Tài liệu tham khảo kinh tế đầu tư: Giải pháp huy động vốn cho các dự án của công ty Cổ phần Lilama 10
Trang 1MỤC LỤC
Trang 3MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang có sự chuyển mình mạnh mẽ, Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước đã gặt hái được nhiều thành tựu đáng khích lệ Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì nền kinh tế nói chung, các doanh nghiệp nói riêng đã và đang gặp phải những trở lực trong quá trình phát triển trong đó hiện tượng thiếu vốn cho đầu tư phát triển là một trong những vấn đề nổi cộm Một cán bộ cao cấp của Đảng ta đã từng phát biểu về tình trạng thiếu vốn tại các doanh nghiệp như sau: “Vốn là nguồn lực đầu tiên
và cơ bản của sự phát triển và hiện đại hoá đất nước, cái mà các doanh nghiệp cần hiện nay là vốn, v.v và vốn, nếu không có vốn tất cả dự định của chúng
ta chỉ là mơ ước mà thôi”
Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường vừa tạo ra thời cơ nhưng cũng đem đến không ít các thách thức cho các doanh nghiệp Công ty CP Lilama 10 - một doanh nghiệp lắp máy thuộc Tổng công ty Lilama Việt Nam là một trong những doanh nghiệp
đã trải qua hơn 40 năm xây dựng và phát triển, trong quá trình hoạt động công
ty đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ Tuy nhiên, cũng như nhiều doanh nghiệp khác, công ty đang phải giải quyết rất nhiều vấn đề khó khăn
mà nổi bật là vấn đề tạo vốn đầu tư cho các dự án Nếu công ty có thể tạo ra một chính sách huy động và sử dụng vốn thích ứng, có hiệu quả thì nó sẽ là một trong những động lực cơ bản để phát triển công ty trong tương lai
Trong thời gian thực tập tại công ty cổ phần Lilama 10 Em đã có điều kiện nghiên cứu tình hình thực tế về công tác huy động vốn tại công ty và xin
mạnh dạn đưa ra một số ý kiến về: “Giải pháp huy động vốn cho các dự án của công ty Cổ phần Lilama 10”.
Trang 4Nội dung của chuyên đề được trình bày qua 3 chương sau:
Chương I: Giới thiệu chung về công ty cổ phần Lilama 10
Chương II: Thực trạng vấn đề huy động vốn của công ty cổ phần Lilama
Để hoàn thiện đề tài này, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của cô giáo: Th.s Ngô Thị Việt Nga cùng sự giúp đỡ quí báu của các cán
bộ, công nhân viên Công ty cổ phần Lilama 10 đã giúp đỡ em trong thời gian thực hiện chuyên đề này
Hà nội, ngày 2 tháng 5 năm 2009
Sinh viên thực hiện
Vũ Văn Cảnh
Trang 5CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN
LILAMA 101.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần Lilama 10
1.1.1 Khái quát chung về Công ty cổ phần Lilama 10
Tên đầy đủ bằng tiếng Việt: Công ty cổ phần LILAMA 10
Tên tiếng Anh : LILAMA 10 JOINT STOCK COMPANY
Tên giao dịch: LILAMA 10., JSC
Hình thức pháp lý: công ty cổ phần có tư cách pháp nhân phù hợp với pháp luật hiện hành của Việt Nam
Địa chỉ trụ sở: 989 đường Giải phóng - Phường Giáp Bát - Quận Hoàng Mai- Hà Nội - Việt Nam
Từ khi thành lập đến nay theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, Công
ty cổ phần Lilama 10 đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển với những tên gọi khác nhau:
- Công ty cổ phần Lilama 10 tiền thân là xí nghiệp lắp máy số 1 Hà Nội, thành lập tháng 12/1960 thuộc công ty lắp máy
- Ngày 25/1/1983 chuyển thành Liên hợp lắp máy 10 theo quyết định
số 101/BXD - TCCB thuộc liên hiệp các xí nghiệp lắp máy (Nay là Tổng công ty Lắp máy Việt Nam – Bộ Xây Dựng)
Trang 6- Tháng 1/2007 chuyển thành Công ty cổ phần Lilama 10 theo quyết định số 1672/QĐ - BXD thuộc Tổng Công ty Lắp máy Việt Nam – Bộ Xây Dựng.
- Niêm yết: Ngày 11 tháng 12 năm 2007 Công ty đã nhận được quyết định niêm yết chứng khoán tại sở giao dịch chứng khoán TP hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 12 năm 2007 Công ty chính thức niêm yết 9.000.000 cổ phiếu tại sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh với mã giao dịch L10
1.1.3 Lĩnh vực kinh doanh của Công ty cổ phần Lilama 10
- Xây dựng công trình công nghiệp, đường dây tải điện, trạm biến thế, lắp ráp máy móc cho các công trình;
- Sản xuất, kinh doanh vật tư, đất đèn, que hàn, ô xy, phụ tùng, cấu kiện kim loại cho xây dựng;
- Sản xuất VLXD;
- Gia công chế tạo, lắp đặt, sửa chữa thiết bị nâng , thiết bị chịu áp lực (bình, bể, đường ống chịu áp lực), thiết bị cơ, thiết bị điện, kết cấu thép phi tiêu chuẩn, cung cấp, lắp đặt và bảo trì thang máy;
- Làm sạch và sơn phủ bề mặt kim loại;
- Kinh doanh xuât, nhập khẩu, mua bán vật tư, thiết bị ngành công nghiệp, các dây chuyền công nghệ, vật liệu xây dựng
- Thí nghiệm, hiệu chỉnh hệ thống điện, điều khiển tự động, kiểm tra chất lượng mối hàn kim loại
- Đầu tư xây dựng và kinh doanh bất động sản, mua bán, cho thuê nhà
ở, văn phòng, kho tàng, bến bãi, nhà xưởng, trang trí nội thất ( không bao gồm hoạt động tư vấn về giá đất
- Thiết kế kết cấu: Đối với công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp phục vụ ngành lắp máy;
Trang 7- Thiết kế hệ thống dây chuyền công nghệ chế tạo máy và lắp máy phục vụ ngành lắp máy.
- Thiết kế hệ thống điều khiển nhiệt điện đối với công trình công nghiệp
- Vận chuyển thiết bị, vật tư, hàng hóa, phương tiện máy móc thi công bằng phương tiện cơ giớ đương bộ, đưòng thủy
- Đại lý mua bán, ký gửi hàng hóa
- Các ngành nghề kinh doanh khác theo quy định của Pháp luật
1.2 Cơ cấu tổ chức công ty
Mô hình tổ chức của công ty là mô hình trực tuyến - chức năng, cao nhất là Đại Hội Đồng cổ đông và đứng đầu là chủ tịch Hội đồng quản trị Khi hoạt động theo mô hình này, lãnh đạo cấp cao của Công ty được sự giúp sức của người lãnh đạo chức năng để chuẩn bị các quyết định, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện quyết định
Mỗi phòng ban chức năng có nhiệm vụ cụ thể, riêng biệt nhằm đảm bảo yêu cầu tham mưu cho lãnh đạo và thực hiện mục tiêu mà Công ty đã đề ra
Trang 8Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của công ty
Nguồn: Báo cáo thường niên công ty CP Lilama 10
* Đại hội Đồng Cổ đông
* Hội đồng Quản trị : 05 thành viên
* Ban kiểm soát: 03 thành viên
* Ban lãnh đạo công ty gồm:
- 01 Tổng Giám đốc công ty: Chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị, Tổng Công ty về toàn bộ hoạt động của công ty
XÍ NGHIỆP
10-1
CÁC ĐỘI CÔNG TRÌNH
XÍ NGHIỆP
SƠN LA
VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN PLEIKU
NHÀ MÁY CHẾ TẠO THIẾT BỊ VÀ KẾT CẤU THÉP
XÍ NGHIỆP 10-3
ĐẠI HỘI ĐỒNG
CỔ ĐÔNG
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
TỔNG GIÁM ĐỐC
BAN KIỂM SOÁT
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC PHỤ TRÁCH THỦY ĐIỆN
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC PHỤ TRÁCH NHIỆT ĐIỆN
PHÒNG
TƯ VẤN
VÀ THIẾT KẾ
PHÒNG
QUẢN
LÝ DỰ
ÁN NẬM CÔNG 3
PHÒNG
TỎ CHỨC LAO ĐỘNG
PHÒNG
HÀNH CHÍNH
PHÒNG
Trang 9- 03 Phó tổng giám đốc:
+ 01 phó tổng giám đốc phụ trách thi công các công trình thuỷ điện+ 01 phó tổng giám đốc phụ trách thi công các công trình Nhiệt điện+ 01 phó tổng giám đốc phụ trách lĩnh vực lưới điện, xi măng, mía đường…
Ban Quản lý máy
Trung Tâm tư vấn, thiết kế công trình
Ban dự án thuỷ điện Nậm Công
Mới bổ sung năm 2009:
• Ban quản lý dự án toà nhà Lilama10
• Ban chuẩn bị các dự án nước ngoài
* Khối sản xuất gồm :
- 01 Nhà máy chế tạo thiết bị và kết cấu thép (xưởng mạ kẽm)
- Xí nghiệp lắp máy 10-1 tại Thanh Xuân - Hà Nội
-Xí nghiệp lắp máy 10-2
-Xí nghiệp lắp máy 10-4 (nhà máy chế tạo thiết bị và kết cấu thép)
- Văn phòng dự án Xi măng Bút sơn 2
- 01 chi nhánh Công ty cổ phần Lilama10 tại Mường La- Sơn La
- 01 Văn phòng đại diện Công ty cổ phần Lilama10 tại Pleiku- Gia Lai
Trang 10- 16 Đội công trình trực thuộc Công ty đang thi công tại các công trình.
* Khối đoàn thể:
- Văn phòng đảng ủy
- Văn phòng Công đoàn
- Đoàn thanh niên
- Ban nữ công
1.3 Các kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
1.3.1 Đặc điểm về sản phẩm & thị trường
Sản phẩm và dịch vụ chủ yếu của Lilama 10 được mô tả cụ thể dưới đây:
* Thiết kế, chế tạo và lắp đặt bồn bể chịu áp lực
LILAMA10 có đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân nhiều năm kinh nghiệm trong công tác chế tạo, lắp đặt bình bể, bồn chứa chịu áp lực cao dung tích lớn từ 30.000~ 60.000m3 Công ty đã chế tạo và lắp đặt bồn bể cho các dự
án lọc dầu Dung Quất, Nhà máy cồn Lam Sơn, Nhà máy đường Lam Sơn, Nhà máy Thuỷ điện Yaly, Nhà máy Xi măng Nghi Sơn
* Thiết kế, chế tạo và lắp đặt kết cấu thép
Đội ngũ kỹ sư của LILAMA10 tốt nghiệp các trường Đại học hàng đầu Việt Nam,chuyên ngành cơ khí, chế tạo, thiết bị điện, tự động hóa, chuyên thiết kế theo yêu cầu kỹ thuật của khách hàng cho mọi loại công trình công nghiệp trên
hệ thống phần mềm chuyên dùng Các công trình tiêu biểu như Lắp đặt KCT Nhà máy nhiệt điện Na Dương, Lắp đặt kết cấu thép Công trình Trung tâm hội nghị Quốc Gia…
* Lắp đặt thiết bị công nghệ, sửa chữa bảo dưỡng các nhà máy điện, xi măngLILAMA10 là đơn vị có nhiều năm kinh nghiệm trong công tác lắp đặt thiết bị công nghệ.Tên tuổi của LILAMA10 đã gắn liền với các công trình công nghiệp lớn, quan trọng của đất nước
* Xây dựng, lắp đặt, hiệu chỉnh thí nghiệm thiết bị điện
Trang 11LILAMA10 đã lắp đặt thiết bị một cách chính xác, an toàn, đúng tiến độ cho các nhà máy thuỷ điện: Hoà Bình, Yaly, Vĩnh Sơn Các nhà máy nhiệt điện: Phả Lại, Uông Bí, Phú Mỹ
* Chế tạo và lắp đặt hệ thống ống công nghệ và áp lực
LILAMA10 đã thiết kế, chế tạo và lắp đắt các đường ống công nghệ và áp lực bằng thép cacbon, thép hợp kim, đồng, gang, thép không gỉ và bảo ôn cách nhiệt cho các hệ thống ống làm việc an toàn, đúng quy trình kỹ thuật
* Xây dựng, sơn , bảo ôn, xây lề
LILAMA 10 có đội ngũ công nhân xây dựng lành nghề ở mọi loại hình: Nhà ở, các công trình công nghiệp, công trình giao thông (nhà ga, công xưởng, cầu cảng.v.v )
Thị trường chính của Lilama 10 hiện nay là các tỉnh, thành phố ở mọi miền tổ quốc, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi cao, nơi có sẵn địa hình,
Trang 12địa thế thuận lợi cho việc phát triển các công trình thủy điện, nhiệt điện, các nhà máy phát điện Đồng thời một số công trình lớn của đất nước liên quan tới lắp máy công nghiệp và kết cấu ống, thiết bị chịu lực cũng được Lilama 10 quan tâm và thực hiện Các công trình lớn mà Lilama 10 đã thực hiện có thể
kể đến là lắp đặt kết cấu thép cho trung tâm hội nghị quốc gia, lắp đặt thiết bị điện cho nhà máy thủy điện Yaly, thủy điện Hòa Bình, nhà máy bao bị Crow
Hà Tây, công trình nhà máy thủy điện Sơn La…
1.3.2 Đặc điểm về vốn kinh doanh
Nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp là thước đo sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp đó, từ sự biến đổi của nguồn vốn, chúng ta có thể thấy được chiều hướng phát triển đi lên hay đi xuống của một doanh nghiệp Lilama 10 là một công ty lớn, có bề dày phát triển và tồn tại, nên vốn hoạt động sản xuất kinh doanh là một tiềm lực có sẵn của doanh nghiệp Sự biến động vốn kinh doanh của Lilama 10 qua các năm từ 2004 tới nay sẽ miêu tả
cụ thể sự tăng trưởng của công ty trong thời gian vừa qua
Bảng 1: Nguồn vốn hoạt động của công ty CP Lilama 10 (Đvt: đồng)
1 Nợ phải trả 60,244,158,194 116,299,999,700 169,561,654,950 176,978,515,819 240,800,193,529 Vay ngắn hạn 60,244,158,194 110,413,212,719 165,425,778,579 159,419,124,365 226,883,074,316 Vay dài hạn 877,088,752 5,886,786,981 4,135,876,371 17,559,391,454 13,917,119,213
Trang 13Qua bảng trên ta thấy quy mô vốn kinh doanh của công ty có sự tăng giảm qua các năm cụ thể là:
Năm 2004 tổng nguồn vốn của công ty là gần 91 tỷ đồng, sang năm
2005 tăng lên hơn 146 tỷ đồng, tăng 61% so với năm 2004 Nguồn vốn năm
2006 tăng lên tới hơn 214 tỷ đồng, tăng 46% so với năm 2005 Tới năm 2007 nguồn vốn hoạt động của công ty đạt 284 tỷ đồng, tăng 33% so với năm 2006 Sang năm 2008, tổng nguồn vốn năm 2008 đạt hơn 355 tỷ đồng, tăng 25% so với năm 2007 Theo số tương đối, nguồn vốn tăng không đều qua các năm và tốc độ tăng có giảm dần theo các năm nhưng nhìn chung tỷ lệ tăng trưởng như trên là khá cao Về số tuyệt đối, nguồn vốn vẫn tăng đều và tăng mạnh qua các năm Năm 2004 tổng nguồn vốn của công ty mới chỉ đạt hơn 90 tỷ đồng, sang đến năm 2008 tổng nguồn vốn của công ty đã đạt con số ấn tượng là hơn 355,5 tỷ đồng, tăng tới hơn 265,5 tỷ đồng và gấp 3,95 lần so với năm 2004
Sở dĩ như vậy là vì Lilama 10 là một công ty lớn của nhà nước, cùng với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của nước ta như vừa qua là một động lực rất lớn
để Lilama 10 phát triển, hơn nữa, với sự kiện cổ phần hóa và niêm yết trên thị trường chứng khoán năm 2007 vừa qua đã thúc đầy Lilama 10 phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn nữa
Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng với cơ cấu là một công ty cổ phần nhà nước, nhà nước là cổ đông chính của công ty, Lilama 10 cần cố gắng hơn nữa với sự trợ giúp và ủng hộ cả về vật chất cũng như chính sách của nhà nước để xứng tầm với sự phát triển của đất nước như hiện nay
1.3.3 Đặc điểm về lao động
Tổng số lao động làm việc là: 2.174 người, có độ tuổi bình quân là 32 Với chính sách tuyển dụng lao động của mình, Công ty CP lilama 10 đã tập hợp được một tập thể lao động có chất lượng cao, kỷ luật đoàn kết, được đào tạo
Trang 14chính quy, bồi dưỡng thường xuyên và đã được chủ đầu tư, chuyên gia nước ngoài đánh giá cao.
Bảng 2: Tình hình lao động của CTCP Lilama 10
Nguồn: Phòng tổ chức LĐ - TL
Về thu nhập bình quân trên đầu người, đây là một công ty cổ phần của nhà nước, với số lượng công nhân nhiều lên mức thu nhập bình quân trên đầu người không cao, nhưng tăng dần qua các năm thể hiện ở bảng số liệu sau:
Bảng 3: Thu nhập bình quân đầu người từ 2004 - 2008
2006, số tuyệt đối tăng 200.000 đồng, và năm 2008 dự kiến tăng 1,15 lần so với năm 2007 cùng với mức tăng tuyệt đối là 350.000 đồng Qua đó có thể
Trang 15thấy mức lương của cán bộ công nhân viên tăng khá đều qua các năm, tuy không cao do đây là một công ty nhà nước có số lượng công nhân viên rất đông nhưng có thể thấy mức lương trung bình của công nhân viên trong công
ty đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu tối thiểu của công nhân viên
1.3.4 Kết quả hoạt động kinh doanh
Liên tục 5 năm (2004 - 2008) hoành thành toàn diện vượt mức kế hoạch, tổng doanh thu đạt vượt mức kế hoạch các chỉ tiêu sau:
Bảng 4: Tình hình tài chính của Lilama 10 từ 2004 – 2008
Năm Tổng doanh thu SXKD
Từ các bảng kết quả hoạt động kinh doanh trên ta thấy, Công ty đã hoàn thành vượt mức kế hoạch đặt ra trên tất cả các mặt, các chỉ tiêu:
Chỉ tiêu về doanh thu:
Trang 16Biểu đồ 1: Doanh thu của Công ty qua các năm( ĐVT:triệu đồng)
Lấy năm 2004 làm mốc đánh giá, có thể thấy rằng qua 5 năm phát triển (từ năm 2004 tới năm 2008) doanh thu của công ty CP Lilama 10 đã tăng lên rất nhanh, năm 2004 doanh thu đạt hơn 112 tỷ đồng thì đến năm 2008 doanh thu đã đạt hơn 328 tỷ đồng, tăng 292% so với năm 2004 Có thể nói Lilama
10 đã phát triển rất đúng hướng và theo kịp với sự phát triển mạnh mẽ của đất nước khi nước ta chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO đầu năm 2007
Chỉ tiêu về lợi nhuận:
Trang 17Biểu đồ lợi nhuận của công ty CP Lilama 10 cũng cho thấy sự tăng trưởng vượt bậc của lợi nhuận trong vài năm trở lại đây, thời điểm năm 2007
có thể nói là cột mốc quan trọng đánh dấu sự tăng trưởng ngoạn mục của công ty CP Lilama 10, từ năm 2004 lợi nhuận mới chỉ đạt 1.310 tỷ đồng thì đến năm 2008 lợi nhuận đã đạt tới con số gần 23 tỷ đồng, tăng gấp 17,5 lần so với năm 2004
Qua hai biểu đồ trên ta thấy: Trong 2 năm gần đây, doanh thu và lợi nhuận của Công ty tăng vọt, vượt rất xa so với kế hoạch đặt ra, điều này khẳng định việc cổ phần hóa và niêm yết trên thị trường chứng khoán cùng với việc thay đổi hình thức pháp lý, thay đổi cơ cấu và cách thức quản lý đã mang lại hiệu quả cao cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Biểu đồ 3: Tình hình nộp ngân sách của công ty Lilama 10 qua các năm
Theo biểu đồ trên có thể thấy tình hình nộp ngân sách nhà nước của Công ty Lilama 10 đã tăng lên đáng kể qua các năm, đóng góp một lượng
Trang 18không nhỏ vào ngân sách nhà nước Năm 2004 nộp ngân sách nhà nước là 2.4
tỷ đồng, sang đến năm 2007 Lilama 10 đã đóng góp hơn 8 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước, tăng 3.37 lần so với năm 2004 Năm 2007 theo kế hoạch Lilama 10 sẽ đóng góp khoảng 3,5 tỷ đồng, nhưng đã thực hiện nộp ngân sách được hơn 8 tỷ đồng, tăng 230,16% so với kế hoạch Điều này có được là do chủ trương cổ phần hóa và niêm yết trên sàn chứng khoán đúng đắn của ban lãnh đạo Lilama 10, phản ánh đúng vị thế của một công ty lắp máy nhà nước trên thị trường
Về chi trả cổ tức: Công ty thực hiện phương án phân phối lợi nhuận và chi trả cổ tức như sau:
Lợi nhuận thu được trước thuế
-Thuế TNDN ( được bổ sung vào quỹ đầu tư phát triển)
-Các khoản giảm trừ trong năm
Lợi nhuận sau thuế
Phần lợi nhuận này được dùng một phần để trích lập các quỹ gồm:
Quỹ đầu tư phát triển ( được bổ sung từ thuế TNDN)
Quỹ dự phòng tài chính (3%)
Quỹ khen thưởng (3%)
Quỹ phúc lợi (4%)
Lợi nhuận còn lại
Tỷ lệ chi trả cổ tức cho các cổ đông là 14%/ năm Phần lợi nhuận chưa phân phối được dùng để đầu tư trang thiết bị, tạo thêm nguồn vốn cho Công
ty đảm bảo điều kiện giúp Công ty không ngừng phát triển
Trang 19Việc thực hiện phân chia lợi nhuận và chi trả cổ tức của Công ty hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật và phương án phân chia lợi nhuận của Đại hội đồng cổ đông.
Trang 20CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ HUY ĐỘNG VỐN
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN LILAMA 102.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc sử dụng và huy động vốn
2.1.1.Nhân tố khách quan
2.1.1.1 Thị trường tài chính tiền tệ
Nhân tố pháp lý: Pháp lý là nhân tố được hiểu là những qui định của
pháp luật và nhà nước trong hoạt động huy động vốn của công ty cổ phần Linama 10, vì công ty cổ phần Linama 10 chịu sự điều tiết của luật Doanh nghiệp, chịu sự quản lý chặt chẽ của nhà nước – mà ở đây là Tổng công ty, do
đó quá trình huy động vốn của công ty cổ phần Linama 10 chịu sự chi phối và quản lý của nhà nước, cụ thể về nguồn huy động, lượng vốn huy động, vì vậy môi trường pháp lý là nhân tố đầu tiên ảnh hưởng tới hoạt động huy động vốn Quyết định 1729/ QĐ - TTg ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt danh sách các tập đoàn, tổng công ty nhà nước thực hiện cổ phần hóa giai đoạn 2007 – 2010 trong đó có công ty cổ phần Lilama
10 đã tạo động lực thúc đẩy công ty cổ phần hóa 2007, và ngay trong năm đó công ty đã tiến hành niêm yết trên thị trường chứng khoán Nghị định số 111/ 2007/ NĐ - CP ngày 26 tháng 6 tháng 2007 của Chính phủ về tổ chức, quản lý Tổng công ty Nhà nước, công ty Nhà nước độc lập, công ty mẹ - công ty con hoạt động theo luật doanh nghiệp cũng tác động không nhỏ tới cơ cấu tổ chức
bộ máy quản lý, cơ chế chính sách mà Tổng công ty thực hiện với công ty Lilama 10 Do đó, nếu công ty mà không quan tâm đến vấn đề pháp lý này thì quá trình huy động vốn sẽ gặp những trục trặc do sự thiếu thống nhất giữa Tổng công ty và công ty, mà người chịu thiệt ở đây chính là công ty
Tuy nhiên mục tiêu này không phải lúc nào cũng đạt được kết quả mong muốn bởi vì hệ thống luật pháp ở nhiều quốc gia còn chưa được kiện
Trang 21toàn Chính vì vậy đã tạo ra kẽ hở trong luật và bị các cá nhân, tổ chức lợi dụng để hoạt động kinh doanh bất hợp pháp hay dựa vào những điều luật còn chồng chéo, thiếu tính cụ thể nghiêm minh nên dẫn tới việc coi thường luật pháp trong hoạt động kinh tế mà hậu quả có thể là đơn phương phá ngang hợp đồng kinh tế đã ký kết, hoặc chiếm dụng vốn mà không thanh toán, gây thiệt hại về kinh tế cũng như hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp là nạn nhân
Vì thế, để chấm dứt được tình trạng này thì biện pháp tối ưu là phải khắc phục những mặt hạn chế trong hệ thống luật pháp, xử lý thật nghiêm minh những tội phạm kinh tế để làm gương răn đe, giáo dục Có như vậy mới tạo được sự
ổn định trong hoạt động kinh tế và mục tiêu của Nhà nước mới thực hiện được triệt để
Nhân tố chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước:
Một trong những chính sách mà nhà nước thường áp dụng vào thị trường tài chính nhằm vào các mục tiêu kinh tế như: công ăn việc làm, tăng trưởng kinh tế, ổn định giá cả, lãi suất, ổn định thị trường tài chính và thị trường ngoại hối
Chính sách kinh tế gồm các công cụ cơ bản là: Nghiệpvụ thị trường
mở, chính sách chiết khấu, dự trữ bắt buộc, chính sách lãi suất và hạn mức tín dụng Những công cụ này tác động lên thị trường tài chính tiền tệ trong đó chủ yếu là các trung gian tài chính – các tổ chức ảnh hưởng trực tiếp đến công ty cổ phần Linama 10 Chính sách này tác động trực tiếp tới hoạt động huy động vốn như việc qui định lãi suất cao hay thấp sẽ ảnh hưởng tới việc huy động nợ của công ty Các chính sách này tác động đến lượng cung tiền tệ,
từ đó ảnh hưởng gián tiếp tới việc huy động vốn của công ty cổ phần Linama
10 trong quá trình huy động vốn của mình cần nắm bắt và hiểu rõ các qui định của các chính sách kinh tế, để từ đó có thể tạo ra những thuận lợi trong quá trình huy động vốn, đồng thời tránh được những khó khăn do chính sách
Trang 22mang lại Có thể nêu ra một số chính sách như Nghị định số 94=Ttg – TN về việc quy định lãi suất cho vay, tiền gửi và tiền tiết kiệm của ngân hàng Nhà nước do hội đồng chính phủ ban hành tác động trực tiếp tới lãi suất của các ngân hàng thương mại, khiến cho biểu lãi suất đi vay của công ty Lilama 10 thay đổi với cùng chiều hướng Do đó chiến lược huy động vốn của công ty cũng có thay đổi ít nhiều để có được cơ cấu vốn và xác định chi phí vốn phù hợp với tình hình hiện tại.
Tóm lại, khi các chính sách kinh tế kể trên tay đổi sẽ có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến hiệu qủa sử dụng vốn cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chẳng hạn, trong thời kỳ nền kinh tế tăng trưởng thấp thì nhà nước có thể đối phó bằng cách: hạ lãi suất cho vay, tiền gửi, tăng thuế nhằm khuyến khích các tổ chức cá nhân tham gia mạnh mẽ hơn vào hoạt động kinh tế của đất nước, nhờ đó mà nền kinh tế sẽ có mức tăng trưởng cao hơn Với một chính sách nới lỏng như vậy, nếu doanh nghiệp nào có những
dự án đầu tư tốt, có tính khả thi cao mà số vốn cần thiết để thực hiện dự án chưa đủ thì có thể bổ xung bằng cách huy động số vốn còn thiếu thông qua hệ thống ngân hàng, các tổ chức tín dụng Nhờ vậy, các doanh nghiệp sẽ hạn chế được những cơ hội kinh doanh tốt bị bỏ qua và có thời cơ kiếm lợi nhuận, tăng quy mô vốn, nâng cao hơn hiệu quả sử dụng vốn, đồng thời giảm dần sự phụ thuộc về vốn vào các tổ chức tài chính Ngược lại, trong thời kỳ nền kinh
tế “nóng” thì giải pháp đối phó là hoàn toàn ngược lại Với chính sách này sẽ hạn chế được những doanh nghiệp thành lập mới, đồng thời ảnh hưởng đến kế hoạch đầu tư phát triển của các doanh nghiệp đang hoạt động cũng như hiệu quả sử dụng vốn của từng doanh nghiệp Vì thế trong bất kỳ hoàn cảnh nào các doanh nghiệp luôn mong muốn có sự ổn định trong chính sách kinh tế của Nhà nước, trên cơ sở đó để thiết lập chiến lược kinh doanh phù hợp, có như vậy mới tạo tâm lý an toàn cho các nhà đầu tư, bởi vì chỉ một thay đổi nhỏ
Trang 23trong chính sách kinh tế sẽ có tác động lớn đến chỉ tiêu chi phí, lợi nhuận và hiệu hiệu quả sử dụng vốn
Sự phát triển của thị trường tài chính:
Quá trình huy động vốn của công ty cổ phần Linama 10 cũng chịu sự chi phối mạnh mẽ của thị trường tài chính, một thị trường tài chính phát triển cao với đầy đủ chức năng cung cấp cho công ty cổ phần Linama 10 đầy đủ những công cụ để huy động vốn và ngược lại nếu một thị trường tài chính kém phát triển thì việc huy động vốn thông qua phát hành một số công cụ huy động vốn như trái phiếu, cổ phiếu là khó khăn do tính thanh khoản của những công cụ trên thị trường này thấp Công ty cổ phần Linama 10 cần xem xét thị trường tài chính trong nước tại thời điểm hiện tại để có thể đề ra những chiến lược và kế hoạch huy động phù hợp với công ty mình
Những ảnh hưởng của nhân tố thị trường đối với hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp không chỉ dừng ở đây mà còn thể hiện ở tính cạnh tranh cố hữu Ta biết rằng, trong nền kinh tế hiện nay nhu cầu của thị trường về các loại hàng hoá dịch vụ rất đa dạng, phong phú, những yêu cầu liên quan đến sản phẩm khi tham gia vào thị trường ngày càng tăng Sản phẩm sản xuất ra muốn tiêu thụ được thì phải đáp ứng được 3 tiêu chí cơ bản của thị trường là chất lượng tốt, giá thành hạ, phù hợp với thị hiếu và thu nhập của đa số người tiêu dùng Để đáp ứng được những yêu cầu ấy đòi hỏi các doanh nghiệp phải tăng cường công tác quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời đầu tư vốn đổi mới công nghệ sản xuất Rõ ràng là dưới sức ép của thị trường doanh thu tiêu thụ sản phẩm cũng như chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng Vì thế, chắc chắn cũng sẽ tác động đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp ấy Mặt khác, bên cạnh sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đang sản xuất kinh doanh cùng một mặt thì do cơ chế chính sách về kinh tế của Đảng và Nhà nước đã tạo ra sự tăng nhanh số lượng của
Trang 24các loại hình doanh nghiệp mới, trong đó có những doanh nghiệp đăng ký sản xuất kinh doanh những mặt hàng mà thị trường đã có Vì thế, càng làm tăng thêm sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, làm ảnh hưởng đến doanh thu và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
2.1.1.2 Sự chỉ đạo của nhà nước và Tổng công ty
Do công ty cổ phần Linama 10 là thành viên của tổng công ty nên lợi ích của công ty cổ phần Linama 10 gắn liền với lợi ích của Tổng công ty Việc thành lập công ty cổ phần Linama 10 cũng nhằm mục tiêu huy động vốn
hỗ trợ các thành viên trong tổng công ty, chiến lược của Tổng công ty trong từng giai đoạn sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới hoạt động huy động vốn
2.1.2 Các nhân tố chủ quan
2.1.2.1 Tình hình tài chính của công ty
Kết quả huy động nguồn vốn của công ty cổ phần Linama 10 phụ thuộc rất nhiều vào tình hình tài chính của công ty Tình hình tài chính bao gồm khả năng tăng vốn một cách hợp lý trọng điều kiện có tác động xấu, tốt hay ổn định thì công tác huy động vốn của công ty là khác nhau Nếu khả năng thanh toán của công ty yếu kém thì công ty khó có thể huy động thêm vốn Ngược lại nếu công ty đang có tình hình tài chính tốt sẽ dễ dàng huy động được thêm vốn Bên cạnh đó, chúng ta có thể thấy được rằng các nhà cung ứng vốn luôn muốn tăng cường tài trợ cho những doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh
Tình hình tài chính để cập ở đây còn bao gồm cả nhu cầu về vốn của công ty Tình hình tài chính là khả quan, các tỷ số doanh lợi tài sản (ROA) doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE) cao đủ bù đắp chi phí nợ sẽ dẫn đến xu hướng sử dụng nợ nhiều hơn của công ty, như vậy hoạt động huy động vốn được tăng cường
2.1.2.2 Uy tín của công ty
Trang 25Uy tín của công ty thể hiện ở rất nhiều mặt, chúng ta có thể thấy nó thể hiện ở nhiều mặt như giá trị tài sản, thời gian hoạt động, độ lớn của thị trường, tình hình tài chính, trình độ nhân sự, tiếng vang của công ty trước các đối thủ cạnh tranh.
Uy tín của công ty không những giúp công ty trong việc cạnh tranh với các công ty mà nó còn giúp công ty cổ phần Linama 10 trong việc huy động vốn Nếu công ty có uy tín lớn thu hút được nhiều khách hàng trong việc nhận tiền gửi hay phát hành các công cụ nợ, ngược lại công ty chưa có tên tuổi sẽ rất khó khăn trong việc thu hút vốn từ khách hàng Bởi thế, công ty cổ phần Linama 10 trong nhưng năm qua liên tục cải thiện và nâng cao uy tín của công ty
Khi trên thị trường xuất hiện những sản phẩm có khả năng thay thế sản phẩm của doanh nghiệp hoặc xuất hiện các đối thủ cạnh tranh thì phải bằng mọi cách doanh nghiệp phải làm sao cho khách hàng nhận rõ ưu điểm sản phẩm của doanh nghiệp mình Có thể thông qua các hình thức khuyến mại, tặng quà và các hình thức yểm trợ bán hàng khác, doanh nghiệp phải hướng
sự chú ý của khách hàng đến sản phẩm của doanh nghiệp, phát sinh nhu cầu
và thực sự cảm thấy hữu ích khi dùng sản phẩm đó và có ý định tiêu thụ lâu dài với sản phẩm của doanh nghiệp Những điều trên là rất cần thiết đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới mức doanh thu của doanh nghiệp trước mắt Sau đó thực chất là ảnh hưởng đến mức độ luân chuyển vốn, làm tốc độ quay vòng vốn giảm, hiệu quả sử dụng vốn thấp
2.1.2.3 Chính sách của công ty.
Bản thân chính sách của công ty sẽ quyết định việc huy động vốn của công ty Nếu công ty có chính sách mở rộng kinh doanh sẽ dẫn đến tăng cường hoạt động huy động vốn Bên cạnh đó công ty cũng là người quyết định số lượng, lựa chọn nguồn trong việc huy động vốn
Trang 26Chính sách huy động vốn của công ty được quyết định bởi cơ cấu vốn mục tiêu mà công ty muốn đạt được Như đã đề cập ở trên, một cơ cấu vốn mục tiêu sẽ giúp cho công ty cân bằng rủi ro và lợi nhuận Các nhân tố ảnh hưởng tới cơ cấu vốn cũng sẽ ảnh hưởng tới việc huy động vốn của doanh nghiệp:
Thứ nhất là rủi ro kinh doanh Rủi ro càng lớn thì tỷ lệ sử dụng nợ càng thấp, doanh nghiệp ít huy động vốn bằng công cụ nợ
Thứ hai, chính sách thuế ảnh hưởng tói chi phí của nợ thông qua tiết kiệm nhờ thuế Nếu thuế cao sẽ khuyến khích doanh nghiệp sử dụng thông qua tiết kiệm nhờ thuế tăng lên
Thứ ba quan điểm của bản thân nhà quản lý doanh nghiệp sẽ có sự ưa thích trong sự dụng nợ hay vốn chủ Tù quan điểm này sẽ dẫn đến nhưng quyết định trong chiến lược của doanh nghiệp
Thứ tư là khả năng thanh toán tài chính của doanh nghiệp
Một số nhân tố khác ảnh hưởng trực tiếp tới tình hình huy động vốn của công ty được miêu tả dưới đây:
Cơ cấu vốn:
Nói đến cơ cấu vốn tức là đề cập tới tỷ trọng giữa nợ mà một doanh nghiệp đang sử dụng Một cơ cấu tối ưu cần đạt được cân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận Bởi vậy muốn đánh giá về hoạt động huy động là hiệu quả và hợp
lý hay không phải xem xét đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp đem lại từ việc huy động vốn Một trong những mục tiêu quan trọng của việc huy động vốn là nhằm hình thành nên cơ cấu tối ưu cho doanh nghiệp trong một thời điểm cụ thể Giữa cơ cấu vốn và và huy động vốn và còn có tác động qua lại: cơ cấu vốn sẽ góp phần quyết định đến huy động vốn và ngược lại hoạt động vốn hình thành nên cơ cấu vốn
Chi phí vốn:
Trang 27Chi phí vốn là chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn, được tính bằng só lợi nhuận giảm kỳ vọng đạt trên vốn đầu tư vào dự án hoặc doanh nghiệp để giữ không làm giảm số lợi nhuận giành cho chủ sở hữu.
Phân chia theo nợ và vốn thì chúng ta có chi phí của nợ và chi phí vốn chủ Đối với hoạt động huy động vốn thì chi phí của vốn chính là chi phí nợ được tính bằng lãi suất của khoản nợ đó Bên cạnh đó còn có một số chi phí bằng lợi nhuận kỳ vọng của chủ sở hữu trên khoản đầu tư Có 3 cách xác định mức lợi nhuận kỳ vọng này là phương pháp CAPM, phương pháp luồng tiền chiết vốn chủ có thể xác định dễ dàng hơn nếu có một thị trường tài chính phát triển như Việt Nam thì chi phí vốn chủ chưa mấy được quan tâm cũng như hiểu căn kẽ
Như vậy, chỉ tiêu chi phí vốn dùng để đánh giá hiệu quả của việc huy động vốn là nguồn huy động phải có chi phí thấp, hoặc chi phí hợp lý, việc xác định nguồn có chi phí hợp lý là vấn đề hết sức quan trọng đối với hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp Việc xác định nguồn này còn phải gắn liền với việc sử dụng vốn chỉ được chấp nhận khí việc sử dụng khoản vốn đó phải đem lại để bù đắp chi phí
Sự ổn định của nguồn:
Một nguồn vốn được đáng giá là tốt ngoài những yếu tố như đáp ứng nhu cầu với chi phí thấp cần có sự ổn định tức là không có sự thay đổi đột ngột trong thời gian sử dụng Nếu nguồn vốn thay đổi đột ngột, nó có thể sẽ ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh doanh Ví dụ: nguồn tiền vay thường xuyên thay đổi do ngân hàng lớn rút tiền đột ngột, hoặc ngân hàng không cho vay tiếp tục nữa sẽ dẫn tới áp lực thanh toán cho ngân quỹ Hay việc người góp vốn đòi rút vốn đột ngột sẽ làm suy giảm tiềm lực tài chính của công ty Hơn nữa việc nguồn vốn thay đổi đột ngột sẽ làm tăng chi phí của công ty trong việc tìm kiếm các nguồn vốn khác để bù đắp
Trang 28Thông thường các nguồn vốn huy động đều có thể dự tính trước thời gian sử dụng như nguồn tiền gửi có thời hạn, nguồn phát hành có thời gian xác định hay nguồn đi vay cũng có thời hạn vay Bên cạnh đó có những nguồn có thời gian giữ lại Mỗi nguồn đều có đặc điểm riêng về sự ổn định và phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Bởi vậy, công ty cần tính đến sự ổn định cảu các nguồn trên cơ sở phân tích nhiều mặt để có sự lựa chọn.
2.2 Thực trạng huy động vốn của công ty cổ phần Lilama 10
2.2.1 Tình hình sử dụng vốn của công ty cổ phần Lilama 10
2.2.1.1 Cơ cấu vốn
Cơ cấu vốn của công ty cổ phần Lilama 10 qua các năm như sau:
Bảng 5: Cơ cấu vốn của Công ty cổ phần Lilama 10 (ĐVT: triệu đồng)
Năm Chỉ tiêu
Số tiền % Số tiền % Số tiền % Số tiền % Số tiền % Vốn cố định 17816 19.6 27408 18.7 26350 12.9 64175 22.5 87560 24.6 Vốn lưu động 73136 80.4 118830 81.3 177830 87.1 221106 77.5 267857 75.4
Tổng Vốn 90952 100 14623
8 100 204180 100 285281 100 355417 100 Nguồn: trích từ bảng cân đối kế toán các năm (2004 – 2008)
Biểu đồ 4: Sự tăng giảm vốn cố định (triệu đồng)
0 20000 40000 60000 80000 100000
2004 2005 2006 2007 2008 năm
Vốn cố định
Trang 290 50000 100000
Qua bảng số liệu trên cho thấy tổng vốn của công ty qua các năm đều
có sự tăng trưởng chứng tỏ sự lớn mạnh của công ty Năm 2005 là năm công
ty tiếp tục đầu tư tiền của vào xây dựng nhà xưởng đầu tư thêm phương tiện sản xuất làm việc nâng vốn cố định tăng so với năm 2004 là 9,592 tỷ đồng, sang đến các năm sau do sự phát triển kinh tế mạnh mẽ, công ty cũng có sự phát triển vượt bậc khi vốn cố định đầu tư để mở rộng sản xuất, đổi mới máy móc thiết bị, nâng cao năng lực sản xuất Năm 2006 vốn cố định đã tăng lên đến 64,175 tỷ đồng, tăng tới hơn 36 tỷ đồng so với năm trước đó, và tới năm
2008 vốn cố định của công ty đã đạt con số gần 88 tỷ đồng, gấp tới gần 5 lần
so với năm so sánh là năm 2004 Việc tăng vốn cố định cho thấy công ty đang
có những bước chuyển biến mạnh về cơ sở vật chất, mở rộng quy mô sản xuất, nó được thể hiện rõ hơn thông qua các chỉ số về tổng vốn và cơ cấu vốn của công ty Tổng vốn của công ty tăng mạnh mẽ qua các năm từ gần 91 tỷ năm 2004 lên tới hơn 355 tỷ năm 2008 cho thấy công ty đang phát triển rất tốt Tuy nhiên trong cơ cấu vốn, vốn cố định lại đang tăng dần qua các năm
và làm cho vốn lưu động đang ngày càng giảm đi trong tổng cơ cấu, điều này trong dài hạn sẽ không thúc đẩy được công ty tiếp tục đạt những con số phát triển ấn tượng như trong thời gian vừa qua Các khoản phái thu của khách
Trang 30hàng cũng đang là điều công ty phải quan tâm trong thời gian tới, trong năm
2004 khoản phải thu của khách hàng chỉ là 37,371 tỷ đồng, nhưng tới năm
2008 khoản phải thu từ khách hàng lên đến hơn 67 tỷ đồng Trong đó các khoản nợ khó đòi cũng tăng lên sẽ làm giảm tính thanh khoản và giảm vòng luân chuyển vốn trong công ty Công ty cần phải có những biện pháp hợp lý
để có thể thu nợ được về két, giảm thiểu số tiền trong lưu thông mà vẫn không làm ảnh hưởng tới khách hàng, đối tác Điều này hết sức quan trọng vì họ chính là nguồn lợi chính để tạo ra lợi nhuận cho công ty, là nhân tố trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng tới quyền lợi và sự phát triển của công ty
2.2.1.2 Cơ cấu nguồn vốn
Là một doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế thị trường, ngoài nguồn vốn do ngân sách cấp Công ty có quyền chủ động trong việc huy động các nguồn vốn khác cho hoạt động sản xuất kinh doanh Nguồn vốn huy động của công ty chủ yếu là vay ngân hàng Trong hoạt động này chủ yếu là vay dài hạn và vay ngắn hạn nhưng vay dài hạn chiếm tỷ trọng nhỏ hơn vay ngắn hạn trong tổng số nợ phải trả
Bảng 6: Cơ cấu nguồn vốn qua các năm (ĐVT: triệu đồng)
Qua số liệu trên cho thấy công ty đã khá chủ động trong việc huy động vốn Với tình hình chung ở nước ta thì thị trường chứng khoán đang phát triển nên việc phát hành các loại cổ phiếu, trái phiếu ra bên ngoài để thu hút vốn từ
Trang 31nguồn vốn rỗi rãi trong dân chúng vẫn đang trong giai đoạn thực hiện chính vì vậy công ty chủ yếu là vay nợ ngân hàng để đáp ứng như cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh Khoản nợ phải trả đã liên tục tăng qua các năm, điều này chứng cho thấy công ty có nhu cầu vốn lớn và các tổ chức tín dụng
đã thực sự tin tưởng bởi uy tín, trách nhiệm mà công ty lắp máy Lilama 10 đã tạo dựng được trong những năm qua, thì nay lại được chứng minh rõ nét hơn khi mà nợ phải trả chiếm tỷ trọng ngày càng giảm đi trong tổng nguồn vốn điều đó khẳng định sự phát triển đi lên của công ty trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Biểu đồ 6: Nợ phải trả qua các năm (2004 – 2008)
so với năm liền kề trước đó và tăng gấp 2.75 lần so với năm so sánh là năm
2004 Tuy nhiên, tỷ trọng nợ phải trả trong tổng nguồn vốn lại có xu hướng tăng, điều này là bất lợi cho công ty trong việc huy động vốn và tạo mức thanh khoản cho các khoản vốn của công ty Dù tổng nguồn vốn tăng mạnh chứng tỏ công ty đang làm ăn phát triển, nhưng tỷ trọng nợ trong tổng nguồn vốn tăng lên và chiếm tỷ trọng lớn sẽ làm cho rủi ro tài chính của công ty tăng cao, hơn nữa vốn chủ sở hữu tăng chậm và chiếm tỷ trọng nhỏ trong 3 năm từ
Trang 32năm 2004 đến năm 2006, phản ánh sự phát triển không an toàn của công ty trong thời kỳ đất nước đang phát triển mạnh như ngày nay
Sang đến năm 2007, với chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, Lilama 10 là một trong những doanh nghiệp đi tiên phong trong chủ trương cổ phần hóa, vẫn theo cơ chế giám sát của nhà nước, nhưng Lilama 10
đã hoạt động độc lập và có tính tự chủ trong việc sử dụng nguồn vốn và huy động vốn Sang đến năm 2007, nợ phải trả của công ty không tăng hơn nhiều
so với năm trước đó chưa cổ phần hóa, nhưng tổng nguồn vốn lại tăng rất lớn, điều này có được là do vốn chủ sở hữu của công ty tăng mạnh và làm giảm cơ cấu nợ phải trả trên tổng nguồn vốn của công ty xuống từ 84.6% năm 2006 còn 62.3% năm 2007, sang đến năm 2008, sau khi đã niêm yết trên thị trường chứng khoán, tổng nguồn vốn của công ty tiếp tục tăng và đạt con số hơn 355
tỷ đồng, nợ phải trả của công ty tiếp tục tăng và cơ cấu nợ trên tổng nguồn vốn có xu hướng tăng lên một chút, đó là do tình hình kinh tế trong nước bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, khiến tình hình sản xuất trong nước của công ty không được thuận lợi như mong muốn Công ty phải chấp nhận tăng mức tín dụng với các tổ chức tín dụng, ngân hàng để tiếp tục hoàn thành các dự án đã và đang triển khai Mức vốn chủ sở hữu của công ty tăng không đáng kể và có phần tăng chậm lại, khiến cho tỷ lệ vốn chủ trên tổng nguồn vốn bị giảm đi Trong thời gian tới, công ty cần cân bằng và tiếp tục sử dụng các chính sách tài chính nhằm ổn định nguồn vốn, tăng vốn nhưng giảm nợ, để tiến tới một cơ cấu vốn hoàn hảo hơn, hợp lý hơn
Trang 332.2.2 Thực trạng huy động vốn của công ty cổ phần Lilama 10
Nguồn: Báo cáo thường niên 2009 của công ty Lilama 10
Căn cứ vào tình hình thực tế sản xuất kinh doanh của đơn vị cũng như tình hình khó khăn chung của nền kinh tế Mặc dù kế hoạch đặt ra chỉ tiêu đảm bảo doanh thu, lợi nhuận tăng so với năm 2008 đã thực hiện tuy nhiên trong năm 2009, khả năng thu hồi vốn của đơn vị không tránh khỏi gặp khó khăn Điều đó dẫn đến việc Công ty phải tăng chi phí đi vay Vì vậy chi phí đầu vào của năm 2009 dự tính sẽ cao hơn so với năm 2008 làm đến ảnh hưởng đến chỉ tiêu Tỷ suất LN/DTT Cho nên, chỉ tiêu Tỷ suất LN/DTT kế hoạch đặt ra cho năm 2009 là 6,33%
-Từ năm 2010 đến năm 2012, kế hoạch sản xuất kinh doanh của Công
ty ước đạt sản lượng và doanh thu tăng 15% so với năm trước
- Năm 2009, đầu tư chiều sâu tăng cường thiết bị phục vụ thi công với trị giá khoảng 40 tỷ đồng Từ năm 2011 đầu tư một nhà máy thủy điện ước đạt khoảng 450 tỷ đồng, mua sắm trang thiết bị thi công khoảng 40 tỷ đồng/ năm
Trang 34- Kế hoạch thực hiện dự án đầu tư thủy điện Nậm Công 3: trong năm
2009, kế hoạch thực hiện thi công các hạng mục công trình:
+ Xây dựng cụm công trình đầu mối, đường vận hành, đường ống bê tông hở với giá trị là : 19,71 tỷ đồng
+ Xây dựng đường hầm dẫn nước với giá trị là:24,623 tỷ đồng
+ Xây dựng nhà máy, tháp điều áp, đường ống áp lực kênh dẫn ra đường VH2., cầu vào của nhà máy với giá trị : 14,276 tỷ đồng
+ Cung cấp gói thiết bị cơ điện và dịch vụ kỹ thuật : 1.180.000 USD+ Dự kiến hoàn thành công trình vào Quý II/2010
- Kế hoạch triển khai thực hiện dự án xây dựng toà nhà Lilama 10, cao
15 tầng, diện tích xây dựng : 1.086 m2; diện tích sàn : 16.000 m2 trên khu đất 9.000 m2 tại xã Trung Văn-huyện Từ Liêm-Hà Nội của công ty Cổ phần Lilama 10 với tổng mức đầu tư dự kiến 187 tỷ đồng (đơn giá tính tại thời điểm tháng 5/2008; dự kiến khởi công xây dựng vào quý II/2009 Kế hoạch thực hiện trong năm 2009 xây dựng toà nhà khoảng 100 tỷ đồng
- Kế hoạch thực hiện dự án đầu tư nước ngoài:
+ Cung cấp công nhân kỹ thuật cho tập đoàn Doosan Babcok dự án nhà máy nhiệt điện Tripoli Libua ( từ tháng 6/2009 đến hết tháng 6/2010)
+ Chế tạo kết cấu thép, bồn, bể cung cấp cho các đối tác nước ngoài gồm: Tập đoàn dầu khí Canada, Eseimenn của Đức; thông qua chương trình hợp tác và thương mại công nghiệp Việt Nam – Na Uy, cung cấp các sản phẩm cơ khí, dự kiến triển khai vào tháng 8,9 năm 2009
+ Công tác chuẩn bị thực hiện dự án lọc dầu tại Qatar theo biên bản ghi nhớ giữa Tổng Công ty Lilama với tập đoàn Technip dự kiến triển khai từ tháng 8/2009 đến tháng 12/2009
- Dự án khác: Rút một phần vốn góp tại Công ty cổ phần thủy điện Hủa
Na, Lilama UDC để tập trung cho các dự án đầu tư của Công ty
Trang 35Tóm lại, trong thời gian tới công ty sẽ phải huy động một lượng lớn vốn để sản xuất kinh doanh, thực hiện hoàn tất các dự án đang làm và tiếp tục triển khai thêm các dự án lớn khác theo hợp đồng đã ký với đối tác Sự huy động vốn này cần phải kết hợp từ nhiều nguồn và tổ chức khác nhau, nhất là trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế trầm trọng đang diễn ra ở mọi ngành kinh
tế như hiện nay đòi hỏi công tác huy động vốn càng trở nên khó khăn và phức tạp hơn bao giờ hết
2.2.2.2 Các hình thức huy động vốn của công ty Lilama 10
Sau hơn 40 năm hình thành và phát triển, công ty cổ phần Lilama 10 đã thực hiện nhiều phương thức huy động vốn được pháp luật cho phép như đi vay của các tổ chức tín dụng, ngân hàng, vốn do nhà nước cấp, vốn huy động
từ chủ sở hữu, vốn đầu tư dự án… Tuy nhiên mức độ huy động của các nguồn này là hết sức khác nhau do nhiều nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan Bên cạnh đó công ty cũng được cấp thêm vốn chủ từ Tổng công ty Lilama nhằm bổ sung thêm vốn điều lệ Do nhu cầu vốn cho giai đoạn tới là hết sức quan trọng trong khi nguồn vốn chủ sở hữu vẫn còn nhỏ bé so với tiềm lực của công ty, công ty Lilama 10 đã nỗ lực hết sức trong việc huy động các nguồn từ bên ngoài Có thể nhận thấy là nguồn vốn huy động được từ bên ngoài chiếm tỷ trọng rát lớn, đây cũng là một đặc điểm cơ bản của công ty cổ phần nhà nước đã niêm yết trên thị trường chứng khoán mà hoạt động huy động vốn của công ty có phần khác biệt so với các tổ chức khác Nguồn vốn huy động của công ty cổ phần Lilama 10 được thể hiện như sau:
Trang 36và vốn chủ sở hữu nhằm tránh rủi ro cũng như tuân thủ những quy định của pháp luật Như vậy, bên cạnh huy động vốn qua các hình thức sử dụng nợ, doanh nghiệp phải quan tâm tới hình thức tăng thêm vốn chủ sở hữu Thông thường một doanh nghiệp tăng thêm vốn chủ sở hữu thông qua việc phát hành
cổ phiếu mới hay giữ lại lợi nhuận sau thuế để tái đầu tư
Đối với công ty cổ phần Lilama 10 vấn đề tăng thêm vốn chủ sở hữu cũng hết sức quan trọng vì không chỉ giúp công ty tăng thêm vốn hoạt động
mà còn tăng sự an toàn tài chính đối với một công ty lớn Bên cạnh đó, theo quy định của pháp luật, công ty không thể vay thêm 1 khoản lớn hơn so với vốn điều lệ, đó cũng là một hạn chế lớn nếu như vốn điều lệ của công ty còn
ít Tăng thêm vốn điều lệ sẽ giúp công ty tăng doanh số, từ đó tăng doanh thu
và lợi nhuận của công ty
Từ đặc điểm của công ty cổ phần Lilama 10 là một công ty thành viên trong Tổng công ty Lilama Việt Nam đã phát hành cổ phiếu ra công chúng từ năm 2007, nên công ty có các hình thức tăng vốn chủ sở hữu dựa vào phát hành thêm cổ phiếu, giữ lại lợi nhuận sau thuế và xin tăng thêm vốn điều lệ từ tổng công ty
Bảng 8: Vốn chủ sở hữu của công ty Lilama 10 (ĐVT: triệu đồng)
Nguồn: Bảng cân đối kế toán các năm của công ty Lilama 10
Từ bảng trên cho thấy, việc huy động thêm vốn chủ sở hữu của công ty
có được chủ yếu là do vốn đầu tư của chủ sở hữu, trong đó chủ sở hữu ở đây
là Tổng công ty Lilama Việt Nam với 51% vốn góp, 49% vốn góp còn lại là
do các cá nhân tổ chức trong và ngoài nước khác Năm 2007 công ty Lilama
10 bắt đầu cồ phần hóa và niêm yết trên thị trường chứng khoán, vốn chủ sở
Trang 37hữu của công ty chuyển từ hình thức công ty TNHH nhà nước sang hình thức công ty cổ phần nhà nước với mức tăng vốn điều lệ lên tới 90 tỷ Tình hình tăng vốn chủ sở hữu qua các năm được thể hiện dưới biểu đồ sau:
Biểu đồ 7: Vốn đầu tư của chủ sở hữu qua các năm (ĐVT: triệu đồng)
0 20000
Về kênh huy động vốn từ lợi nhuận giữ lại của công ty trong 5 năm gần đây, có thể thấy đây cũng là một kênh huy động vốn không kém phần quan trọng mặc dù nó chưa thực sự đóng góp tỷ trọng lớn trong các nguồn huy động của doanh nghiệp Biều đồ sau sẽ đánh giá được mức tăng nguồn huy động vốn thông qua lợi nhuận giữ lại của công ty trong những năm gần đây:
Trang 38Biều đồ 8: Lợi nhuận chưa phân phối của công ty Lilama (ĐVT: triệu đồng)
Lợi nhuận giữ lại
Nguồn: Bảng cân đối kế toán qua các năm của công ty Lilama 10
Trong 2 năm 2004 – 2005, mức lợi nhuận giữ lại nhằm tái đầu tư của công ty rất ít, hầu như không đáng kể, sang đến năm 2006 khoản lợi nhuận tái đầu tư này bắt đầu phát sinh, dù mới ở mức trên 2 tỷ không hề lớn đối với một công ty nhà nước lớn như công ty Lilama 10, nhưng nó chứng tỏ công ty đã bắt đầu chú ý đến hình thức huy động thêm vốn đầu tư cho các năm sau bằng cách huy động thêm khoản lợi nhuận chưa phân phối này Sang năm 2007, khi mức vốn chủ sở hữu của công ty tăng lên do công ty thực hiện cổ phần hóa, mức lợi nhuận của công ty tăng vọt, gấp hơn 5 lần so với năm 2006 (năm
2007 là 11,8 tỷ trong khi đó năm 2006 trước đó mức này mới chỉ là hơn 2 tỷ đồng) Năm 2008 môi trường kinh doanh không thuận lợi do kinh tế thế giới
và trong nước bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng, nhưng mức lợi nhuận giữ lại của công ty vẫn tăng và đạt con số hơn 16 tỷ đồng, tăng gần 5 tỷ so với năm trước đó, và gấp 1.3 lần so với năm 2007
* Huy động vốn bằng cách vay các tổ chức tài chính
Một trong những hình thức huy động vốn chủ yếu của công ty cổ phần Lilama 10 là huy động vốn từ các tổ chức tài chính, các ngân hàng thương