1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thử nghiệm công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá ngựa đen (hippocampus kudableeker, 1852) tại quảng ngãi

6 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thử nghiệm công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá ngựa đen (Hippocampus kudableeker, 1852) tại Quảng Ngãi
Người hướng dẫn Ths. Nguyễn Hữu Thái
Trường học Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Ngãi
Chuyên ngành Nông Nghiệp, Nông Thôn
Thể loại Kỷ yếu nhiệm vụ khoa học và công nghệ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Quảng Ngãi
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 504,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

90 KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 2020 LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN THỬ NGHIỆM CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT GIỐNG VÀ NUÔI THƯƠNG PHẨM CÁ NGỰA ĐEN (HIPPOC[.]

Trang 1

THỬ NGHIỆM CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT GIỐNG VÀ

NUÔI THƯƠNG PHẨM CÁ NGỰA ĐEN (HIPPOCAMPUS

KUDABLEEKER, 1852) TẠI QUẢNG NGÃI

Chủ nhiệm đề tài: Ths Nguyễn Hữu Thái

Cơ quan chủ trì: Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Ngãi

Năm nghiệm thu: 2018

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Cá ngựa hiện tại đã trở thành mặt hàng quý hiếm Do đó, dẫn đến sự khai thác quá mức,

làm cho nguồn lợi cá ngoài tự nhiên ngày càng giảm Điều này thể hiện qua sự suy giảm kích

thước trung bình của cá khai thác được và sản lượng đánh bắt hàng năm Đồng thời việc mở

rộng phát triển du lịch hai khu vực Sa Huỳnh và Lý Sơn làm cho quĩ đất nuôi trồng thủy sản

hai khu vực này ngày càng giảm, mặc dù người dân đã nuôi tôm hùm, cá mú… trong lồng

để tạo công ăn việc làm nhưng trong những năm qua tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp

và thường xuyên xảy ra, đặc biệt là bệnh sữa tôm hùm đã gây thiệt hại lớn cho người nuôi

Cá ngựa là đối tượng tương đối dễ nuôi, vì thế cần phải phát triển nghề nuôi cá ngựa nhằm

đưa đối tượng nuôi mới vào nuôi trồng tại Quảng Ngãi, tạo công ăn việc làm cho một bộ

phận ngư dân ven biển, góp phần tăng thu nhập vừa để tạo sản phẩm không những cung cấp

cho khách du lịch tại hai địa phương trên mà còn cung ứng cho các thị trường trong và ngoài

nước, vừa nhằm giảm áp lực khai thác tự nhiên, góp phần bảo vệ nguồn lợi

II MỤC TIÊU

Tạo ra nghề nuôi mới, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân ven biển

III KẾT QUẢ THỰC HIỆN

1 Kết quả theo dõi phân tích các yếu tố môi trường

Qua kết quả phân tích các yếu tố môi trường nước sản xuất giống cá ngựa đen như sau:

pH nước có ảnh hưởng rất lớn đến các đối tượng sinh vật thủy sinh, pH cao sẽ dẫn đến

sự gia tăng hàm lượng ammonia gây độc cho cá đặc biệt ở dạng không ion, tăng tỷ lệ tử vong

cho cá pH trong các bể ương cá ngựa giống đợt 1 giao động từ 7,8-8,3; đợt 2 giao động từ

7,7-8,2 là tương đối ổn định trong hai đợt sản xuất và nằm trong khoảng phù hợp cho sự sinh

trưởng của cá ngựa pH thích hợp cho nuôi cá ngựa 7,5 – 8,5; tối ưu 8,0 – 8,3

Qua kết quả theo dõi hàm lượng DO của 2 đợt sản xuất giống cá ngựa: Từ 4,8-6,3

mgO2/l, hàm lượng DO phù hợp cho cá sinh trưởng và phát triển Thích hợp nhất đối với cá

ngựa duy trì ở mức DO 4 – 5mgO2/l

Nhiệt độ là một trong những yếu tố quan trọng nhất có ảnh hưởng đến sinh trưởng của

hầu hết các loài cá Trong quá trình sản xuất giống cá ngựa đen thì ở 2 sản xuất nhiệt độ giao

động từ 24-300C Điều này cũng phù hợp với nghiên cứu của một số tác giả cho rằng đối với

cá ngựa ở vùng nhiệt đới nhiệt độ thích hợp nhất cho cá là 27-300C

Hàm lượng NH3, NO2: Lượng NH3 thường ở mức dưới 0,16 mg/lít (trung bình của các

bể nuôi ở đợt 1 là 0,03-0,18mg/lít; đợt 2 là 0,06-0,10mg/lít); NO2 ở mức cao nhất là 0,08

Trang 2

(trung bình của các bể nuôi ở đợt 1 là 0,001-0,017mg/lít; đợt 2 là 0,002-0,028mg/lít) Với hàm lượng NH3, NO2 ở mức này tồn tại trong bể thì gần như không ảnh hưởng đến sinh trưởng của cá ngựa

2 Kết quả nuôi thành thục cá ngựa mang trứng cho sinh sản

Cá ngựa đen đực mang trứng nhập về trại sản xuất giống là 100 con chia làm 2 đợt sản xuất Sau 15 ngày nuôi thành thục cá ngựa đen mang trứng kể từ ngày nhập cá về của mỗi đợt thì tỷ lệ sống như sau:

+ Đợt 1: Tỷ lệ sống là 40%

+ Đợt 2: Tỷ lệ sống là 42%

Nguyên nhân do vận chuyển xa dẫn đến cá yếu, một số đẻ non và vì cá ngựa đen mang trứng được khai thác ngoài tự nhiên nên khi đưa vào môi trường nuôi bể xi măng trong trại một số chưa thích nghi kịp dẫn đến hao hụt

3 Kết quả sản xuất giống cá ngựa đen 3.1 Kết quả sản xuất

Đợt 1: Đã sản xuất ra 5.052 con giống cá ngựa, kích cỡ 42-67 mm/con Đợt 2: Đã sản xuất ra 6.144 con giống cá ngựa, kích cỡ 57-73mm/con

Qua hình 1 nhận, thấy số lượng

cá ương đến giai đoạn giống ở các bể

số 1, bể số 2, bể số 3 và bể số 9 tương ứng với số lượng giống đợt 1 là 450 con, 530 con, 367 con; đợt 2 là 780 con, 820 con, 550 con và 694 con chênh lệch khá cao

Nguyên nhân là cá bố mang trứng khai thác ngoài tự nhiên nên kích cỡ không đồng điều nên sức sinh sản khác nhau, đợt sản xuất đầu tiên vào mùa mưa lạnh và cuối vụ nên có một số con sinh sản ra cá bột yếu dẫn

đế tỷ lệ sống ương đến giai đoạn cá giống thấp hơn so với đợt 2

Qua kết quả sản xuất giống cho thấy mức sinh sản bình quân của cá đực chưa cao Đợt 1 bình quân mỗi

cá ngựa bố mang trứng sinh sản 432

cá con/ cá bố, đợt 2 bình quân cao hơn đợt 1 với 439 cá con/cá bố Điều này phù hợp với nghiên cứu của của một số tác giả trước đây về đặc điểm sinh học và khả năng nuôi trồng loài cá ngựa đen ở vùng biển Khánh Hòa, khả năng ấp trứng của cá ngựa đực vào khoảng từ 271 – 1.405 con

Hình 2: Tỷ lệ sống cá giống của 2 đợt Hình 1: Số lượng cá ương đến giống của 2 đợt

Trang 3

Hình 3: Tăng trưởng về chiều dài của cá

3.2 Sinh trưởng và phát triển của cá

3.2.1 Sinh trưởng và phát triển của cá đợt 1

Qua kết quả theo dõi về chiều dài thân của cá ngựa đen đợt sản xuất thứ nhất nhận thấy, tốc độ tăng trưởng của cá ngựa đen ở các bể số 3, bể số 4,

bể số 5, bể số 6 và bể số 9 giao động từ

62 - 66 mm/con gần như tương đương nhau Riêng tốc độ tăng trưởng của cá ngựa ở các bể số 1, bể số 2, bể số 7

và bể số 8 thì tốc độ sinh trưởng giao động từ 42-45mm/con, chậm hơn các

bể còn lại

Nguyên nhân các bể ương cá ngựa giống có sự chênh lệch tốc độ tăng trưởng về chiều dài như sau:

- Cá ngựa bố sinh sản các bể này sức sinh sản thấp so với các bể còn lại nên cá bột sinh

sản ra yếu dẫn đến tốc độ tăng trưởng chậm

- Các bể này nằm sát biển ảnh hưởng trực tiếp gió lạnh từ biển thổi vào nên nhiệt độ

luôn thấp hơn các bể còn lại làm cho cá ngựa giống bắt mồi kém hơn, dẫn đến tốc độ sinh

trưởng chậm hơn

3.2.2 Sinh trưởng và phát triển của cá đợt 2

Qua kết quả theo dõi (hình 4) tốc độ tăng trưởng

về chiều dài thân của cá ngựa đợt sản xuất thứ hai nhận thấy, tốc độ tăng trưởng của

cá ở các bể giao động 68 - 72 mm/con gần như tương đồng nhau Nguyên nhân như sau:

- Đề tài đã khắc phục những ảnh hưởng do thời tiết gây ra, nâng cao kỹ thuật chăm sóc, quản lý các yếu tố môi trường của đợt thứ nhất

- Đợt 2 triển khai sản xuất giống chính vụ, điều kiện thời tiết đợt sản xuất thứ 2 tương đối thuận lợi hơn so với đợt

sản xuất thứ nhất nên cá sinh trưởng tốt hơn

3.3 Hiệu quả kinh tế

Tổng số lượng giống sản xuất ra của 2 đợt là 11.000 con giống cá ngựa, kích cỡ 42 -

73 mm/con(4,2–7,3cm/con) Giá bán 18.000 đồng/con Tổng thu là 198.000.000 đồng, lợi

Hình 4: Tốc độ sinh trưởng về chiều dài cá ngựa

Trang 4

nhuận 16.000.000 đồng

4 Thử nghiệm quy trình nuôi thương phẩm cá ngựa đen 4.1 Thử nghiệm nuôi cá ngựa thương phẩm trong bể xi măng

4.1.1 Nội dung triển khai

Địa điểm triển khai tại huyện Đức Phổ, với qui mô: 50 m3, 01 đợt sản xuất (từ tháng 10/2017-3/2018)

- Chuẩn bị bể nuôi: Hệ thống các bể nuôi thương phẩm cũng là hệ thống các bể ương

cá giống, trong bể treo từ 6 – 8 dây cước dạng búi để làm vật bám cho cá Nguồn nước cấp cho bể được xử lý tương tự như nuôi cá giống

- Chọn cá giống: Con giống đồng đều, màu sắc đen hoặc vàng, cam Cá bơi lội khỏe, đuôi thường uống cong Kích thước từ 5 cm trở lên và đã được luyện ăn thức ăn đông lạnh (Mysida (tôm cám)) Mật độ nuôi: 100 con/m3

- Chăm sóc quản lý:

+ Cho ăn: 3 lần/ngày vào lúc 7 giời, 11 giờ và 16 giờ

+ Thức ăn: Giai đoạn < 7 cm cho ăn Mysida (tôm cám) đông lạnh Khi cá đạt 7 cm cho

ăn ruốc đông lạnh kết hợp Mysida đông lạnh (cho ăn ruốc cho đến khi cá giảm ăn, cho thêm Mysida (tôm cám)), khi cá trên 8 cm cho ăn hoàn toàn bằng ruốc đông lạnh

+ Cách cho ăn: Tắt sục khí, bật đèn Cho ăn cho đến khi cá không còn tập trung Lượng thức ăn cho ăn 1 ngày chiếm 15 – 20% trọng lượng thân

+ Xiphôn sau khi cho ăn 2 giờ để loại bỏ thức ăn thừa và phân cá + Định kỳ 2 ngày xử lý bể ương bằng chế phẩm vi sinh

+ Thay nước: Định kỳ 2 – 3 ngày/lần thay 20 – 30% nước trong bể

+ Định kỳ 15 ngày tắm cho cá bằng formol 30 – 50 ppm khoảng 15-20 phút (vớt cá ra

xô và tắm)

+ Sục khí mạnh liên tục

+ Nuôi cho đến khi cá đạt kích thước 10 – 12 cm Thời gian nuôi khoảng 5 – 6 tháng

- Giám sát các yếu tố môi trường, kiểm đa tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống:

+ Theo dõi các yếu tố môi trường và duy trì trong khoảng thích hợp: pH: 7,5 – 8,5; độ mặn: 28 – 35‰; độ kiềm: 100 – 140 mgCaCO3/l; DO > 4 mgO2/l; NO

-2, NH3< 0,1 mg/l; + Kiểm tra tốc độ tăng trưởng 10 ngày/lần Theo dõi số lượng cá chết hàng ngày khi xiphôn bể

4.1.2 Sinh trưởng và phát triển của cá

Sau 6 tháng nuôi, cá ngựa sinh trưởng phát triển tốt không phát hiện dịch bệnh nên từ lúc thả cá giống là 4-6cm/con đến thời điểm nghiệm thu mô hình kích cỡ thương phẩm bình quân đạt ≥12,2cm/con; tỷ lệ sống 70% đạt mục tiêu phương án đề ra

4.1.3 Hiệu quả kinh tế

Sau 6 tháng nuôi, cá đạt kích cỡ bình quân đạt 12,2cm/con; tỷ lệ sống 70% Số lượng

Trang 5

thức ăn đã sử dụng: 1.050 kg Giá bán 80.000 đồng/con, Tổng thu 280.000.000 đồng, lợi

nhuận: 37.792.000 đồng

4.2 Thử nghiệm nuôi cá ngựa đen thương phẩm trong lồng

4.2.1 Nội dung triển khai:

Địa điểm triển khai tại huyện Đức Phổ và huyện Lý Sơn Thời gian: Từ tháng

3/2017-9/2017

- Thiết kế lồng nuôi: Lồng được làm bằng lưới trũ, kích thước lồng: 2m x 2m x 2m (dài

x rộng x sâu) Lồng được treo vào bên trong các ô lồng của bè dùng để nuôi cá biển hoặc

bè nuôi tôm hùm Bên ngoài lồng nuôi cá ngựa phải có lồng bảo vệ để tránh địch hại Bên

trong lồng nuôi cá ngựa thả các búi dây bằng nilông để làm giá thể cho cá ngựa bám Bên

trên lồng có phủ lưới lan để che nắng

- Số lượng lồng nuôi: 6 lồng

- Chọn giống và thả giống: Tương tự chọn giống nuôi thương phẩm trong bể

- Thả giống: Sau khi cá được đưa đến bè, cho cá vào thùng, sục khí, để khoảng 15 – 20

phút, cho nước biển từ từ vào thùng chứa cá giống Thời gian thuần kéo dài khoảng 1 giờ

Sau đó thả cá trực tiếp vào các lồng nuôi Mật độ nuôi: 100 con/m3

- Thức ăn và cách cho ăn:

+ Thức ăn: Giai đoạn < 7 cm cho ăn Mysida (tôm cám) đông lạnh Khi cá đạt 7 cm cho

ăn ruốc đông lạnh kết hợp Mysida (tôm cám) (cho ăn ruốc bổ sung thêm Mysida (tôm cám)),

khi cá trên 8 cm cho ăn hoàn toàn bằng ruốc đông lạnh

+ Cho ăn 2 lần/ngày và lúc 7 giờ và lúc 15 giờ

+ Cách cho ăn: Ngâm thức ăn đông lạnh cho rã đông, dùng vợt rửa sạch bằng nước

biển, cho vào ca chứa Mở lưới lan che bên trên lồng, thông thường khi dỡ lưới lan cá sẽ tập

trung lên tầng mặt Dùng chén tạt từ từ thức ăn vào vị trí cá tập trung nhiều Cho ăn cho đến

khi cá không còn tập trung thì ngưng cho ăn

- Chăm sóc quản lý: Định kỳ 10 ngày/lần tắm cá bằng formol với nồng độ 30 – 50 ppm,

trong 15-20 phút để loại bỏ bớt mầm bệnh trên cá bằng cách vớt cá lên cho vào thùng, dùng

máy sục khí bằng bình ắc quy (hoặc máy sục khí điện), sục nhẹ liên tục trong suốt quá trình

tắm Đồng thời đưa lồng lên bờ để vệ sinh cho lồng sạch sẽ, thông thoáng

- Theo dõi các yếu tố môi trường, kiểm đa tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống:

Thường xuyên theo dõi các yếu tố môi trường vùng nuôi (độ mặn, pH, nhiệt độ, độ

kiềm, DO, NO2, NH3)

Kiểm tra tốc độ tăng trưởng 10 ngày/lần

Theo dõi tỷ lệ chết bằng cách kiểm tra lồng hằng ngày, vớt cá chết ra khỏi lồng

4.2.2 Sinh trưởng và phát triển của cá

Tốc độ sinh trưởng của cá ngựa về chiều dài thân giao động từ 12-12,3 cm/con; Về

trọng lượng giao động từ 7,1-7,6 g/con của cả 2 điểm tương đối giống nhau, vì cả 2 điểm

các yếu tố môi trường luôn phù hợp với đặc điểm sinh học của cá Riêng tỷ lệ sống của điểm

Trang 6

nuôi huyện Đức Phổ là 60%, điểm nuôi huyện Lý Sơn tỷ lệ sống là 55% thấp hơn so với điểm nuôi huyện Đức Phổ do cá ngựa là loài thích nghi với môi trường nước yên tĩnh mà huyện đảo Lý Sơn sóng gió nhiều, cá ngựa giai đoạn đầu chưa thích nghi kịp vì vậy tỷ lệ hao hụt nhiều hơn

Qua 6 tháng theo dõi, cá ngựa sinh trưởng phát triển tốt không phát hiện dịch bệnh nên từ lúc thả cá giống là 4-6cm/con đến thời điểm nghiệm thu kích cỡ bình quân của điểm nuôi huyện Đức Phổ là 12,3cm/con; điểm nuôi huyện Lý Sơn là 12cm/con; tỷ lệ sống điểm nuôi huyện Đức Phổ là 60%; điểm nuôi Lý Sơn là 55% đạt mục tiêu thuyết minh đề tài đề ra (Thuyết minh đề ra kích cỡ bình quân là 10-12cm/con; Tỷ lệ sống là 50%)

4.3 Hiệu quả kinh tế

a Huyện Lý Sơn

Sau 6 tháng nuôi, cá đạt kích cỡ bình quân đạt 12cm/con; tỷ lệ sống 55% Số lượng thức ăn đã sử dụng: 525 kg Tổng chi phí đầu tư 89 triệu đồng Giá bán 80 nghìn/con, tổng thu 110 triệu đồng, lợi nhuận 19,4 triệu đồng

b Huyện Đức Phổ

Sau 6 tháng nuôi, cá đạt kích cỡ bình quân đạt 12cm/con; tỷ lệ sống 60% Số lượng thức ăn đã sử dụng: 525 kg Tổng chi phí đầu tư 89 triệu đồng Giá bán 80 nghìn/con, tổng thu 120 triệu đồng, lợi nhuận 29,5 triệu đồng

IV KẾT LUẬN

Điều kiện tự nhiên ở Quảng Ngãi phù hợp để sản xuất và nuôi thương phẩm cá ngựa đen trong lồng và trong bể xi măng Tuy nhiên việc sản xuất giống nên thực hiện từ tháng

10 đến tháng 12 năm trước để cung ứng giống cá ngựa trước tháng 3 âm lịch nhằm đảm bảo đúng thời vụ thả nuôi và tránh rủ ro do thời tiết gây ra

Việc nuôi dưỡng thành thục cá bố mang trứng được mua từ tỉnh Khánh Hòa để tuyển chọn cho sinh sản nhân tạo cá ngựa bước đầu đã thành công Kết quả tỷ lệ sống đợt 1 là 40%; đợt 2 là 42%

Thử nghiệm sản xuất giống cá ngựa đen: Qua 5 tháng sản xuất của hai đợt thử nghiệm sản xuất giống cá ngựa đen kết quả đã sản xuất được 11.196 con cá ngựa đen giống; kích cỡ trung bình 4,2-7,3 cm/con đạt yêu cầu

Thử nghiệm nuôi cá ngựa đen thương phẩm trong lồng, sau 6 tháng nuôi cá sinh trưởng phát triển tốt, ở điểm nuôi huyện Lý Sơn tỷ lệ sống đạt trên 55%, chiều dài bình quân 12,0 cm/con; ở điểm nuôi huyện Đức Phổ tỷ lệ sống đạt trên 60%, chiều dài bình quân 12,3 cm/ con

Thử nghiệm nuôi cá ngựa đen thương phẩm trong bể xi măng, sau hơn 6 tháng nuôi cá sinh trưởng phát triển bình thường, tỷ lệ sống đạt trên 70%, chiều dài bình quân 12,2 cm/ con đạt được yêu cầu mà thuyết minh đã đề ra

Qua sơ lược đánh giá hiệu quả kinh tế thì việc sản xuất giống và nuôi thương phẩm

cá ngựa bước đầu đã mang lại hiệu quả kinh tế cho người nuôi, tuy chưa cao nhưng đã góp phần tạo ra đối tượng mới, nghề nuôi mới, góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi, tạo công

ăn việc làm cho người dân

Ngày đăng: 27/02/2023, 08:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w