1 ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI TRƯỜNG CAO ĐẲNG LÀO CAI GIÁO TRÌNH TRỒNG MỘT SỐ LOÀI CÂY LƯƠNG THỰC NGHỀ KHUYẾN NÔNG LÂM TRÌNH ĐỘ TRUNG CẤP Lưu hành nội bộ 2 TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN Tài liệu này thuộc loại[.]
Trang 11
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG LÀO CAI
TRỒNG MỘT SỐ LOÀI CÂY LƯƠNG THỰC
NGHỀ: KHUYẾN NÔNG LÂM TRÌNH ĐỘ: TRUNG CẤP
Lưu hành nội bộ
Trang 22
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho mục đích về đào tạo và tham khảo
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm
Trang 33
LỜI GIỚI THIỆU
Sản xuất lương thực là ngành quan trọng nhất của nông nghiệp Việt Nam Sau hơn
30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong nông nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất lương thực Sản lượng lương thực Việt Nam không những đủ cho nhu cầu trong nước-góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn có khối lượng lớn cho xuất khẩu Chính vì vậy, Mô đun “Trồng một số loài cây lương thực” là mô đun bắt buộc quan trọng trong chương trình đào tạo hệ trung cấp ngành/nghề Trồng trọt của Trường Cao đẳng Lào cai Mô đun này trang bị cho học sinh những hiểu biết rất cơ bản về một số loài cây lương thực hiện nay (cây lúa, cây ngô, cây khoai lang và cây sắn); những biện pháp thiệu kỹ thuật, kỹ năng nghề quan trọng để người học có thể tự trồng, chăm sóc 4 loài cây lương thực đang được phát triển mạnh ở nhiều địa phương, từ làm đất, trồng, chăm sóc đến thu hoạch và bảo quản những sản phẩm của cây trồng nhằm cho năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường
Mô đun còn trang bị thêm cho học sinh chuyên ngành Trồng trọt có những kiến thức
bổ ích về những vấn đề liên quan đến thời vụ, đất đai, khí hậu, kỹ thuật trồng và chăm sóc…, giúp các em ra trường có thể tham gia công tác ở các lĩnh vực Trồng trọt, Khuyến nông lâm, Bảo vệ thực vật, chỉ đạo, quản lý sản xuất ở gia đình và địa phương
Bố cục của giáo trình mô đun gồm có 4 bài, trong mỗi bài bao gồm 2 phần: phần kiến thức lý thuyết và phần hướng dẫn thực hành Trong quá trình biên soạn, chúng tôi đã tham khảo nhiều giáo trình, sách tham khảo của các trường đại học và của các tác giả có chuyên môn sâu về những lĩnh vực có liên quan Tuy có nhiều cố gắng nhưng không tránh khỏi có những thiếu sót, chúng tôi rất mong muốn nhận được những ý kiến tham gia, đóng góp của các chuyên gia và đông đảo bạn đọc
Xin trân thành cảm ơn./
Lào Cai, ngày…tháng 11 năm 2019 Tham gia biên soạn
Bùi Quang Trung
Trang 44
GIÁO TRÌNH MÔ ĐUN
Tên mô đun: Trồng một số loài cây lương thực
Mã mô đun: MĐ17
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của mô đun:
- Vị trí: Mô đun Trồng một số cây lương thực được bố trí giảng dạy sau khi sinh viên
đã tích lũy đủ các kiến thức cơ sở, ngành như: nhân giống cây trồng, đất và dinh dưỡng cây trồng, phòng trừ dịch hại…
- Tính chất: Mô đun Trồng một số cây lương thực là mô đun chuyên môn bắt buộc trong chương trình đào tạo nghề Trồng trọt trình độ Trung cấp
- Ý nghĩa và vai trò của mô đun: mô đun Trồng một số loài cây lương thực trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng cần thiết của quy trình kỹ thuật trồng một số loài cây lương thực (lúa, ngô, khoai lang, sắn) từ việc xác định được các thời kỳ sinh trưởng phát triển và yêu cầu sinh thái tương ứng với từng thời kỳ; thời vụ trồng; kỹ thuật làm đất, bón phân và chăm sóc để đạt được năng suất, chất lượng cao
Mục tiêu của mô đun: Sau khi học xong mô đun “Trồng một số loài cây lương thực”, Học viên có khả năng:
- Về kiến thức: Trình bày được giá trị kinh tế, điều kiện ngoại cảnh, các giai đoạn sinh trưởng-phát triển, kỹ thuật trồng và chăm sóc và thu hoạch một số loài cây lương thực chủ yếu (lúa, ngô, khoai lang, sắn)
- Về kỹ năng: Trồng, chăm sóc lúa, ngô, khoai lang, sắn đúng yêu cầu kỹ thuật
- Về năng lực tự chủ và chịu trách nhiệm:
+ Làm việc độc lập trong điều kiện làm việc thay đổi, chịu trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm một phần đối với nhóm
+ Hướng dẫn, giám sát những người khác thực hiện công việc đã định sẵn
+ Đánh giá hoạt động của nhóm và kết quả thực hiện
Trang 55
BÀI 1: TRỒNG LÚA
Phần 1: KIẾN THỨC LÝ THUYẾT 1.1 GIÁ TRỊ KINH TẾ, ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH CỦA CÂY LÚA 1.1.1 Giá trị kinh tế
* Giá trị kinh tế: Lúa là một trong ba loài cây lương thực hàng đầu thế giới (lúa mì,
lúa gạo, ngô) ba loài cây này cung cấp trên 50% năng lượng cho toàn thế giới
Lúa đứng thứ hai về diện tích và sản lượng, về diện tích lúa giao động trong khoảng 145-155 triệu ha, về sản lượng giao động trong khoảng 550-600 triệu tấn Người châu Á sử dụng lúa làm lương thực chính Khoảng 35% sản lượng lúa trên thế giới được dùng làm thức
ăn gia súc.; Lúa còn làm nguyên liệu chế biến rượu, cồn, bánh, kẹo…; các sản phẩm phụ như rơm, rạ dùng làm nấm, chất đốt, phân bón…; làm nguyên liệu xuất khẩu góp phần mang lại nguồn ngoại tệ đáng kể cho đất nước
* Giá trị dinh dưỡng: Lúa cung cấp khoảng 23% năng lượng cho con người, trong lúa
có đầy đủ các chất dinh dưỡng, khoáng và các vitamin
- Tinh bột: Chiếm khoảng 62,4%
- Protein: khoảng 6-10%
- Lipit: 0,52%
- Vitamin và khoáng: Lúa cung cấp nhiều vitamin nhất là vitamin nhóm B: B1, B6…
(B1 chiếm 0,45 mg/100g hạt tương đương lúa mì và ngô)
1.1.2 Điều kiện ngoại cảnh a) Nhiệt độ
- Nhiệt độ thích hợp nhất cho lúa sinh trưởng là 25-28oC, nếu nhiệt độ < 17oC cây lúa sinh trưởng chậm lại, nếu nhiệt độ < 13oC cây lúa ngừng sinh trưởng, nhiệt độ > 40oC cây lúa sinh trưởng nhanh nhưng mềm yếu Ở vụ xuân, nếu trời rét, thời tiết âm u kéo dài thì cây lúa có thể chết
- Ở thời điểm phân hoá đòng và thời kỳ trỗ bông phơi màu nếu nhiệt độ < 22oC, sẽ làm tăng tỉ lệ lép
b) Ánh sáng
* Cường độ ánh sáng: Ảnh hưởng đến quang hợp của cây lúa, nếu thiếu ánh sáng vào
thời kỳ phân hoá đòng thì năng suất lúa sẽ giảm sút nghiêm trọng
* Thời gian chiếu sáng: Ảnh hưởng đến sự phát dục (ra hoa kết quả) Số giờ chiếu
sáng trong ngày trên 13 giờ gọi là ánh sáng ngày dài, dưới 13 giờ gọi là ánh sáng ngày ngắn Lúa nguyên thuỷ là cây trồng phản ứng với ánh sáng ngày ngắn, mức độ phản ứng với ánh sáng ngày ngắn khác nhau tuỳ theo giống
Trang 66
Các giống lúa mùa chính vụ như: bao thai lùn, tám thơm, nếp hoa vàng… phản ứng chặt với ánh sáng ngày ngắn, chỉ nở bông vào tháng 10, nếu trồng ở vụ xuân không trỗ bông
c) Đất
- Đất trồng lúa được hình thành trong nhiều điều kiện khác nhau, có hai loại hình đất trồng lúa đó là đất cạn và đất ngập nước
- Để lúa có năng suất cao thì lúa phải có kết cấu tơi xốp, thoáng khí và giàu dinh dưỡng, độ pH thích hợp là 4,5 -5,5
d) Nước:
- Khi có đủ nhiệt độ và bức xạ ánh sáng thích hợp thì nước là yếu tố quyết định nhất đến năng suất, thiếu và thừa nước đều làm giảm năng suất lúa
- Nếu đầy đủ nước thì dù ẩm độ không khí xuống dưới 40% cũng không làm ảnh hưởng đến năng suất lúa Độ ẩm không khí quá cao, lúa dễ bị nhiễm sâu bệnh
1.2 MỘT SỐ NHÓM GIỐNG VÀ CÁC GIAI ĐOẠN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CÂY LÚA
1.2.1 Một số nhóm giống lúa được sử dụng vào sản xuất
a) Phân nhóm theo thời gian sinh trưởng
* Nhóm giống ngắn ngày: Thời gian sinh trưởng < 130 ngày như các giống CR203,
DH60, CN2, Sán ưu 63, Sán ưu quế 99… Các nhóm giống ngắn ngày thường được sử dụng
để gieo cấy trong vụ lúa mùa sớm, xuân muộn hoặc vụ hè thu
* Nhóm giống có thời gian sinh trưởng trung bình (trung ngày): Thời gian sinh
trưởng từ 130-160 ngày như các giống V14, C17, C71… Các nhóm giống trung ngày thường được sử dụng để gieo cấy trong vụ lúa mùa, trà xuân chính vụ
* Nhóm giống dài ngày: Thời gian sinh trưởng > 165 ngày như DT10, IRI 7494
(13/2), VN10, 314, C180, Bao thai lùn… Các giống dài ngày thường được gieo cấy trong vụ mùa chính vụ, mùa muộn
b) Phân nhóm theo đặc điểm phản ứng với ánh sáng và nhiệt độ
* Nhóm giống lúa cảm ôn: Gồm các giống lúa trồng ở vụ chiêm xuân và vụ mùa sớm như:
+ Trà xuân sớm: DT10, IRI 7494 (13/2), VN10, xuân số 2…
+ Trà xuân chính vụ: C70, C71, NN8…
+ Trà xuân muộn: CR203, DH60, IRI 35-2…
+ Trà lúa mùa trung: C70, C71…
* Nhóm giống lúa cảm quang: Gồm các giống lúa trồng ở trà lúa mùa muộn như:
Bao thai lùn, Mộc tuyền, Nếp cái hoa vàng…chỉ ra hoa kết quả trong điều kiện ánh sáng ngày dài (vụ mùa)
c) Phân nhóm theo yêu cầu sinh thái
Trang 77
* Lúa nước- lúa cạn, lúa chịu hạn:
- Lúa nước gồm các loại hình lúa có tưới, lúa nổi, lúa nước sâu…Trên mặt ruộng luôn luôn có một lớp nước che phủ
- Lúa cạn là lúa trồng trong mùa mưa trên chân đồi bãi không giữ nước, thời gian sinh trưởng rút ngắn, gieo sớm và chịu được hạn
- Lúa chịu hạn là lúa nước chịu được hạn, có thể trồng trên các bãi hoặc ruộng không chủ động nước Nếu ruộng cạn lúa vẫn sinh trưởng bình thường, nếu giữ nước có thể thâm canh cho năng suất cao hơn Lúa chịu hạn có thể gieo thẳng trên ruộng khô, hoặc gieo mạ dược và cấy như lúa nước
- Lúa nước có thể trồng trên cạn bình thường, những giống lúa cạn khi đưa xuống nước có thể bị chết
* Lúa mùa, lúa xuân:
- Lúa mùa: Được trồng trong mùa mưa nhiệt độ cao, nắng nhiều, là loại hình lúa đầu tiên
- Lúa xuân: Do những tiến bộ khoa học kỹ thuật, người ta đã chọn được những giống
lúa chịu rét, thời gian sinh trưởng ngắn để gieo trồng vào vụ xuân
Ngoài ra, phân loại theo phẩm chất hạt: có lúa tẻ, lúa nếp Phân nhóm theo đặc điểm chọn tạo có lúa thuần, lúa lai
* Một số giống lúa hiện trồng ở Lào cai:
- Có thể sử dụng các giống lúa chịu lạnh (ĐS1, J01, J02), Bắc thơm 7, Tám thơm; các giống lúa bản địa như Séng Cù, Khẩu Nậm Xít, nếp Thẩm Dương Giống DS3, Nghi Hương 2308…thích hợp trồng ở những địa phương vùng cao chỉ trồng được 1 vụ lúa
- Một số giống lúa do Trung tâm giống nông nghiệp Lào Cai chọn tạo và khảo nghiệm cho năng suất cao: VL20, Tân thịnh, LC212, LC18, LC25, LC270
1.2.2 Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây lúa 1.2.2.1 Mối quan hệ giữa sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực
- Sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực là hai thời kỳ độc lập nhưng chúng
có mối quan hệ mật thiết với nhau
- Giai đoạn trước chuẩn bị cho giai đoạn sau: Nếu có hạt giống tốt thì cây mạ sẽ sinh trưởng khoẻ, ruộng mạ đồng đều tạo điều kiện cho lúa sinh trưởng mạnh, cây to đẻ nhánh khoẻ, đó là cơ sở để cây lúa bông to, hạt mẩy
- Ở các giống lúa khác nhau, khoảng thời gian từ kết thúc sinh trưởng sinh dưỡng đến bắt đầu sinh trưởng sinh thực khác nhau rõ rệt
+ Đối với các giống ngắn ngày, cây lúa chưa kết thúc sinh trưởng sinh dưỡng đã bước vào sinh trưởng sinh thực (chưa kết thúc đẻ nhánh đã bước vào làm đòng)
+ Đối với các giống trung ngày, cây lúa kết thúc sinh trưởng sinh dưỡng thì bước vào
sinh trưởng sinh thực (kết thúc đẻ nhánh đã bước vào làm đòng)
Trang 88
+ Đối với các giống dài ngày, sau khi cây lúa kết thúc sinh trưởng sinh dưỡng vẫn tiếp tục phân hoá đốt một thời gian rồi mới chuyển sang phân hoá đòng (kết thúc đẻ nhánh
sẽ phân hoá đốt rồi bước vào làm đòng)
- Do 2 thời kỳ có mối quan hệ mật thiết như trên nên trong kỹ thuật trồng lúa, chúng
ta cần phải chú ý:
+ Tác động các biện pháp kỹ thuật phù hợp vào mỗi thời kỳ để cây lúa phát triển cân đối + Với các giống ngắn ngày, nên chú ý chăm bón sớm, tập trung để lúa đẻ nhánh tốt + Với các giống dài ngày, nên rút nước phơi ruộng ở thời kỳ phân hoá đốt để tăng khả năng chống đổ
1.2.2.2 Giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng
a) Thời kỳ mạ
* Thời kỳ từ nảy mầm đến ba lá: Cây lúa sống nhờ chất dinh dưỡng trong hạt, sức
sống của cây mạ phụ thuộc vào chất lượng hạt giống
* Thời kỳ từ 3 lá đến khi nhổ cấy: Cây lúa hút dinh dưỡng trong đất, quang hợp tạo ra
chất hữu cơ để nuôi cây, do đó việc bón phân thúc giai đoạn cây được 3 lá cực kỳ quan trọng
b) Thời kỳ đẻ nhánh
Ở lúa gieo thẳng, lúa đẻ nhánh khi có 4 lá Ở lúa cấy, lúa bắt đầu đẻ nhánh khi cây bén rễ hồi xanh Điều
kiện thời tiết, đất đai, chất lượng mạ… có ảnh hưởng lớn
đến thời gian bén rễ hồi xanh Thông thường lúa cấy vụ
mùa, vụ hè thu sớm bén rễ hồi xanh nhanh hơn vụ chiêm
xuân Mạ nền sớm bén rễ hồi xanh nhanh hơn mạ dược
Trong thời kỳ đẻ nhánh, giai đoạn đầu (20-25 ngày) các nhánh đẻ ra sẽ hình thành bông Giai đoạn sau các
nhánh đẻ ra không hình thành bông (vô hiệu) Vì vậy, cần
xúc tiến cho lúa đẻ nhánh sớm để tập trung vào ức chế đẻ
nhánh vô hiệu
1.2.2.3 Giai đoạn sinh trưởng sinh thực
a) Thời kỳ phân hoá đòng: Thông thường, sau khi kết thúc giai đoạn sinh trưởng sinh
dưỡng, điểm sinh trưởng ở đầu thân chuyển chất và bắt đầu phìng to lên để hình thành đòng
Theo Đinh Dĩnh, quá trình hình thành đòng gồm 8 bước như sau:
* Bước 1 Điểm sinh trưởng bắt đầu phân hoá: Điểm sinh trưởng tròn lại, xuất hiện
các u nhỏ, thời gian của bước 1 khoảng 1-2 ngày, lúc này mắt thường chưa phân biệt được, chỉ số lá 76-80%, lá thứ tư đang kéo dài
Hình 1.1 Cây mạ
Trang 99
* Bước 2 Phân hoá gié cấp 1: Các u nhỏ xuất hiện và kéo dài ra, lúc này mắt thường
chưa nhìn thấy, chỉ số lá 80-83%, thời gian bước 2 kéo dài 2-4 ngày Bước 1 và 2 chỉ quan sát được trên kính hiển vi
* Bước 3 Phân hoá gié cấp 2 và hoa: Trên các rãnh u xuất hiện nhiều cụm hoa nhỏ
có lông trắng phủ trên bề mặt, cuối bước này số lượng hoa đã ổn định chỉ số lá 85-90%, lá thứ 2 đang thoát Đòng có chiều dài 0,5-3,5 mm, có nhiều lông trắng phủ kín bông non (lúa cứt gián hay lúa có rệu), lúc này có thể quan sát bằng kính lúp, cuối bước có thể quan sát bằng mắt thường Bước này kéo dài khoảng 4-6 ngày
* Bước 4 Phân hoá, hình thành nhị và nhụy: Lúc này số hoa trên đòng đã được xác
định, trục bông các gié lớn lên rõ rệt, hoa hình thành nhụy, nhị và bao phấn Chỉ số lá 91- 95%, lá thứ 2 tiếp tục kéo dài, chiều dài đòng khoảng 3,5-15 mm Bước 4 kéo dài 5 - 6 ngày
* Bước 5 Hình thành tế bào mẹ hạt phấn: Khi nhụy, nhị xuất hiện thì vỏ trấu lớn
nhanh, độ dài nhị vượt quá 1/2 vỏ trấu Đến lúc vỏ trấu trong và ngoài gần sát nhau thì bao phấn chia 2 phòng rồi 4 phòng
Nhuỵ phân hoá thành đầu núm nhụy, vỏ trấu lớn nhanh gấp đôi chiều dài mày trấu, xuất hiện tế bào mẹ hạt phấn, hoa lúa dài 1-3 cm Chỉ số lá 95-97%, chiều dài đòng 1,5-5
cm Bước này kéo dài 4-5 ngày
* Bước 6 Tế bào mẹ hạt phấn phân bào giảm nhiễm: Bước này bắt đầu khi tai lá
đòng từ (–3) đến (+ 5) so với tai lá thứ hai, chiều dài đòng 5-10cm Hai lần phân bào đã tạo thành 2 rồi 4 tế bào hạt phấn
Bao phấn có màu vàng rõ rệt, đầu nhuỵ nổi lên hình núm nhỏ, chiều dài của hoa đạt 1/2 chiều dài cuối cùng 3-5 mm
Chỉ số lá 97-100%, lá đòng đang thoát Bước này dễ mẫn cảm với điều kiện ngoại cảnh nhất, thời gian kéo dài 1-3 ngày
* Bước 7 Tích luỹ các chất trong hạt phấn: Màng ngoài tế bào hạt phấn hình thành,
thể tích hạt phấn tăng lên, xuất hiện lỗ nảy mầm, các chất trong hạt phấn dần đầy lên, chiều dài vỏ trấu tăng nhanh, chỉ số lá đạt 100%, chiều dài đòng hoàn chỉnh, hoa lúa dài 5-6 mm
và có mầu trắng, thời gian này kéo dài 6-7 ngày
* Bước 8 Hoàn thành hạt phấn: Lúc này bông lúa đã thành thục, bông và hoa có độ
dài tối đa, hoa có mầu xanh, thời gian kéo dài 3-4 ngày
b) Thời kỳ trỗ bông phơi màu: Hiện tượng đòng thoát ra khỏi bẹ lá gọi là hiện tượng
lúa trỗ Thời gian để một bông lúa trỗ là từ 2-6 ngày Thời gian để một ruộng lúa trỗ là từ 10-14 ngày, tuỳ theo giống và điều kiện thời tiết, chế độ chăm sóc… Thời gian lúa trỗ càng ngắn càng tránh được các điều kiện ngoại cảnh bất lợi
Trong điều kiện thời tiết thuận lợi như trời quang, gió nhẹ, nhiệt độ từ 28- 32oC thì hoa lúa bắt đầu phơi màu vào 8-9 giờ sáng và rộ vào lúc 10-11 giờ trưa
Trang 1010
Nếu trời nắng to, nhiệt độ cao, hoa nở sớm và nếu trời âm u, hoa nở muộn hơn Kết thúc nở hoa muộn nhất lúc 14 giờ
Nếu cường độ ánh sáng quá mạnh hoặc trời mưa quá to, hoa không nở Độ ẩm không khí thích hợp cho lúa trỗ bông là từ 70-80%
c) Thời kỳ chín: Sau khi cây lúa hoàn thành quá trình thụ phấn thụ tinh và tích ôn
được 1000oC thì chuyển sang thời kỳ chín, thời gian kéo dài từ 30-35 ngày
* Chín sữa: + Kéo dài 7-10 ngày Hạt gạo là chất trắng đặc như sữa
+ Cuối thời kỳ này, hạt gạo chứa 25% vật chất khô, 75% nước
* Chín sáp: + Kéo dài 7-10 ngày Hạt gạo cứng hơn, chất khô tăng dần
+ Cuối thời kỳ này, hạt gạo chứa 50% vật chất khô, 50% nước
* Chín hoàn toàn:
+ Kéo dài 7-10 ngày Vỏ chấu chuyển sang màu vàng sáng, chất khô trong hạt tăng
+ Cuối thời kỳ này, hạt gạo chứa 75% vật chất khô, 25% nước
* Chú ý: Đảm bảo đủ nước đặc biệt từ 15-20 ngày sau lúa trỗ
1.3 GIEO CẤY LÚA 1.3.1 Làm mạ
a) Thời vụ
* Vụ lúa xuân: Từ năm 1974 trở về đây lúa xuân đã được đưa vào thay thế lúa chiêm
và đã nhanh chóng trở thành vụ chủ lực, tuỳ từng vùng mà có lịch gieo cấy khác nhau
- Vùng núi bắc bộ: bao gồm cả tiểu vùng ấm tiếp giáp trung du, và tiểu vùng rét đông bắc
Việc bố trí thời vụ lúa cần đảm bảo: Vùng núi ấm lúa trỗ từ 1-15/5; vùng rét lúa trỗ từ 5-10/6
Ở vụ này có 3 trà lúa xuân đó là:
+ Trà xuân sớm: Gieo mạ từ 20-25/11, cấy vào những ngày ấm đầu tháng 2
+ Trà xuân chính vụ (trà xuân trung): Gieo mạ từ 25/11- 5/12, cấy xong trước ngày 05/3
+ Trà xuân muộn: Gieo mạ nền từ 15/2-20/2, cấy xong trước ngày 10/3
- Vùng núi rét trà xuân muộn gieo mạ sân, mạ xúc từ ngày 10-20/3, cấy xong chậm
nhất ngày 10/4
- Về cơ cấu giống: Trên cơ sở thời gian gieo và thời gian dự định cho lúa trỗ có thể tìm ra giống có thời gian sinh trưởng phù hợp để gieo cho từng trà Về giống, ngoài giống đang sử dụng rộng rãi như CR203, Khang dân 18, ải 32, cần gieo các giống lúa lai như San
ưu 63, Nhị ưu 63, Cương ưu 63 và một số giống chịu hạn CH2, CH133…
* Vụ lúa mùa: Là vụ có diện tích lớn nhất ở miền bắc, có ba trà là mùa sớm, mùa
trung và mùa muộn