BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP BẠCH THANH HẢI NGHIÊN CỨU BẢO TỒN QUẦN THỂ BÒ TÓT (Bos gaurus) VÀ QUẦN THỂ TÊ GIÁC MỘT SỪNG JAVA (Rhinoceros sondaicus) Ở KHU VỰ[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
BẠCH THANH HẢI
NGHIÊN CỨU BẢO TỒN QUẦN THỂ BÒ TÓT (Bos gaurus) VÀ QUẦN THỂ TÊ GIÁC MỘT SỪNG JAVA (Rhinoceros sondaicus) Ở
KHU VỰC CÁT LỘC, VƯỜN QUỐC GIA CÁT TIÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2010
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Các nguồn tài nguyên đa dạng sinh học có ý nghĩa sống còn đối với quá trình phát triển kinh tế và xã hội của nhân loại, chúng cần được bảo vệ để đáp ứng nhu cầu
xã hội ngày nay, cũng như cho các thế hệ mai sau Một phương thức hợp lý, sáng suốt và đạt hiệu quả nhất để thực hiện công tác này là xây dựng các khu rừng đặc dụng và quản lý hợp lý chúng, đó là cốt yếu để đảm bảo sử dụng lâu bền các nguồn tài nguyên thiên nhiên (Jonhsingh, 1994) Các khu rừng đặc dụng đảm bảo cho việc duy trì các hệ sinh thái, các loài, tính đa dạng về gen và các quá trình sinh thái di truyền Ngoài ra, chúng còn giúp duy trì tính đa dạng về văn hóa Các khu rừng đặc dụng cũng đảm bảo cho sự cân bằng hệ sinh thái, duy trì các quy luật nhân tạo và tự nhiên, giúp cho việc sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên, giảm được các thảm họa môi trường và khôi phục các cảnh quan tự nhiên
Vườn Quốc gia Cát Tiên được xem là điểm nóng về đa dạng sinh học ở Việt Nam và trong khu vực, nổi bật là hệ sinh thái rừng kín ẩm nhiệt đới thường xanh, độ cao so với mặt nước biển thấp nhất dưới 115m và cao nhất 626m Vườn quốc gia Cát Tiên nằm trong hệ thống các Vùng sinh thái Global 2000 của WWF (các vùng sinh thái có giá trị đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới đồng thời là những điểm nóng
về bảo tồn đa dạng sinh học của thế giới), cũng như trong hệ thống các Khu dự trữ sinh quyển (Biosphere Reserves) thuộc Chương trình MAB của UNESCO năm
2001 Nhờ vào sự ưu ái của điều kiện tự nhiên, các dạng sinh cảnh và hiệu quả của các hoạt động bảo tồn, Vườn Quốc gia Cát Tiên đang trở thành một trong những nơi trú ngụ cuối cùng của nhiều loài thú lớn ở Việt Nam như tê giác một sừng Java
(Rhinoceros sondaicus), voi châu á (Elephas maximus), bò tót (Bos gaurus) và nhiều
loài khác
Tê giác một sừng java và bò tót là hai loài thú lớn đang bị đe dọa diệt vong cao nhất trên thế giới Loài tê giác chỉ còn tồn tại 2 quần thể nhỏ: quần thể khoảng 60 cá
Trang 3thể ở VQG Ujung Kulon (Inđônêxia) và quần thể khoảng 7-8 cá thể ở khu vực Cát Lộc, VQG Cát Tiên Danh lục Đỏ của IUCN (2010) xếp tê giác java ở bậc đe dọa cao nhất CR (rất nguy cấp), Sách Đỏ Việt Nam (2007) cũng xếp tê giác java ở bậc CR (rất nguy cấp) Về bò tót, Sách Đỏ Việt Nam (2007) xếp bò tót ở cấp độ Nguy cấp (EN) Trên thế giới, Danh lục đỏ IUCN xếp ở loài bò tót ở mức độ Sắp bị đe dọa (VU) [IUCN, 2008]; Bò tót cũng được xếp trong nhóm IB (nghiêm cấm khai thác
và sử dụng vì mục đích thương mại) của Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ Khu vực Cát Lộc có tổng diện tích là 27.530ha trước kia là Khu Bảo tồn thiên nhiên Cát Lộc, đến năm 1998, sát nhập vào Vườn Quốc gia Cát Tiên, là một khu vực hiện đang tồn tại cả hai loài thú lớn quý hiếm này (Tê giác java và bò tót) Cát Lộc bị bao bọc xung quanh là các khu dân cư đông đúc, trong đó có nhiều bản làng dân tộc địa phương (Stiêng, Châu Mạ, ) sống rải rác sâu trong vùng lõi, thường xuyên phá rừng làm rẫy, lấn chiếm đất rừng làm nông nghiệp, săn bẫy bắt thú rừng, chăn thả gia súc tự do,… Đây là những đe dọa lớn đối với sự tồn tại của quần thể Tê giác java, quần thể bò tót và nhiều loài sinh vật khác sống trong khu vực
Một nguyên nhân khác gây khó khăn cho bảo tồn các loài thú lớn ở đây là chưa
có sự hiểu biết đầy đủ về các đặc điểm sinh học, sinh thái của loài như: phân bố thực
tế, hiện trạng sinh cảnh, các nguyên nhân đe dọa… Chính vì thiếu các thông tin này,
đã dẫn đến việc quy hoạch thiếu hoặc sai vùng bảo tồn thích hợp hoặc chưa có được
sự lựa chọn và đưa ra các giải pháp ưu tiên để quản lý, bảo tồn hiệu quả
Nhận thức được sự cấp thiết và những tồn tại trong nghiên cứu, bảo tồn và phát triển 2 loài thú lớn đặc biệt quý hiếm nói trên chúng tôi chọn thực hiện đề tài
“Nghiên cứu bảo tồn quần thể Bò tót (Bos gaurus) và quần thể Tê giác một sừng java (Rhinoceros sondaicus) ở khu vực Cát Lộc, VQG Cát Tiên” nhằm cung cấp
các thông tin và hiểu biết đầy đủ hơn về các đặc điểm sinh học, sinh thái của 2 loài này ở khu vực Cát Lộc, tạo cơ sở cho việc lập kế hoạch bảo tồn lâu dài chúng
Trang 4CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 TỔNG QUAN VỀ LOÀI TÊ GIÁC MỘT SỪNG JAVA
1.1.1 Các loài tê giác trên thế giới
Trên thế giới có năm loài tê giác khác nhau, hai loài phân bố ở châu Phi
và ba loài phân bố ở châu Á Châu Âu, châu Mỹ và châu Úc không có tê giác sống trong môi trường tự nhiên (Hình 1) Trong suốt thời kỳ Băng Hà một phân loài tê giác cổ đại có lông đã từng cư trú trên lục địa châu Âu và châu Á, nhưng chúng đã sớm bị tuyệt chủng
Tê giác một sừng java (Rhinoceros sondaicus) – phân bố ở châu Á
Tê giác hai sừng (Dicerorhinus sumatrensis) - phân bố ở châu Á
Tê giác một sừng ấn độ
(Rhinoceros unicornis)
- phân bố ở châu Á
Tê giác trắng
(Ceratotherium simum)
- phân bố ở châu Phi
Tê giác đen
(Diceros bicornis)
- phân bố ở châu Phi
Hình 1.1 Các loài tê giác hiện nay trên thế giới
Cả năm loài trên đều có nguy cơ bị tuyệt chủng cao và đã được đưa vào Danh Lục Đỏ của IUCN (Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế) Đặc biệt, sự
Trang 5sống còn của hai loài: Tê giác một sừng java (Rhinoceros sondaicus) và Tê giác hai sừng (Dicerorhinus sumatrensis) đang bị đe dọa nghiêm trọng (đều
xếp bậc CR-rất nguy cấp trong Danh Lục Đỏ IUCN, 2010)
Tê giác một sừng ấn độ là loài lớn nhất trong số ba loài tê giác châu Á Tê giác một sừng ấn độ sống ở Ấn Độ và Nêpan, nhỏ nhất là loài tê giác hai sừng (hay còn được gọi là tê giác có lông, tê giác sumatra) Loài này sống trong những vùng núi rậm rạp trên đảo Sumatra, Kalimantan và bán đảo Malaixia
Hiếm nhất hiện nay là loài Tê giác một sừng java, hiện chỉ còn từ 50 –
70 cá thể còn sống sót trên toàn thế giới Theo Groves & Guerin (1980), loài này có ba phân loài là:
- Tê giác một sừng xuđăng (Rhinoceros sondaicus sondaicus) sinh sống
ở VQG Ujung Kulon (Inđônêxia)
- Tê giác một sừng việt nam (Rhinoceros sondaicus annamiticus) sinh sống
ở khu vực Cát Lộc (huyện Cát Tiên, Lâm Đồng) của VQG Cát Tiên
- Phân loài Rhinoceros sondaicus inermis từng sống tại vùng Sunderbans
thuộc Ấn Độ, Bănglađét và Mianma Phân loài này đả bị tuyệt chủng vào cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20
1.1.2 Sơ lược đặc điểm sinh học, sinh thái của Tê giác một sừng java
Tê giác một sừng java cao từ 130 đến 150 cm và có thể nặng tới
1.500kg Phân loài tê giác R.s.annamiticus ở Việt Nam nhỏ hơn nhiều so với
những đồng loại của chúng ở Inđônêxia Loài này, chỉ có con đực mới mang một chiếc sừng tương đối dài (20 - 25cm), con cái thường không có sừng hoặc chỉ có một khối u nhỏ Sừng tê giác thật ra là một túm lông mọc dày đặc, hoàn toàn không phải xương Sừng tê giác được cho là một vị thuốc cổ truyền có giá trị Tuy nhiên, cần biết rằng tác dụng chữa bệnh của nó chưa bao giờ được chứng minh một cách có khoa học
Trang 6Tê giác là một loài thú sống đơn độc Đa số trường hợp mà ta bắt gặp những con tê giác đi với nhau đều là tê giác mẹ đi với các con của nó Thời gian trưởng thành sinh dục của tê giác một sừng java là từ 4-6 sáu năm, thời gian mang thai là 16 tháng Tê giác con sống với mẹ cho đến khi được ba, bốn tuổi
Tê giác một sừng java khá dễ thích nghi với môi trường sống Chúng sống trong những cánh rừng bán thường xanh và thích kiếm ăn ở những vùng thoáng đãng hơn Tuy nhiên, hiện nay tê giác ở Việt Nam đang bị dồn vào một khu vực đồi dốc với các bụi tre mây gai góc dày đặt bao phủ rất bất lợi Loài thú này không thích ăn tre hay mây, chúng thích ăn chồi, cỏ, mầm non
và những cây thân thảo Để bổ sung cho chế độ dinh dưỡng, tê giác cần tiêu thụ đều đặn một lượng muối khoáng nhất định Vì thế, tê giác ở VQG Ujung Kulong uống nước biển Ở Việt Nam, tê giác thường hay lui tới một số suối khoáng, sinh lầy giàu khoáng để uống
Dấu chân của tê giác một sừng java ở Ujung Kulong và ở Việt Nam có
sự khác biệt về kích cỡ So với tê giác Ujung Kulon, dấu chân của tê giác ở Việt Nam nhỏ hơn nhiều, chỉ bằng khoảng 60 đến 70% Các nhà khoa học cũng cho rằng mặc dù cùng loài tê giác một sừng, nhưng hai quần thể này khác nhau đến nổi việc phối giống giữa chúng có lẽ sẽ không có kết quả
1.2 TỔNG QUAN VỀ LOÀI BÒ TÓT
1.2.1 Tình trạng của loài bò tót trên thế giới
Đầu thế kỷ XVI, họ Trâu bò (Bovidae) có 12 loài bò hoang dã phân bố trên khắp các châu Á, châu Âu, châu Phi và Bắc Mỹ Ngày nay họ Trâu bò chỉ còn lại 10 loài [50] tồn tại dưới những quần thể nhỏ và phân tán ở một vài
quốc gia Loài bò xám (Bos sauveli) và bò Auroch (Bos primigenus) đã tuyệt
chủng
Ở Việt Nam, họ Trâu bò có 2 họ phụ là Bovinae và Caprinae, trong đó
có 6 loài là: bò tót (Bos gaurus), bò rừng (Bos javanicus), bò xám (Bos
Trang 7sauveli), trâu rừng (Bubalus bubalis), Sơn dương (Naemorhendus sumatraensis) và sao la (Pseudoryx nghetinhensis [13]
Bò tót có phân bố ở Nêpan, Bănglađét, Butan, Ấn Độ, Myanma, Lào, Cămpuchia, Thái Lan, Trung Quốc, Malaixia và Việt Nam Số lượng bò tót trên thế giới hiện nay còn lại ước tính từ 13.000 đến 30.000 cá thể và hiện đang suy giảm nghiêm trọng do sự gia tăng dân số cao ở khu vực Đông Nam
Á Nguyên nhân chính khiến số lượng bò tót suy giảm như vậy là do nạn săn bắn, tình trạng phá hoại sinh cảnh, cạnh tranh nguồn thức ăn và nguy cơ lây bệnh từ bò nuôi Hiện nay, bò tót được xếp ở mức độ Sắp bị đe dọa (VU)
Ở Việt Nam: Trước đây nhiều tác giả đã ghi nhận bò tót phân bố ở các tỉnh miền Tây Nam bộ, Tây Ninh, Sông Bé, Đồng Nai thượng, Vĩnh Long, Lâm Đồng (núi Lang Biang), Buôn Đôn (Đắc Lắc), Thừa thiên, Quảng Nam –
Đà Nẵng Nhưng do tác động mạnh mẽ của con người, chặt phá rừng, làm mất nơi sống của chúng, vì vậy ngày nay bò tót chỉ phân bố ở trong một số VQG
và khu BTTN
Hiện nay theo nghiên cứu của Đặng Ngọc Cần và cs (2008) bò tót phân
bố ở 27 khu vực thuộc 15 tỉnh trong cả nước [13] Một số tỉnh thuộc Nam Trung Bộ và phần lớn các tỉnh Tây Bắc trước khi có ghi nhận về bò tót nay đã không có thông tin về sự tồn tại của chúng [13] Các vùng phân bố bò tót theo các vùng địa lý như sau:
Tây Bắc: Lai Châu: Mường Nhé (Mường Tè);
Bắc Trung Bộ: Thanh Hóa: Pù Hu (Mường Lát), Xuân Liên (Thường Xuân); Nghệ An: Pù Hoạt (Quế Phong), Pù Mát (Con Cuông); Hà Tĩnh: Vũ Quang (Vũ Quang); Quảng Bình: Thượng Hóa (Minh Hóa), U Bò (Quảng Ninh); Quảng Trị: Vĩnh Ô (Vĩnh Linh), Triệu Nguyên (Đắk Rông)
Tây Nguyên: Kon Tum: Chư Mom Rây (Sa Thầy), Gia Lai: Chư Prông; Đắc Lắc: Yok Đôn (Buôn Đôn, Cư Jút), Ea Súp, Ea Sô (Ea Kar), Chư Yang
Trang 8Sin (Krông Bông, Lắc); Đắc Nông: Tà Đùng (Đắc Lấp), Nam Nung (Đắc Min); Lâm Đồng: Bi Đúp – Núi Bà (Lạc Dương), Bảo Lộc
Đông Nam Bộ: Bình Phước: Tân Lập, Nghĩa Trung (Đồng Phú), Bù Gia Mập (Phước Long), Lộc Ninh; Đồng Nai: Cát Tiên (Tân Phú, Vĩnh Cửu), La Ngà; Ninh Thuận: Phước Bình (Bác Ái), Ninh Sơn
Khu vực phân bố của bò tót tập trung nhất là Tây Nguyên và Đông Nam
Bộ Trong các khu vực phân bố, có 19/27 khu vực phân bố quần thể bò tót tồn tại chủ yếu ở các khu rừng đặc dụng (70,4%), có 3/27 khu vực là diện tích các lâm trường (11,1%) Chỉ có 5/27 khu vực phân bố của bò tót chưa được bảo
vệ (18,5%) [34]
1.2.2 Sơ lược đặc điểm sinh học, sinh thái của Bò tót
Bò tót (Bos gaurus) là loài thú móng guốc, ngón chẵn, cỡ lớn, có thân
hình to khỏe Bò tót trưởng thành có đầu to, trán dẹp hơi lõm, có đốm trắng vàng trên đỉnh; vùng trán giữa 2 sừng nhô cao; cặp sừng rỗng lớn, gốc sừng
to, màu vàng xám và cân đối, uốn cong lên phía trên tạo vòng cung hình bán nguyệt; mút sừng nhọn đen bóng Bò tót có bộ lông ngắn và mượt, màu lông thay đổi theo từng cá thể, từ nâu đen (con đực) và màu nâu vàng (con cái) Ở phần bụng lông dài hơn, màu nâu nhạt Mông đen, bốn chân từ kheo trở xuống bàn chân màu trắng nhạt Đuôi dài màu đen Ở điểm chính giữa của hai gốc sừng có phủ lớp lông dài màu nâu nhạt hoặc xám trắng Bò tót non mới sinh màu vàng với đám lông sẩm dọc sống lưng, sau 4 - 5 tháng chuyển dần sang màu nâu đỏ
Bò tót đực có u thịt lớn, khá đặc trưng chạy từ gáy đến giữa lưng, được tạo bởi sự phát triển của gờ đốt sống thứ 3 đến 11 Lớp da ở cổ và trước ngực dài tạo thành yếm nhỏ Bò tót cái cũng có u thịt và yếm nhưng không phát triển như bò tót đực Bò tót cũng là loài duy nhất trong họ Trâu bò có các
Trang 9tuyến tiết dầu ở da, có tác dụng để chống côn trùng, ký sinh trùng trên da và
có thể có tác dụng đánh dấu sinh học Đặc điểm tiết dầu trên da có thể quan sát rõ ở các cá thể bò tót đực vào mùa khô
Bò đực trưởng thành có thể đạt khối lượng trên 1.000kg, con cái thường nhỏ hơn con đực Các kích thước cơ bản của bò tót như sau: dài thân: 250 - 300cm, đuôi: 70 - 105cm, tai: 30 - 35cm, cao vai: 130 - 180cm
Bò tót thường sinh sống ở các vùng tương đối bằng phẳng, độ cao dưới 1.800m, trong các kiểu rừng khác nhau (rừng khộp, rừng thường xanh, rừng hỗn giao tre nứa, … ) và khu vực đồng cỏ (Schaller, 1967) Chúng hoạt động trong nhiều kiểu sinh cảnh khác nhau và có xu hướng sinh sống thường xuyên hơn trong các khu rừng thường xanh và những khu vực cao hơn vào mùa khô (Prayurasiddhi, 1997) Vùng đất ven rừng, ven dòng nước, trong đó có những bãi
cỏ mọc sau khi bị đốt cháy là những nơi bò tót đến kiếm ăn thường xuyên nhất
Bò tót có thể sống trong vùng sinh cảnh bị suy thoái do hoạt động của con người Chúng thường kiếm ăn trong khu vực canh tác của người dân Bò tót ăn đồng thời cả cỏ và lá cây Chúng ăn lá cây nhiều hơn các loài bò hoang dã khác Thức ăn của bò tót chủ yếu là cỏ, mầm lá non của lau sậy, chuối rừng, măng non tre nứa, dương xỉ và lá cây Măng tre là một trong những thức ăn thường xuyên nhất của bò tót vào mùa mưa ở Thái Lan (Prayurasiddhi, 1997) Nguồn nước đảm bảo quanh năm là yếu tố rất quan trọng cho loài này Nói chung, bò tót không đi xa nguồn nước quá một ngày đường (Conry, 1981) Các điểm khoáng và suối giàu khoáng là những yếu tố rất quan trọng đối với bò tót Phạm vi sinh sống của bò tót thay đổi theo giới tính, theo mùa, theo từng khu vực
và quy mô đàn, dao động từ 27km2- 137km2 ở Malaixia (Conry, 1989) Phạm vi vùng hoạt động của bò tót vào mùa mưa rộng hơn vào mùa khô và đàn lớn có phạm
vi hoạt động hàng năm rộng hơn đàn nhỏ Tuy nhiên, phạm vi di chuyển mỗi ngày
Trang 10của bò tót lại không thay đổi giữa mùa khô và mùa mưa và chỉ khoảng 3 km/ngày (Prayurasiddhi, 1997)
Thời điểm bò Tót hoạt động nhiều là ban đêm Ban ngày, chúng nằm nhai lại thức ăn ở nơi quang đảng trong rừng hoặc trong những khu vực có cỏ cao Bò tót sống thành từng đàn từ 3 - 40 cá thể Trong đàn có con đực, con cái trưởng thành, con bán trưởng thành (gần trưởng thành) và con non Cơ cấu đàn không thay đổi theo mùa Trong đàn, mỗi cá thể có một vị trí riêng và vị trí thống trị được phân hạng bằng cách đánh nhau (Thomas, 1996) Khi con cái già nhất rời đàn đi kiếm ăn thì những con đực thống trị giữ vai trò bảo vệ cả đàn (Prayurasiddhi, 1997) Vị trí thống trị đàn được phân định bằng kích cỡ cơ thể (Schaller, 1967; Thomas, 1996)
Đôi khi, đàn bò tót đi kiếm ăn cùng với nai (Cervus unicolor) Khi bị tấn công
những con đực khoẻ mạnh quây thành vòng tròn bảo vệ cho con non và con già ở giữa
Bò tót cái động dục và sinh sản vào bất kỳ thời điểm nào trong năm, nhưng có thời điểm sinh sản nhiều nhất vào tháng 6 – 7 và phụ thuộc vào điều kiện môi trường Mỗi lứa bò tót chỉ đẻ một con, thời gian mang thai khoảng 270 – 290 ngày Tuổi đời tối đa của cá thể nuôi nhốt là 24 năm (Thomas, 1996) Có rất nhiều loài
thú ăn thịt săn bắt bò tót mới sinh và còn non như hổ (Panthera tigris), báo hoa mai (Panthera pardus), báo gấm (Neofelis nebulosa), sói đỏ (Cuon alpinus), nhưng chỉ
có hổ là đủ dũng mãnh để có thể giết được những con bò tót trưởng thành
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BÒ TÓT VÀ TÊ GIÁC MỘT SỪNG JAVA Ở VIỆT NAM
1.3.1 Tình hình nghiên cứu bò tót
1.3.1.1 Ở Việt Nam
Trong bối cảnh chung của lịch sử nghiên cứu động vật học ở Việt Nam, nghiên cứu thú móng guốc nói chung và bò tót nói riêng có thể chia thành 3