài sản chủ yếu dựa vào các giấy tờ các loại giấy chứng nhận đăng ký tài sản do các cơ quan nhà nước cấp Đối với những hàng hóa không đăng ký quyền sở hữu tài sản thì việc xác định quyền sở hữu tài sản tương đối phức tạp Các ngân hàng thường giám định dựa trên cơ sở hóa đơn , giấy chứng nhận hoàn thành thủ tục hải quan , bản kê khai hàng tồn
Trang 15kho ….Ngoài ra , ngân hàng còn phải kiểm tra các mặt hoạt động để có them thông tin bổ sung nhằm hạn chế rủi ro pháp lý
- Chiết khấu ký hóa phiếu :
+ Chiết khấu ký hóa phiếu là một hình thức cho vay bảo đảm bằng quyền về tài sản xuất phát từ hợp đồng ký thác hàng hóa
Các công ty kinh doanh kho được pháp luật cho phép nhận ký gửi hàng hóa của các doanh nghiệp Cần lưu ý các công ty kinh doanh kho trước khi được cấp giấy phép hoạt động phải có một hệ thống kho an toàn được trang
bị hệ thống phòng cháy và chữa cháy , mặt khác công ty về ký thác hàng hóa không được làm chức năng mua bán hàng hóa
+ Quy trình ký thác hàng hóa như sau :
• Giao nộp hàng hóa để lưu giữ
• Công ty kinh doanh kho phát hành biên lai – ký hóa phiếu và giao cho người ký thác
• Khi người ký thác muốn nhận hàng hóa phải xuất trình đồng thời cả biên lai và ký hóa phiếu
+ Khi người ký thác hàng hóa có nhu cầu vốn ngắn hạn , họ có thể đến ngân hàng để xin vay trên cơ sở bảo đảm bằng hàng hóa đã ký thác tại công ty kinh doanh kho Số tiền được vay chỉ bằng một tỷ lệ nhất định của giá trị hàng hóa , ngân hàng giữ lại một phần để bảo đảm an toàn cho số tiền cho vay
Kỹ thuật cho vay của ngân hàng được áp dụng trong trường hợp này là kỹ thuật chiết khấu
Trang 16Khách hàng tách ký hóa phiếu ra khỏi biên lai và chuyển giao cho ngân hàng bằng cách bối thự
Trong bối thự bao gồm các nội dung sau :
• Tên ngân hàng được bối thự (người hưởng thụ tiếp theo)
• Số tiền khách hàng phải thanh toán với ngân hàng
• Kỳ hạn thanh toán
Nhận được ký hóa phiếu đã bối thự cho ngân hàng sẽ chiết khấu và cấp cho khách hàng số tiền bằng số tiền thanh toán trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí Sau đó sẽ tiến hành thông báo cho công ty kinh doanh kho để họ ghi vào sổ sách theo dõi
+ Chiết khấu ký hóa phiếu tương đối an toàn và có nhiều thuận lợi cho ngân hàng ,vì các lý do sau đây :
• Ký hóa phiếu đại diện cho một lượng hàng hóa có thực được lưu trữ tại các kho an toàn Mặt khác các kho hàng hóa thường xuyên được bảo hiểm đầy đủ
• Ngân hàng ít bị rủi ro về hư hỏng và mất hàng hóa vì tại đây đã có một đội ngũ nhân sự có năng lực về kiểm soát và bảo quản hàng
• Chiết khấu ký hóa phiếu sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng thương mại
có thêm nguồn vốn thông qua tái chiết khấu tại ngân hàng trung ương
- Cầm cố các chứng khoán :
+ Cho vay cầm cố bằng chứng khoán là một nghiệp vụ cho vay đơn giản , khách hàng chuyển giao chứng khoán cho ngân hàng để nhận tiền vay Khi đáo hạn khách hàng trả nợ cho ngân hàng và nhận lại các chứng khoán đã cầm cố
Trang 17Hình thức cầm cố này rất phổ biến ở các nước trên thế giới Riêng ở nước
ta hình thức này mới trong quá trình hình thành , nhưng trong một vài năm tới chắc chắn sẽ có xu hướng phát triển nhanh
Giá trị của các chứng khoán phần lớn được xác định theo giá thị trường chứ không phải theo mệnh giá của chúng và đây là một vấn đề hết sức phức tạp đòi hỏi phải có các chuyên viên chứng khoán mới có thể xác định được Thông thường đối với các chứng khoán nhà nước tỷ trọng cho vay so với giá trị định giá cao hơn so với các chứng khoán công ty , vì đối với các chứng khoán công ty có mức độ rủi ro tín dụng và rủi ro lãi suất cao , hay nói cách khác là chứng khoán công ty có mức độ hoàn trả thấp và giá cả biến động với biên độ cao
- Bảo đảm bằng tiền gửi :
Trang 18+ Tiền gửi dùng làm bảo đảm cho khoản ứng trước của ngân hàng chủ yếu là tiền gửi có kỳ hạn và tiết kiệm kể cả chứng chỉ tiền gửi , còn đối với tiền gửi thanh toán khi dùng làm bảo đảm cho ngân hàng phải được chuyển sang một tài khoản phong tỏa
+ Tiền gửi là tài sản bảo đảm an toàn và ít tốn kém vì các lý do sau :
• Không cần phải định giá
• Chi phí phát sinh trong việc quản lý bảo đảm không đáng kể
• Việc xử lý tài sản để thu hồi nợ tương đối đơn giản
+ Với hình thức bảo đảm này thì tỷ trọng cho vay của ngân hàng tương đối cao và mức cho vay được tính dựa trên công thức :
Tv = Tg ( 1 + R1 ) ( 1+ R2)
Tv : Số tiền cho vay tối đa R1 : Lãi suất tiền gửi
Tg : Mệnh giá của tiền gửi R2 : Lãi suất cho vay
Lãi suất tiền gửi được tính trong công thức trên là lãi suất ngân hàng chấp nhận thanh toán ,khi phải thanh lý tiền gửi để trả nợ Thông thường lãi suất này nhỏ hơn lãi suất tiền gửi theo hợp đồng và thậm chí bằng không Mức lãi suất cụ thể phụ thuộc vào quy định của ngân hàng
Trong trường hợp tiền vay và tiền gửi bảo đảm là hai loại tiền khác nhau thì phải có một mức dự phòng về thay đổi tỷ giá hối đoái
Trong trường hợp tiền gửi được ký thác ở một chi nhánh hoặc một ngân hàng khác thì ngân hàng cho vay phải thẩm tra tính hiện thực của của tiền gửi đó đồng thời phải có sự xác nhận của ngân hàng nhận ký thác chấp thuận
Trang 19ký thác ngân hàng cho vay được phép thu nợ từ khoản tiền gửi của khách hàng trong trường hợp khách hàng không thanh toán tiền vay đúng hạn
- Bảo đảm bằng vàng :
Bảo đảm bằng vàng là hình thức bảo đảm trong cho vay đối với cá nhân Vàng dùng làm bảo đảm được ký gửi và bảo quản tại ngân hàng Phần lớn các ngân hàng thương mại Việt Nam đều có nghiệp vụ kinh doanh vàng , đây là một thuận lợi cho việc phân kim và định giá vàng làm cơ sở để xác định mức cho vay Đối với các ngân hàng hoặc chi nhánh không có nhân viên kỹ thuật về vàng nhất thiết phải nhờ đến dịch vụ phân kim và định giá của các công ty kinh doanh vàng
- Bảo đảm bằng các khoản phải thu :
Các khoản nợ của người thứ ba đối với khách hàng vay vốn được coi là tài sản bảo đảm cho các khoản vay ngắn hạn
- Bảo đảm bằng hợp đồng nhận thầu :
Các công ty xây dựng hoặc các công ty cung ứng thiết bị ,vật tư có hợp đồng về xây dựng hoặc hợp đồng cung cấp , nếu thiếu vốn để thực hiện hợp đồng có thể nhượng lại các hợp đồng đó cho ngân hàng để được tài trợ vốn ngắn hạn
Cho vay bảo đảm bằng hợp đồng nhận thầu đôi lúc cũng có rủi ro cho ngân hàng , rủi ro này xuất phát từ các nguyên nhân sau :
• Người nhận thầu không đủ khả năng thực hiện hợp đồng
• Chủ đầu tư hoặc người nhận thầu chính không sẵn lòng thanh toán khi bên nhận thầu đã thực hiện theo hợp đồng
Trang 20Các hợp đồng nhận thầu xây dựng hoặc cung cấp hàng hóa cho các tổ chức nàh nước được coi là an toàn hơn so với các hợp đồng tư nhân , tuy nhiên trong một số trường hợp cũng có thể gặp rủi ro thanh toán chậm Các hợp đồng nhận thầu tư nhân có nhiều rủi ro hơn , vì vậy ngân hàng phải nghiên cứu kỹ các bên hợp đồng , đặc biệt là nghiên cứu nguồn vốn thanh toán của chủ đầu tư
- Bảo đảm bằng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ :
Xuất phát từ việc giải quyết các tổn thất tài chính gắn liền với tử vong , thương tật và hưu trí mà phần lớn các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vừa có ý nghĩa bảo vệ rủi ro ,vừa là hình thức tiết kiệm Tính chất tiết kiệm bao hàm trong hợp đồng bảo hiểm sẽ giúp cho người hưởng thụ có một ngân quỹ trong tương lai Nguồn ngân quỹ này chính là cơ sở bảo đảm để thực hiện các quan hệ tín dụng
Cho vay bảo đảm bằng hợp đồng bảo hiểm áp dụng cho các cá nhân và trong một số trường hợp cho các doanh nghiệp nhỏ Đây là hình thức bảo đảm tương đối tiện lợi vì tính thanh khoản cao và ít tốn kém về chi phí quản
lý Tuy nhiên hình thức bảo đảm này cần chú ý hai vấn đề sau : Hợp đồng bảo hiểm có được phép chuyển nhượng không và cách thức xử lý khi người đóng bảo hiểm vi phạm như thế nào ? Dựa vào hai cơ sở trên đây để ngân hàng ra quyết định chấp nhận hợp đồng bảo hiểm làm bảo đảm , định giá trị bảo đảm và thủ tục bảo đảm
1.2.2 Cho vay thế chấp tài sản
* Thế chấp tài sản:
Trang 21Là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp.
• Quyền đòi nợ
• Hàng tồn kho luân chuyển
• Máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải trong trường hợp Bên thế chấp không giao tài sản cho Bên nhận thế chấp và tiếp tục khai thác sử dụng tài sản
* Đặc điểm của việc thế chấp tài sản:
- Bên thế chấp:
+ Được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản, trừ trường hợp hoa lợi, lợi tức tài sản cũng thuộc tài sản thế chấp theo thoả thuận
+ Được đầu tư để làm tăng giá trị của tài sản thế chấp
+ Được bán, thay thế tài sản thế chấp trong trường hợp tài sản thế chấp là hàng hoá luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh Tuy nhiên số tiền
Trang 22thu được hoặc tài sản hình thành từ số tiền thu được trở thành tài sản thế chấp thay thế cho số tài sản đã bán.
+ Được bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp không phải là hàng hoá luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh nếu được bên thế chấp đồng ý.+ Được cho thuê, cho mượn tài sản thế chấp không phải là hàng hoá luân chuyển nhưng phải thông báo cho bên thuê, bên mượn biết tài sản đang được thế chấp và phải thông báo cho Bên nhận thế chấp biết
- Bên nhận thế chấp:
+ Được xem xét, kiểm tra trực tiếp tài sản thế chấp nhưng không được cản trở hoặc gây khó khăn cho việc sử dụng, khai thác tài sản thế chấp ;
+ Có quyền yêu cầu bên mượn, bên thuê tài sản thế chấp phải chấm dứt việc
sử dụng, khai thác tài sản thế chấp nếu việc sử dụng làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị tài sản đó;
* Các loại cho vay thế chấp tài sản :
- Thế chấp pháp lý và thế chấp công bằng :
+ Thế chấp pháp lý là hình thức thế chấp mà trong đó người đi vay (người thế chấp) thỏa thuận chuyển quyền sở hữu cho ngân hàng khi không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ Theo hình thức này , khi người đi vay không thanh toán được nợ ngân hàng được quyền bán tài sản hoặc cho thuê với tư cách là người chủ sở hữu mà không cần thực hiện các thủ tục tố tụng để nhờ
sự can thiệp của tòa án
+ Thế chấp công bằng (thế chấp thông thường) là hình thức thế chấp mà trong đó ngân hàng chỉ nắm giữ giấy chứng nhận sở hữu tài sản hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để bảo đảm cho món vay Khi người đi vay
Trang 23không thực hiện được nghĩa vụ theo hợp đồng , việc xử lý tài sản phải dựa trên cơ sở thỏa thuận giữa người cho vay và người đi vay hoặc phải nhờ đến
sự can thiệp của tòa án nếu có tranh chấp
+ Thế chấp thứ nhất có hai trường hợp : Thế chấp cho một bên cho vay và thế chấp cho nhiều bên cho vay dưới hình thức hợp vốn (đồng tài trợ) Trong trường hợp thế chấp cho khoản vay hợp vốn , việc quản lý tài sản và giấy tờ của tài sản bảo đảm do một ngân hàng đại diện thực hiện
+ Thế chấp thứ hai là hình thức thế chấp , trong đó người đi vay sử dụng phần giá trị chênh lệch giữa giá trị tài sản thế chấp và khoản nợ thứ nhất được bảo đảm bằng tài sản đó để bảo đảm cho khoản nợ thứ hai
+Trong thế chấp để thực hiện nhiều nghĩa vụ (thế chấp thứ nhất và thứ hai)
có một số điểm lưu ý sau :
• Trong trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp để thanh toán một khoản
nợ đến hạn, thì các khoản nợ khác chưa đến hạn cũng được coi là đến hạn
• Thứ tự ưu tiên thanh toán được xác định theo thứ tự đăng ký thế chấp
• Theo quy định hiện hành thế chấp thứ nhất và thế chấp thứ hai chỉ được thực hiện tại một tổ chức tín dụng
Trang 24- Thế chấp trực tiếp và thế chấp gián tiếp :
+ Thế chấp trực tiếp hay còn gọi là thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốn vay là hình thức thế chấp mà tài sản thế chấp do vốn vay tạo nên Ví dụ ngân hàng cho vay để mua một căn nhà và dùng chính căn nhà đó để thế chấp cho ngân hàng
+ Theo Nghị định 178 , thế chấp trực tiếp chỉ áp dụng trong cho vay trung và dài hạn đối với các dự án đầu tư sản xuất , kinh doanh , dịch vụ , đời sống và khách hàng đi vay phải thỏa mãn các điều kiện sau :
• Có tín nhiệm đối với tổ chức tín dụng
• Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ
Trang 25tài sản khác của người thế chấp gắn liền với đất chỉ thuộc tài sản thế chấp nếu có thỏa thuận
+ Trong thực tế các ngân hàng thường thế chấp toàn bộ bất động sản Thế chấp một phần chỉ áp dụng trong trường hợp phần tải sản thế chấp có thể phát mại riêng mà không ảnh hưởng đến quyền lợi của bên nhận thế chấp Đối với các tài sản gắn liền với đất như nhà ở , các công trình xây dựng chỉ được nhận thế chấp cùng với giá trị quyền sử dụng đất
1.2.3 Cho vay có bảo đảm bằng bảo lãnh
* Cho vay có bảo đảm bằng bảo lãnh:
Là việc bên thứ ba cam kết với bên cho vay (người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên đi vay (người được bảo lãnh ) ,nếu khi đến thời hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ
* Các bên tham gia :
- Người bảo lãnh là người thực hiện nghĩa vụ thay cho người đi vay đối với người cho vay (ngân hàng).Người bảo lãnh có thể là cá nhân hoặc pháp nhân Một bảo lãnh có thể có nhiều người tham gia cùng bảo lãnh Trong trường hợp này những người tham gia bảo lãnh phải liên đới chịu trách nhiệm và ngân hàng cho vay có quyền yêu cầu bất cứ ai trong số những người bảo lãnh phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ Tuy nhiên nếu chứng thư bảo lãnh có quy định phần bảo lãnh cho từng người cụ thể thì miễn trừ nghĩa vụ liên đới
-Người nhận bảo lãnh là người chủ nợ, người hưởng thụ bảo lãnh Trong quan hệ tín dụng đó là các ngân hàng cho vay
Trang 26-Người được bảo lãnh là người đi vay (con nợ), người có nghĩa vụ phải thanh toán nợ cho ngân hàng cho vay
* Các loại hình bảo lãnh :
- Bảo lãnh có bảo đảm bằng tài sản hoặc bằng uy tín :
+ Bảo lãnh có bảo đảm bằng tài sản là bên bảo lãnh phải có tài sản để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh Việc bảo lãnh bằng tài sản có thể kèm theo biện pháp thế chấp hoặc cầm cố để thực hiện nghĩa vụ hoặc không do tổ chức tín dụng và bên bảo lãnh thỏa thuận Đây là hình thức bảo đảm kép nhằm đề phòng khi người bảo lãnh không thực hiện được nghĩa vụ thì ngân hàng có thể xử lý tài sản kèm theo bảo lãnh
+ Bảo lãnh bằng uy tín là hình thức bảo lãnh chỉ dựa vào uy tín của người bảo lãnh Theo quy định của pháp luật hiện hành bên bảo lãnh không phải là
tổ chức tín dụng chỉ được bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của mình Còn các tổ chức tín dụng được phép bảo lãnh vay bằng uy tín và khả năng nhận tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh
- Bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ :
Người bảo lãnh có thể bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ số nợ phải thanh toán cho ngân hàng Trong trường hợp bảo lãnh một phần thì phải ghi rõ số tiền bảo lãnh Những trường hợp pháp luật qui định cho vay phải có bảo đảm thì chỉ áp dụng bảo lãnh một phần trong trường hợp phần còn lại phải có tài sản thế chấp hoặc cầm cố nếu không bắt buộc phải có bảo lãnh toàn bộ
- Bảo lãnh riêng biệt và bảo lãnh duy trì :
+ Bảo lãnh riêng biệt được áp dụng cho một số tiền vay cụ thể theo hợp đồng tín dụng và được hạch toán riêng trên tài khoản cho vay
Trang 27+ Bảo lãnh duy trì là hành vi bảo lãnh cho một loạt các giao dịch và mức bảo lãnh theo hạn mức tối đa Phương thức bảo lãnh này được áp dụng khi cho vay bằng kỹ thuật thấu chi trên tài khoản vãng lai
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động bảo đảm trong cho vay của NHTM
Ở từng thời kỳ , hoạt động bảo đảm trong cho vay của ngân hàng thương mại sẽ có những sự thay đổi Những thay đổi đó phụ thuộc vào các yếu tố sau:
* Quy định của nhà nước về giao dịch bảo đảm :
Tùy thuộc vào điều kiện của nền kinh tế ,chính trị, xã hội , ở mỗi giai đoạn nhà nước lại ban hành những quy định về giao dịch bảo đảm khác nhau , phù hợp với mục tiêu , điều kiện phát triển kinh tế của đất nước Mới gần đây nhất là Nghị định của chính phủ số 163/2006/NĐ-CP Ngày 29 tháng 12 năm
2006 về giao dịch bảo đảm thay thế cho Nghị định số 165/1999/NĐ-CP Ngày 19 tháng 11 năm 1999 của chính phủ về giao dịch bảo đảm
- Nghị định về giao dịch bảo đảm quy định những vấn đề cơ bản nhất về hoạt động bảo đảm buộc các Ngân hàng thương mại phải tuân theo Đó là các quy định về giao kết giao dịch bảo đảm , đăng kí giao dịch bảo đảm ; thực hiện giao dịch bảo đảm như cầm cố tài sản, thế chấp tài sản …;việc xử
lý tài sản đảm bảo
- Các Nghị định này sẽ làm cơ sở để các ngân hàng thương mại thực hiện hoạt động bảo đảm trong cho vay của mình, hay nói cách khác hoạt động bảo đảm của Ngân hàng thương mại phải được hình thành, xây dựng và phát
Trang 28triển trên cơ sở của Nghị định này Các Ngân hàng thương mại phải tuân thủ một cách nghiêm ngặt các Nghị định này dưới sự giám sát của nhà nước
- Khi Nghị định này được bổ sung hay ban hành thay thế các Ngân hàng thương mại sẽ nhận được văn bản hướng dẫn triển khai thi hành để sửa đổi ,
bổ sung , hoàn thiện hoạt động bảo đảm của mình theo cơ sở Nghị định mới Nghị định của chính phủ số 163/2006/NĐ-CP Ngày 29 tháng 12 năm 2006
về giao dịch bảo đảm thay thế cho Nghị định số 165/1999/NĐ-CP Ngày 19 tháng 11 năm 1999 của chính phủ về giao dịch bảo đảm có những điều khoản mới buộc hoạt động bảo đảm của các Ngân hàng thương mại phải thay đổi như :
+ Về bên bảo đảm: Trước đây, Nghị định 165/1999/NĐ-CP quy định bên bảo đảm là bên có nghĩa vụ dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; người thứ ba dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cam kết bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự thay cho bên có nghĩa
vụ, thì phải áp dụng biện pháp bảo lãnh bằng tài sản Nghị định số 163/2006/NĐ-CP quy định bên bảo đảm không chỉ là bên có nghĩa vụ trong quan hệ dân sự mà có thể là ngừơi thứ ba cam kết bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự thay cho bên có nghĩa vụ
+ Giá trị tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự: Điều 5 Nghị định 163 quy định nếu bên bảo đảm dùng một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 324 Bộ luật Dân
sự, thì các bên có thể thỏa thuận dùng tài sản có giá trị nhỏ hơn, bằng hoặc lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
+ Việc đăng ký giao dịch bảo đảm: Các trường hợp bắt buộc phải đăng ký giao dịch bảo đảm bao gồm: thế chấp quyền sử dụng đất; thế chấp quyền sử
Trang 29dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng; thế chấp tàu bay, tàu biển; thế chấp một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ; các trường hợp khác, nếu pháp luật có quy định Các trường hợp không thuộc diện phải đăng ký thì theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân
+ Các tổ chức tín dụng phải đặc biệt chú trọng việc đăng ký giao dịch bảo đảm đối với việc bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay, vì Điều 69 Nghị định quy định trong trường hợp giao dịch bảo đảm được giao kết để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai thì nghĩa vụ trong tương lai có thứ tự ưu tiên thanh toán theo thứ tự đăng ký giao dịch bảo đảm đó, không phụ thuộc vào thời điểm xác lập giao dịch dân sự làm phát sinh nghĩa
vụ trong tương lai
Với những thay đổi này, các Ngân hàng thương mại sẽ phải điều chỉnh hoạt động bảo đảm của mình theo luật định
Như vậy, quy định của nhà nước về giao dịch bảo đảm là khung pháp lý cơ bản cho hoạt động bảo đảm trong cho vay của các Ngân hàng thương mại
Nó chi phối và quyết định đến hoạt động bảo đảm của các Ngân hàng thương mại
* Chính sách tín dụng của ngân hàng thương mại :
- Hoạt động tín dụng là hoạt động bao trùm của ngân hàng Nó có tầm quan trọng và qui mô lớn hoạt động này được thực hiện theo một chính sách rõ ràng được xây dựng và hoàn thiện qua nhiều năm , đó là chính sách tín dụng
- Chính sách tín dụng quy định quy định những vấn đề liên quan đến cấp tín dụng trong đó có các khỏan đảm bảo Chính sách đảm bảo gồm các qui định
về các trường hợp tài trợ cần đảm bảo bằng tài sản , các loại đảm bảo cho
Trang 30mỗi loại hình tín dụng ,danh mục các đảm bảo được ngân hàng chấp nhận ,tỷ
lệ phần trăm cho vay trên đảm bảo , đánh giá và quản lý đảm bảo
- Ở mỗi thời kì , tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và điều kiện của từng Ngân hàng thương mại thì mỗi ngân hàng lại có một chính sách tín dụng riêng Chính sách tín dụng sẽ quyết định đến hoạt động bảo đảm trong cho vay của các ngân hàng ví dụ như : một ngân hàng đang thực hiện chính sách tín dụng mở rộng cho vay đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các mặt hàng xuất khẩu theo chủ trương của chính phủ thì bên cạnh các vấn đề về quy mô, lãi suất, kì hạn …vấn đề về hoạt động bảo đảm cũng phải cũng phải được xây dựng theo định hướng đã đề ra Hoạt động bảo đảm trong cho vay sẽ được nới rộng ra đối với các doanh nghiệp xuất khẩu như : thực hiện cho vay tín chấp với các doanh nghiệp xuất khẩu lớn ; thực hiện đa dạng hóa các loại đảm bảo cho mỗi loại hình tín dụng ; danh mục các loại tài sản đảm bảo cho các doanh nghiệp này phong phú hơn ; tỷ
lệ cho vay trên tài sản đảm bảo đối với các doanh nghiệp xuất khẩu nới rộng….Hay một ví dụ khác : để khắc phục tình trạng tăng trưởng tín dụng quá nóng của ngân hàng , chính sách tín dụng trong giai đoạn này là hạn chế cho vay thì hoạt động bảo đảm sẽ được thắt chặt hơn như : giảm tỷ lệ cho vay trên tài sản đảm bảo ; hạn chế các loại tài sản đảm bảo…
Vậy, nếu quy định của nhà nước về giao dịch bảo đảm là khung pháp lý cơ bản thì chính sách tín dụng của Ngân hàng thương mại lại là khung chi tiết
có ảnh hưởng trực tiếp và quyết định hoạt động bảo đảm trong cho vay của ngân hàng thương mại
* Trình độ nghiệp vụ của cán bộ tín dụng :
Nếu như hai yếu tố trên là khung hình thành nên hoạt động bảo đảm trong cho vay của ngân hàng thì yếu tố trình độ nghiệp vụ của cán bộ tín dụng lại
Trang 31là một yếu tố chủ quan ; nó quyết định đến chất lượng của hoạt động bảo đảm trong cho vay
- Quy trình nghiệp vụ trong hoạt động bảo đảm đòi hỏi cán bộ tín dụng phải tuân thủ một cách nghiêm ngặt và khoa học Đặc biệt, trong việc theo dõi và
xử lý tài sản đảm bảo đòi hỏi cán bộ tín dụng phải làm việc một cách khách quan , trung thực vì giai đoạn này phụ thuộc nhiều vào chủ quan cán bộ tín dụng Do vậy, yếu tố trình độ nghiệp vụ cũng như phẩm chất của cán bộ tín dụng sẽ ảnh hưởng đến tính xác thực của hoạt động bảo đảm
- Trong hoạt động bảo đảm thì trình độ đánh giá , thẩm định tài sản đảm bảo của cán bộ tín dụng đóng vai trò vô cùng quan trọng , nó sẽ quyết định giá trị của tài sản được đem làm tài sản đảm bảo Nếu đánh giá giá trị của tài sản đảm bảo cao hơn giá trị thực tế thì có thể sẽ gây thất thoát lớn cho ngân hàng trong trường hợp khách hàng không trả được nợ và đem tài sản đảm bảo ra xử lý Mặt khác, ngày nay công nghệ ngày càng phát triển với sự ra đời của các máy móc hiện đại thì việc thẩm định , đánh giá tài sản lại càng đòi hỏi trình độ nghiệp vụ cao hơn
Yếu tố trình độ nghiệp vụ của cán bộ tín dụng là một yếu tố chủ quan , các ngân hàng có thể tuyển chọn , bồi dưỡng và đào tạo những cán bộ tín dụng
có năng lực, phẩm chất để hoạt động bảo đảm của ngân hàng đạt chất lượng tốt
Trang 32Chương 2 Thực trạng hoạt động bảo đảm trong cho vay của Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội – chi
nhánh Điện Biên Phủ
2.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội – chi nhánh Điện Biên Phủ
2.1.1 Giới thiệu tổng quan
* Ngân hàng TMCP Quân Đội được thành lập theo Quyết định số 00374/GP-UB ngày 30 tháng 12 năm 1993 của Uỷ ban nhân dân thành phố
Hà Nội và hoạt động theo giấy phép số 0054/NH-GP ngày 14 tháng 9 năm
1994 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với thời gian hoạt động là 50 năm Được thành lập từ năm 1994, qua 13 năm hoạt động MB luôn khẳng định được vị trí dẫn đầu trên thị trường tài chính ngân hàng của Việt Nam Đến cuối năm 2006 , vốn điều lệ của MB đạt 1045,2 tỷ đồng tăng hơn 50 lần so với ngày đầu thành lập, trong đó có hơn 4000 cổ đông pháp nhân và thể nhân, thể hiện sự đa dạng hóa trong sở hữu của MB Huy động vốn tính đến ngày 31/12/2006 đạt 11511,42 tỷ đồng bằng 125% kế hoạch năm , trong đó
Trang 33vốn huy động từ dân cư chiếm tỷ trọng ngày càng tăng, chiếm 50% tỷ lệ nguồn vốn huy động Đây là 1 tín hiệu hết sức đáng mừng và thể hiện uy tín của MB ngày càng được củng cố vững chắc hơn Tổng tài sản đạt 13864 tỷ đồng, tăng 69% so với năm 2005, dư nợ đạt 6166,62 tỷ đồng Lợi nhuận trước thuế đạt 252,889 tỷ đồng vượt kế hoạch 25% Tỷ lệ lợi tức trên vốn cổ phần của MB luôn dẫn đầu khối các NHTM cổ phần Đặc biệt tỷ lệ chia cổ tức cho cổ đông năm 2006 là 60% trong đó 42%được chia bằng cổ phiếu và 18% được chia bằng tiền mặt
* Với khẩu hiệu “Vững vàng-tin cậy”, không chỉ hướng đến những khách
hàng truyền thống mà MB không ngừng vươn tới phục vụ các đối tượng khách hàng khác trong nền kinh tế và góp phần vào các công trình lớn của đất nước như cảng hàng không Nội Bài,Tân Sơn Nhất , Nhà máy thủy điện Hàm Thuận,Đa Mi….MB luôn nỗ lực để phục vụ mọi đối tượng khách hàng,cố gắng đem đến sự tin tưởng và thỏa mãn cho họ Chính vì vậy mà
MB không ngừng đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ theo hướng hoàn thiện
và phát huy dịch vụ truyền thống kết hợp với phát triển các dịch vụ hiện đại như : hệ thống thanh toán thẻ , Mobile Banking ,internet banking Dịch vụ của MB liên tục được cải thiện , mang lại cho khách hàng không những hiệu quả cao về tài chính mà còn cả sự yên tâm về tuyệt đối Bên cạnh đó , MB đặc biệt chú trọng mở rộng mạng lưới kênh phân phối tại các khu vực kinh
tế trọng điểm của cả nước Hiện nay, MB đang có 40 điểm giao dịch trên khắp đất nước , đặt quan hệ đại lý với gần 600 ngân hàng trên thế giới để hợp tác cung cấp các dịch vụ ngân hàng toàn cầu Dự kiến đến cuối năm
2007, mạng lưới chi nhánh của MB sẽ tăng lên con số 65
* Chi nhánh Điện Biên Phủ là chi nhánh cấp I thuộc Hội sở chính của Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội Ngân hàng Quân Đội lập chi nhánh cấp I Điện Biên Phủ vào năm 2004 , trước đó Điện Biên Phủ là hội sở chính
Trang 34của Ngân hàng, kế thừa điều đó, chi nhánh Điện Biên Phủ luôn chứng tỏ là chi nhánh làm việc hiệu quả nhất, có chất lượng nhất trong toàn hệ thống Năm 2007 vừa qua đã đạt được danh hiệu Chi nhánh có chất lượng tín dụng tốt nhất toàn hệ thống và là chi nhánh kinh doanh có hiệu quả nhất
* Các sản phẩm dịch vụ :
1 Huy động tiền gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam , USD , EUR : tiết kiệm
có kỳ hạn , tiết kiệm không kỳ hạn , tiết kiệm tích lũy
2 Nhận vốn ủy thác đầu tư của các tổ chức,cá nhân trong và ngoài nước.3.Cho vay vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bằng đồng Việt Nam và ngoại
tệ phục vụ sản xuất , kinh doanh , dịch vụ; tài trợ, đồng tài trợ cho các dự án
4 Cho vay tiêu dùng , sinh hoạt gia đình , cho vay trả góp mua ôtô , mua , xây dựng và sửa chữa nhà ở , cho vay du học , cho vay mua cổ phần của DN
+ Chi nhánh Long Biên
+ Chi nhánh Hoàng Quốc Việt
+ Chi nhánh Minh Khai
Trang 35+ Phòng giao dịch Thành Công
+ Phòng giao dịch Nguyễn Du
+ Phòng giao dịch Lãn Ông
+ Phòng giao dịch Định Công
+ Phòng giao dịch Đào Duy Anh
2.1.2 Sơ đồ các phòng ban chi nhánh Điện Biên Phủ
Phòng Công nghệ thông tin
Phòng Hành chính Tổng hợp
PhòngKhách hàng doanh nghiệp Phòng
Thanh toán quốc tế