ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA Y DƯỢC NGUYỄN BÁ LỰC BÀO CHẾ VÀ ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ TÁC DỤNG CỦA GEL MẬT ONG TRONG HỖ TRỢ CHĂM SÓC VẾT THƯƠNG KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DƯỢC HỌC HÀ NỘI 2018 http //ww[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC
NGUYỄN BÁ LỰC
BÀO CHẾ VÀ ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ TÁC DỤNG CỦA GEL MẬT ONG TRONG
HỖ TRỢ CHĂM SÓC VẾT THƯƠNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DƯỢC HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC
Người thực hiện: NGUYỄN BÁ LỰC
BÀO CHẾ VÀ ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ TÁC DỤNG CỦA GEL MẬT ONG TRONG
HỖ TRỢ CHĂM SÓC VẾT THƯƠNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DƯỢC HỌC
Khóa: QH.2013.Y Người hướng dẫn: 1 ThS Trịnh Ngọc Dương
2 PGS.TS.Nguyễn Thanh Hải
HÀ NỘI - 2018
Trang 3Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
LỜI CẢM ƠN Đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới ThS.Trịnh Ngọc Dương – bộ
môn Bào chế và Công nghiệp Dược phẩm, khoa Y Dược – Đại học Quốc gia
Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian vừa qua
Em cũng xin tỏ lòng biết ơn tới PGS.TS.Nguyễn Thanh Hải – Phó
chủ nhiệm phụ trách khoa Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội, Chủ nhiệm bộ môn Bào chế và Công nghiệp Dược phẩm đã định hướng cho nghiên cứu
Đặc biệt, em xin gửi lời chân thành cảm ơn tới anh Nguyễn Xuân
Tùng, chị Bùi Thị Thương, các thầy và các anh chị trong bộ môn Bào chế và
Công nghiệp Dược, Khoa Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội đã trực tiếp chỉ bảo, tạo điều kiện thuận lợi nhất để em hoàn thành khoá luận
Cuối cùng, em xin cảm ơn những người thân gia đình, bạn bè đã luôn bên em, động viên em hoàn thành khóa luận này
Hà Nội, ngày 27/04/2018
Tác giả
Nguyễn Bá Lực
Trang 4Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
CMC Carboxymethyl cellulose
DĐVN Dược điển Việt Nam DPPH 1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl HEC Hydroxyethyl cellulose
MGO Methylglyoxal enzym
Na CMC Natri Carboxymethyl cellulose
Na EDTA Natri Ethylene Diamine Triacetic Axit
UV Ultra violet (Tia tử ngoại)
Trang 5Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tác dụng của mật ong trong quá trình hồi phục vết
thương
11
Bảng 1.2 Ứng dụng của hydrogel và ví dụ các polyme 17
Bảng 2.1 Nguyên liệu bào chế gel mật ong 19
Bảng 2.2 Nguyên liệu thử tác dụng oxy hoá gel mật ong 20
Bảng 3.1 Trạng thái thể chất của gel mật ong bào chế được với
một số polyme ở các nồng độ khác nhau
27
Bảng 3.2 Độ nhớt gel mật ong bào chế được với một số
polyme ở các nồng độ khác nhau sau bào chế và sau
2 tuần
28
Bảng 3.3 Công thức bào chế 100 g gel mật ong 60% (kl/kl) (tá
dược carbopol 940)
29
Bảng 3.4 Công thức bào chế 100 g gel mật ong 60% (kl/kl) (tá
dược chitosan)
30
Bảng 3.5 Bảng thay đổi độ nhớt gel mật ong 60% (tá dược
carbopol 940)
31
Bảng 3.6 Bảng thay đổi độ nhớt gel mật ong 60% (tá dược
chitosan)
32
Bảng 3.7 Kết quả thử nghiệm hoạt tính kháng khuẩn 33
Bảng 3.8 Kết quả đánh giá khả năng chống oxy hoá của
gel mật ong 60 %
36
Trang 6Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Mô hình tác dụng của mật ong trên các giai đoạn
của quá trình hồi phục vết thương
13
Hình 1.2 Thuốc điều trị vết thương hở Medihoney® Gel 14
Hình 2.1 Quy trình bào chế gel chứa mật ong 22
Hình 3.1 Sơ đồ quy trình bào chế gel mật ong 60% với tá
dược carbopol 940
29
Hình 3.2 Sơ đồ quy trình bào chế gel mật ong 60% với tá
dược chitosan
30
Hình 3.3 (A) Gel mật ong 60% tá dược carbopol 940, (B) Gel
mật ong 60% tá dược chitosan
33
Hình 3.4 Hoạt tính kháng khuẩn của gel mật ong so với
kháng sinh chứng và mật ong trên 1 số vi khuẩn
Gram âm: (A) E.coli, (B) P.mirabilis, (C) S.flexneri
và một số vi khuẩn Gram dương:
(D) B.subtilis, (E) S.lutea, (F) S.aureus
34
Hình 3.5 Đồ thị biểu diễn khả năng chống oxy hoá của
gel mật ong 60% (tá dược carbopol 940)
37
Hình 3.6 Đồ thị biểu diễn khả năng chống oxy hoá của
gel mật ong 60% (tá dược chitosan)
37
Hình 3.7 Đồ thị biểu diễn khả năng chống oxy hoá của
axit ascorbic
38
Trang 7Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 3
1.1 Thuốc điều trị vết thương hở 3
1.1.1 Giới thiệu chung về vết thương 3
1.1.2 Các thuốc được sử dụng trong điều trị vết thương hở 4
1.2 Tổng quan về mật ong và tác dụng của mật ong trong điều trị vết thương hở 6
1.2.1 Giới thiệu chung về mật ong 6
1.2.2 Tác dụng sinh học của mật ong 7
1.2.3 Tính chất, cơ chế tác dụng của mật ong trong quá trình hồi phục vết thương 8
1.2.4 Thuốc hỗ trợ điều trị vết thương từ mật ong 13
1.3 Khái niệm, phân loại, phương pháp tạo gel 14
1.3.1 Khái niệm gel 14
1.3.2 Phân loại gel 15
1.3.3 Hydrogel 15
CHƯƠNG 2: NGUYÊN VẬT LIỆU, TRANG THIẾT BỊ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Nguyên vật liệu, thiết bị 19
2.1.1 Nguyên vật liệu 19
2.1.2 Thiết bị nghiên cứu 21
2.2 Nội dung nghiên cứu 21
2.3 Phương pháp nghiên cứu 21
Trang 8Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
2.3.2 Xây dựng quy trình bào chế gel mật ong 60% 21
2.3.3 Đánh giá một số đặc tính của sản phẩm bào chế được 22
2.3.4 Đánh giá tác dụng kháng khuẩn in vitro của gel mật ong 23
2.3.5 Đánh giá tác dụng chống oxy hoá của gel mật ong 25
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 26
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 27
3.1 Khảo sát khả năng tạo gel của một số polyme với mật ong 27
3.2 Xây dựng quy trình bào chế gel mật ong 60% 28
3.3 Đánh giá một số đặc tính của gel mật ong 60% 31
3.3 Đánh giá tác dụng kháng khuẩn in vitro của gel mật ong 60% 33
3.4 Đánh giá tác dụng chống oxy hoá của gel mật ong 60% 35
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 39 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Mật ong là hỗn hợp tự nhiên của nhiều chất, có tác dụng chữa lành vết thương sẵn có trong tự nhiên Từ xa xưa, con người đã biết dùng đến mật ong trong việc chữa lành các vết thương Người Trung Quốc cổ đại, Ai Cập, Hy Lạp và người La Mã đã sử dụng các loại mật ong khác nhau để chữa lành các vết thương và các bệnh về đường tiêu hóa Cho đến đầu thế kỉ 20, người ta đã
sử dụng mật ong trong việc chăm sóc vết thương mỗi ngày [16]
Về mặt bệnh lý, vết thương hở là một chấn thương liên quan đến phá
vỡ bên ngoài hoặc bên trong mô cơ thể, thường liên quan đến da Các tai nạn với đồ vật hoặc dụng cụ sắc nhọn, và tai nạn xe là nguyên nhân phổ biến gây nên vết thương hở [18] Tại các tổn thương, vi sinh vật có thể xâm nhập, gây nhiễm trùng, hoại tử, làm chậm quá trình hồi phục vết thương Do đó, việc sử dụng các thuốc kháng khuẩn tại chỗ nhằm hạn chế hoặc loại bỏ yếu tố bệnh lý này, tạo điều kiện cho sự sửa chữa và hồi phục của các mô Sau hơn 80 năm
kể từ khi khoa học phát hiện ra penicillin, hàng trăm loại thuốc kháng sinh và các thuốc tương tự đã được phát minh và đưa vào sử dụng Sự ra đời của kháng sinh đánh dấu kỷ nguyên phát triển mới của y học trong việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh rộng rãi, kéo dài, lạm dụng kháng sinh đã tạo điều kiện cho nhiều loại vi sinh vật trở nên kháng thuốc Do đó, sự quan tâm của con người với hợp chất tự nhiên, kháng khuẩn
và không độc như mật ong càng tăng lên Gần đây, việc sử dụng mật ong trong điều trị các vết thương được quan tâm đặc biệt thông qua những nghiên cứu và báo cáo lâm sàng [3, 5] Tuy nhiên, mới chỉ có một sản phẩm hỗ trợ điều trị vết thương từ mật ong được thương mại hoá (Medihoney® Gel) [13]
Đa số các nghiên cứu đều mới ở giai đoạn đánh giá tính chất, cơ chế tác dụng của mật ong, khá ít công trình nghiên cứu về mặt bào chế
Hướng đến việc bào chế thuốc hỗ trợ chăm sóc vết thương hở từ mật ong có hiệu lực cao, phổ rộng nhằm tăng quá trình hồi phục, ngăn ngừa nhiễm
khuẩn và hạn chế để lại sẹo, chúng tôi tiến hành đề tài: “Bào chế và đánh giá
một số tác dụng của gel mật ong trong hỗ trợ chăm sóc vết thương”, với các
mục tiêu cụ thể như sau:
Trang 10Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
2
1 Bào chế được gel mật ong và đánh giá một số đặc tính của mẫu gel bào chế được
2 Đánh giá tác dụng kháng khuẩn in vitro trên một số chủng vi sinh vật, tác dụng chống oxy hóa của gel bào chế được
Trang 11Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
1.1 Thuốc điều trị vết thương hở 1.1.1 Giới thiệu chung về vết thương
Vết thương xảy ra nhiều lần trong cuộc sống, kèm theo sự chảy máu
Do đó, việc chữa lành vết thương là cần thiết để tránh chảy máu và mất nước
từ các mạch và mô Các cơ quan có thể bị thương do các tác động bên ngoài (vật lý, hoá học) hay rối loạn nội bộ (bệnh) Vết thương có thể đơn giản hoặc phức tạp, vô trùng hoặc nhiễm trùng, cấp tính hoặc mạn tính [41] Các vết thương mạn tính liên quan đến khả năng tự phục hồi của bệnh nhân, nguyên nhân gây bệnh như các bệnh nhiễm trùng mạn tính hoặc rối loạn chuyển hoá
Các rối loạn chuyển hoá như tiểu đường có thể dẫn đến nhiễm trùng, những biến chứng phức tạp và làm các vết thương lâu hồi phục [37] Có rất nhiều lý
do như nghèo đói, vệ sinh kém, suy dinh dưỡng, côn trùng và ô nhiễm môi trường có thể gây ra các vết thương và làm trầm trọng thêm hậu quả của vết thương [23] Chữa lành vết thương là một quá trình phức tạp liên quan đến nhiều loại tế bào chuyên biệt, chúng hoạt động tương tác với nhau dưới sự điều khiển của các phân tử do chúng ta tiết ra Quá trình phức tạp này diễn ra theo các giai đoạn và có sự trùng lặp lẫn nhau [25] Quá trình liền vết thương trải qua 4 giai đoạn cơ bản: giai đoạn cầm máu, giai đoạn viêm, giai đoạn tăng sinh và giai đoạn tái tạo [17]
Điều trị vết thương hở là quá trình khôi phục lại tình trạng lành mạnh của bất kì chấn thương nào gây ra gián đoạn trong sự liên tục của bề mặt bên ngoài cơ thể Quá trình này phục hồi nguyên vẹn các mô bị tổn thương bằng cách thay thế mô chết bằng các mô mới Việc này bắt đầu ngay sau khi bị thương, có thể tiếp tục trong nhiều tháng hoặc nhiều năm, và về cơ bản là giống nhau đối với tất cả các loại vết thương Việc sửa chữa các tế bào bị tổn thương và mô diễn ra trong quá trình tái tạo Trong đó, các cấu trúc được thay thế bởi sự gia tăng các tế bào tương tự, như xảy ra với da và xương; và bằng cách hình thành sẹo, bao gồm các cấu trúc sợi với một số mức độ co lại Vì hầu hết các vết thương liên quan đến nhiều mô, sự hồi phục hoàn toàn là không thể Do đó, sự hình thành sẹo là một kết quả của việc chữa lành vết thương [15]
Trang 12Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
4
1.1.2 Các thuốc được sử dụng trong điều trị vết thương hở
Các yêu cầu của một thuốc bôi vết thương hở tốt bao gồm: Có tác dụng với các vi khuẩn gây nhiễm khuẩn vết thương với tỷ lệ kháng thuốc thấp nhất, không hoặc ít gây hại cho mô lành và tế bào lành, không hoặc ít có tác dụng phụ, thấm sâu vào các mô [12] Dưới đây là một số thuốc bôi vết thương hở
được sử dụng phổ biến hiện nay:
Oxi già
Oxi già là dung dịch màu trong suốt, có tác dụng oxi hóa khá mạnh Ở
nồng độ lớn hơn 3% dung dịch oxi già có thể gây bỏng Oxi già thông thường
dùng để sát khuẩn vết thương mới, có mủ, vết thương có hiện tượng nhiễm trùng và đặc biệt là các vết thương có dị vật Dung dịch oxy già không được
sử dụng cho vết thương đang lành vì nó có thể làm tổn thương mô mới Khi
sử dụng oxi già có hiện tượng sủi bọt, làm sạch mô chết và loại trừ mủ, đẩy dị
vật ra ngoài [46]
Cồn
Cồn 70 độ (cồn có nồng độ cao hơn không có khả năng sát trùng) được
sử dụng rộng rãi để diệt khuẩn các dụng cụ chăm sóc vết thương, sát trùng trước khi tiêm và sát trùng vết thương trước khi băng bó [1]
Cồn i-ốt
Cồn i-ốt là dung dịch có khả năng sát khuẩn mạnh nhờ khả năng sát khuẩn của i-ốt (cồn chỉ có tác dụng hòa tan i-ốt) Dung dịch này không những
có khả năng sát trùng, nó còn có khả năng phá hủy chất hữu cơ (da), gây nhiễm độc i-ốt nếu dùng lâu, đặc biệt là với trẻ em Vì vậy không nên dùng
cồn i-ốt với những vết thương sâu, vùng da nhạy cảm, với trẻ nhỏ [43]
Thuốc đỏ
Thuốc đỏ có khả năng làm khô, chống lở loét vết thương Tuy nhiên dung dịch này không tốt vì nó có chứa thủy ngân Vậy nên dung dịch này chỉ nên dùng với vết thương nhỏ, không gần mạch máu vì thủy ngân nếu ngấm vào máu có thể gây chết người [22]
Trang 13Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
5
Thuốc tím
Thuốc tím được pha loãng trước khi bôi lên vết thương Dung dịch này dùng để thấm dịch và tiêu diệt một số vi khuẩn, sát trùng vết thương Tuy nhiên một số vi khuẩn dung dịch này không tiêu diệt được [8]
Bạc sulfadiazine 1%
Bạc sulfadiazine là sự kết hợp của bạc với một sulfamide Nhiều phối
hợp của bạc với các sulfamide khác nhau đã được nghiên cứu thử nghiệm in
vitro, kết quả cho thấy bạc sulfadiazin cho tác dụng tốt nhất Điều này có thể
được giải thích là do sự liên kết mạnh của bạc sulfadiazin với DNA của vi sinh vật Thuốc có phổ kháng khuẩn rộng, tiêu diệt được nhiều loại vi sinh vật
như S aureus, E coli, Klebsiella, P aeruginosa, Proteus,
Enterobacteraceae và cả C albicans Bạc sulfadiazine có thể gây giảm bạch
cầu Tác dụng phụ này gặp ở 5 - 15% bệnh nhân, thường xảy ra khi sử dụng trên diện tích rộng, 2 - 3 ngày sau khi bắt đầu dùng thuốc Bạc sulfadiazine được sản xuất từ năm 1960, dưới dạng kem nồng độ 1% màu trắng không tan trong nước, ít thấm sâu vào hoại tử, khó vệ sinh vết thương, thời gian tác dụng ngắn Sản phẩm có thể làm giảm khả năng tái tạo biểu mô còn độc tính đối với tủy xương chủ yếu là do propylen glycol có trong dạng thuốc gây nên
Sự đề kháng của vi khuẩn trên dòng sản phẩm này cũng đã được ghi nhận [2]
Madecassol oil
Đây là dạng thuốc mỡ được bào chế từ dịch chiết của cây rau má
(Centella asiatica) Ngoài ra, sản phẩm này còn chứa kháng sinh neomycin và
chất kháng viêm hydrocortisol Madecassol oil được sản xuất từ năm 1970, dùng để bôi lên vết thương hở nhằm tránh nhiễm khuẩn, tăng cường khả năng hồi phục vết thương, hạn chế để lại sẹo Sản phẩm này không dùng cho những vết thương bị nhiễm thứ cấp hoặc các bệnh nhân nhạy cảm với neomycin và hydrocortisol [45]
Trang 14Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
6
1.2 Tổng quan về mật ong và tác dụng của mật ong trong điều trị vết thương hở
1.2.1 Giới thiệu chung về mật ong
Mật ong là chất lỏng đặc sánh, hơi trong và dính nhớt, màu vàng nhạt hoặc vàng cam đến nâu hơi vàng Khi để lâu hoặc để lạnh sẽ có những tinh thể dạng hạt dần dần tách ra Mùi thơm, vị rất ngọt [10] Mật ong là một dung dịch bão hòa có nguồn gốc từ ong bao gồm chủ yếu là fructose và glucose
Ngoài ra, mật ong còn chứa các protein, các axit amin, vitamin, enzym, khoáng chất và các thành phần thiết yếu khác như:
Nước: Trong mật ong, nước thường chiếm từ 16% đến 21%, còn các chất keo chiếm khoảng 80% [11]
Đường: Là thành phần chính trong mật ong Có tất cả ba loại đường chủ yếu là:
Glucose: Chiếm 50% tổng số đường trong mật ong và 35% trong khối lượng mật [11]
Fructose: Đường fructose khó kết tinh, loại mật ong nào chứa nhiều đường frutose sẽ để được lâu hơn mà vẫn giữ được ở thể lỏng
Đường fructose ngọt hơn đường glucose Cả hai loại đường này đều
dễ hấp thụ vào cơ thể [11]
Sacarose: Chỉ có khoảng 2%, thuộc loại đường kép khó hấp thụ vào
cơ thể Mật ong non có thể chứa tới 6% sacarose [11]
Protein: Có từ 0,04 - 3%; gốc protein từ mật hoa (protein thực vật) và
từ dịch do chính con ong tiết ra (protein động vật) [10]
Các hợp chất phenolic: Mật ong có chứa khoảng 0,1% - 0,5% các hợp chất phenolic Các hợp chất này có nhiều tác dụng như chống oxy hoá, chống
vi khuẩn, chống vi rút, chống ung thư và nhiều hoạt tính sinh học khác [11]
Enzym: Trong mật ong có chứa nhiều loại enzym có vai trò quan trọng đối với hệ tiêu hoá của con người như amylase, invertase, catalase và phosphorylase [4, 35]
Axit hữu cơ: Axit hữu cơ chiếm một tỷ lệ nhỏ khoảng 0,57% (theo tổng khối lượng mật ong) Ngoài các axit phenolic và các axit amin tự do, một số