Khái niệm nhà ở đô thị Nhà ở đô thị là các căn nhà được xây dựng trong các đô thị, hình thức tổ chức nhà ở theo dạng tập trung dân cư thành các khu nhà ở thường gọi là chung cư hoặc nhà
Trang 1CHƯƠNG 4 QUẢN LÝ NHÀ Ở TẠI ĐÔ THỊ 4.1 Khái niệm và vai trò của nhà ở đô thị
4.1.1 Khái niệm nhà ở đô thị
Nhà ở đô thị là các căn nhà được xây dựng trong các đô thị, hình thức tổ chức nhà
ở theo dạng tập trung dân cư thành các khu nhà ở (thường gọi là chung cư hoặc nhà ở
riêng lẻ), có hệ thống kỹ thuật hạ tầng đô thị hoàn chỉnh như cấp, thoát nước, cấp điện,
cấp năng lượng, thông tin liên lạc, truyền thanh truyền hình, hệ thống đường giao thông,
môi trường và hệ thống các công trình dịch vụ phục vụ các nhu cầu về cuộc sống vật chất
và văn hoá, tinh thần của con người
Nhà ở đô thị là kiến trúc cư trú mà con người dùng để ở trong một thời gian dài theo đơn vị sinh hoạt gia đình trong đô thị Đó là một trong những điều kiện vật chất rất
cơ bản của sự sinh tồn của dân cư đô thị, đồng thời cũng là điều kiện vật chất quan trọng
để tiến hành các hoạt động kinh tế – xã hội trong đô thị
Nhà ở đô thị là chủ thể của kiến trúc đô thị, xây dựng nhà ở đô thị là bộ phận cấu thành quan trọng của xây dựng cơ bản đô thị Vấn đề nhà ở đô thị là một vấn đề quan
trọng của đô thị, là một nội dung cơ bản của kinh tế học đô thị
4.1.2 Vai trò của nhà ở đô thị
Vai trò của nhà ở đô thị trong sự phát triển kinh tế - xã hội đô thị chủ yếu được biểu hiện ở các mặt như sau:
- Nhà ở đô thị là điều kiện vật chất trọng yếu để tái sản xuất sức lao động đô thị
Trong bất kỳ xã hội nào, sự kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất cũng là điều kiện cơ bản để tiến hành sản xuất Sản xuất xã hội của đô thị muốn tiến hành liên tục
không ngừng, ngoài một tiền đề cơ bản là tái sản xuất tư liệu sản xuất, còn một tiền đề cơ
bản khác là tái sản xuất sức lao động
Nhà ở đô thị với tư cách là hàng tiêu dùng cá nhân, là tư liệu sinh hoạt cơ bản tối cần thiết cho sự sinh tồn của những con người trong đô thị Toàn bộ sản xuất xã hội và
toàn bộ người lao động đô thị đều cần phải có nhà ở
Nhà ở đô thị không chỉ là tư liệu sinh tồn, mà còn là tư liệu hưởng thụ và tư liệu phát triển, nó cần được không ngừng tăng lên, nâng cao về số lượng và chất lượng Trong
tình hình đó, nhà ở đô thị không chỉ bảo đảm cho sự sinh tồn của người lao động và sự
kéo dài của thế hệ sau, mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng
sức lao động
- Nhà ở đô thị là điều kiện vật chất trọng yếu để phát triển kinh tế đô thị
Nhà ở đô thị không chỉ là một loại tư liệu sinh hoạt phục vụ cho đời sống dân cư
Trang 2phát triển có hiệu quả Xét từ góc độ vi mô, nhà ở của công nhân viên chức các doanh
nghiệp gần hay xa công sở, nơi làm việc ảnh hưởng trực tiếp đến độ dài thời gian đi trên
đường đến nơi làm việc và mức hao phí thể lực của họ, do đó mà ảnh hưởng đến hiệu quả
kinh tế của doanh nghiệp Điều kiện cư trú của dân cư tốt hay xấu, không chỉ liên quan
đến việc tái sản xuất sức lao động, mà còn tác động trực tiếp đến tính tích cực sản xuất
của người lao động
Xét từ góc độ vĩ mô, nhà ở đô thị có vai trò khá quan trọng trong quá trình tái sản xuất của đô thị Nó trực tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển của các ngành công nghiệp vật
liệu xây dựng, thiết bị xây dựng, máy móc xây dựng Đồng thời, sự phát triển nhà ở đô thị
cũng tác động, kích thích nhu cầu của dân cư đô thị đối với các loại hàng điện tử, dụng cụ
gia đình, trang trí nội thất…
- Nhà ở đô thị là điều kiện vật chất quan trọng ảnh hưởng đến sinh hoạt xã hội và điều chỉnh quan hệ xã hội đô thị
Vai trò của nhà ở đô thị được thể hiện thông qua số lượng, kết cấu, hình thức, kiến trúc và bố cục của nhà ở đô thị Số lượng nhà ở đô thị không chỉ ảnh hưởng đến sự biến
đổi kết cấu gia đình dân cư đô thị, kéo dài hoặc tăng nhanh quá trình phân ly của gia đình
mới, mà còn ảnh hưởng đến thời kỳ kết hôn của thanh niên trong độ tuổi thích hợp, nó trở
thành một vấn đề xã hội to lớn
Hình thức xây dựng của nhà ở đô thị còn quy định hình thức cư trú của dân cư, ảnh hưởng đến quan hệ láng giềng và giao lưu tình cảm giữa những con người Bố cục
nhà ở đô thị ảnh hưởng trực tiếp đến bộ mặt đô thị, giao thông đô thị và tình hình sử dụng
đất đô thị
Trang 34.2 Đặc điểm và phân loại nhà ở đô thị
4.2.1 Đặc điểm nhà ở đô thị
Nhà ở đô thị có các đặc điểm chính như sau:
- Lượng đầu tư một lần lớn, giá cả (tiền thuê, giá bán…) tương đối cao
Đối với nhà ở đô thị, người cung ứng cần chuẩn bị một khoản tiền lớn, suy xét cẩn thận hiệu quả đầu tư và rủi ro có thể phải gánh chịu; người tiêu dùng nhà ở dân cư nói
chung, để có được quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng nhà ở đô thị cần phải chi ra một số
tiền rất lớn để mua so mới các loại hàng tiêu dùng khác
- Là bất động sản, thời gian sử dụng tương đối dài
Nhà ở đô thị không thể di động và được sử dụng trong một thời gian dài, nó không giống hàng hoá nói chung có thể đưa đến bán khắp mọi nơi, cũng không thể tuỳ tiện thay
cũ đổi mới như các loại hàng tiêu dùng khác Vì vậy làm cho người sản xuất, người kinh
doanh và người tiêu dùng đều phải suy nghĩ chu đáo trước khi quyết định đầu tư hay lựa
chọn nhà ở tại đô thị
- Được đặt trên mặt đất, cùng với đất cấu thành một chỉnh thể
Nhà ở đô thị nói riêng cũng như các loại nhà ở nói chung chỉ có thể được xây dựng trên mặt đất Đối với nhà ở tại đô thị, các công đoạn kiến trúc, số tầng kiến trúc và tiêu
chuẩn chất lượng kiến trúc cần tuân theo các quy định của bố trí quy hoạch đô thị; giá
thành, giá cả, lợi nhuận và tiền thuế khác nhau và chịu ảnh hưởng của quỹ đất, điều kiện
địa lý, điều kiện phát triển tại mỗi đô thị
- Vừa là tài sản thuộc sở hữu cá nhân, vừa là một bộ phận trong khu nhà ở đô thị,
có tính xã hội tương đối lớn
- Chịu sự chi phối của các yếu tố pháp lý
Việc xây dựng, sử dụng và khai thác nhà ở đô thị phụ thuôc vào các điều kiện pháp
lý, cụ thể là các văn bản luật và dưới luật Khi được pháp luật thừa nhận thì nhà ở trong
đô thị mới có thể mua bán công khai Trường hợp nhà ở đô thị còn chưa được pháp luật
thừa nhận, việc lưu thông của nó chỉ diễn ra trên thị trường ngầm, nằm ngoài sự kiểm soát
của các cơ quan quản lý Nhà nước
4.2.2 Phân loại nhà ở đô thị
Nhà ở đô thị bao gồm các loại sau:
- Nhà biệt thự
- Nhà mặt tiền
- Nhà liên kề
Trang 4- Nhà vườn
4.2.3 Quản lý Nhà nước về nhà ở đô thị
Quản lý Nhà nước về nhà ở đô thị bao gồm 5 nội dung chính Nhà nước thông qua các công cụ quản lý, các quy định mang tính chất pháp lý để hoạch định và chỉ đạo thực
hiện chính sách phát triển nhà ở phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế của đô thị
nói riêng và của đất nước nói chung
4.2.3.1 Ban hành quy chế về quản lý, sử dụng và kinh doanh nhà ở đô thị
Trong công tác quản lý Nhà nước về nhà ở đô thị, Nhà nước quy định cụ thể các quy chế, mục tiêu, tiêu chuẩn quản lý và sử dụng nhà ở thông qua Luật nhà ở 2014 Đối
với nhà ở chung cư hoặc nhà ở có nhiều chủ quản lý thì Bộ Xây dựng cũng có các quy
chế quản lý và sử dụng riêng, kèm theo các văn bản quy định cụ thể
Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần xây dựng các chính sách thỏa đáng một mặt khuyến khích các tổ chức cá nhân tham gia vào quá trình xây dựng nhà ở, nâng cao giá trị
quỹ nhà ở tại đô thị Đồng thời, điều tiết và phát huy có lợi quy luật cung – cầu, khắc
phục những cơn sốt về giá cả đảm bảo cho quyền lợi của người dân tại khu vực đô thị
4.2.3.2 Lập kế hoạch xây dựng và phát triển nhà ở
Lập kế hoạch xây dựng và phát triển nhà ở là một công tác tổng hợp, phức tạp liên quan đến nhiều ngành đồng thời nó gắn với sự phát triển kinh tế - xã hội đô thị Lập kế
hoạch xây dựng nhà ở tốt sẽ làm tiền đề quan trọng thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng
năng suất lao động, nâng cao đời sống cho nhân dân đồng thời tạo nên bộ mặt mới cho sự
phát triển văn minh đô thị
Sự lựa chọn vị trí xây dựng nhà ở có ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động hằng ngày của người sử dụng nhà ở Đặc biệt đối với những người có nhu cầu mua nhà, thuê nhà, ở
tại các căn hộ chung cư thì trước khi lựa chọn nhà họ thường xem xét đến những vấn đề
về vị trí đảm bảo cho công việc cũng như cuộc sống hằng ngày
Khu vực xây dựng phát triển nhà ở thường do Nhà nước đảm nhiệm với ngân sách
kế hoạch hoặc có sự đầu tư liên kết giữa Nhà nước với các công ty nước nước ngoài
Khuynh hướng chung là xây dựng các khu nhà ở tại các vùng ven đô, bên cạnh các khu
công nghiệp để đồng thời giải quyết được vấn đề công ăn việc làm cho người dân
4.2.3.3 Cấp giấy phép và đình chỉ việc xây dựng, cải tạo nhà ở
Để đảm bảo nhà ở được xây dựng theo đúng quy hoạch đã được phê duyệt, đảm bảo tính đồng bộ thống nhất của quy hoạch tổng thể tại từng địa phương, khi xây dựng
nhà ở cần có sự chỉ đạo cho phép của cơ quan các cấp có thẩm quyền Nhà nước quy định
tất cả các tổ chức kinh doanh phát triển nhà ở cũng như dân cư khi xây dựng phải xin cấp
giấy phép
Trang 5Trong quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết của đô thị đã quy định vị trí từng khu vực có thiết kế cụ thể và độ cao trung bình, khoảng cách giữa các khu vực xây dựng, cơ
sở hạ tầng…Sở Xây dựng có trách nhiệm định hướng cụ thể các khu vực có điều kiện
triển vọng cho xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp…các khu vực xây dựng nhà ở Việc cấp
giấy phép xây dựng nhà ở phải căn cứ vào quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết, kế
hoạch phát triển nhà ở của từng đô thị
4.2.3.4 Đăng ký, điều tra, thống kê nhà ở đô thị
a) Đăng ký nhà ở
Đăng ký nhà ở là một trong những nội dung cơ bản của công tác quản lý Nhà nước về nhà ở tại đô thị Nó không chỉ đảm bảo quyền lợi của chủ sở hữu nhà ở trước pháp luật mà
còn đảm bảo cho các cơ quan quản lý nắm được hiện trạng nhà ở của địa phương mình, lập
kế hoạch phát triển nhà ở Trên cơ sở đăng ký nhà ở, Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, nhà ở và các tài sản liên quan đến đất cho chủ sở hữu
b) Điều tra, thống kê nhà ở
Công tác điều tra thống kê định ký nhằm giúp các cơ quan quản lý nắm được thực trạng, tình hình phát triển nhà ở tại đô thị, có ý nghĩa lớn trong việc hoạch định chính
sách phát triển nhà ở và quỹ đất dự trữ tại đô thị
4.2.3.5 Thanh tra và xử lý các vi phạm pháp luật và tranh chấp liên quan đến nhà ở
Công tác thanh tra và kiểm tra là chức năng quản lý của bất cứ cơ quan nào Vấn
đề quản lý nhà ở là một vấn đề phức tạp do nhiều nguyên nhân khách quan cũng như chủ
quan Chính vì vậy trong công tác quản lý thường phát sinh nhiều vi phạm, tranh chấp
Việc thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về nhà ở đô thị cần phải được tiến hành
một cách thường xuyên, khách quan để đảm bảo hiệu quả cao nhất
Để đảm bảo thực hiện nghiêm pháp luật về quản lý và sử dụng nhà ở, Nhà nước cần nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện hệ thống luật xây dựng, các quy tắc quy phạm để
nhằm hạn chế sự xây dựng tùy tiện, sai phạm kỹ thuật và phá hủy môi trường, cảnh quan
đô thị, nhằm giúp cơ quan quản lý xây dựng khống chế, điều hành thuận lợi quá trình xây
dựng và cải tạo nhà ở
4.2.4 Chính sách và giải pháp phát triển nhà ở đô thị
Chính sách phát triển nhà ở là một bộ phận cơ hữu của phát triển đô thị Chính sách phát triển nhà ở tại các đô thị phải đảm bảo đồng thời được ba mực tiêu như sau:
- Bảo đảm cho công dân có chỗ ở phù hợp và cải thiện chỗ ở
- Phát triển thị trường bất động sản nhà ở
- Góp phần phát triển đô thị và nông thôn
Trang 6thị cần phải xây dựng và thực hiện được một số chính sách cụ thể như sau:
4.2.4.1 Phát triển thị trường đất đô thị minh bạch và hiệu quả
Thị trường đất đô thị có quan hệ mật thiết với quy hoạch đô thị, nhất là với khâu thực hiện quy hoạch Trước đây đất đô thị được quy hoạch để xây dựng các tiểu khu nhà
ở, là khu vực chỉ có chức năng làm chỗ ở, tách khỏi các khu vực có chức năng hành
chính, thương mại, sản xuất và nghỉ ngơi giải trí Các tiểu khu nhà ở ngày nay đã lỗi thời
vì tạo ra căng thẳng trong giao thông đô thị (do người dân phải đi xa tới các khu chức
năng khác và giao thông quá cảnh không được xuyên qua tiểu khu nhà ở), có kiến trúc
đơn điệu nhàm chán, nên gần đây được thay thế bằng các khu đô thị mới đa chức năng,
vừa tiện lợi cho người đi bộ và đi xe đạp vừa thuận tiện cho giao thông quá cảnh, ngoài
các nhóm nhà ở với kiến trúc đa dạng còn có phố phường tấp nập, phía sau có công viên
và chỗ đỗ xe hơi thuận tiện , tạo nên tính an cư cho cộng đồng Nhiều dự án bất động
sản hiện nay tuy mang danh là phát triển khu đô thị mới nhưng trên thực tế vẫn là tiểu
khu nhà ở biến tướng, vì vậy chính sách nhà ở nên nhấn mạnh đến tính đa chức năng của
khu đô thị mới, kể cả khi cải tạo các tiểu khu nhà ở cũ
Hiện nay, giá đất đô thị, đặc biệt là tại các đô thị lớn đang bị đẩy lên rất cao Điều này thúc đẩy việc xây dựng các chung cư ngày càng nhiều tầng hơn, nhưng giá nhà ở
cũng trở nên đắt đỏ quá mức, tình trạng đầu cơ nhà ở tăng mạnh Để khắc phục hiện
tượng này tại các đô thị cần phải tạo được quỹ đất dự trữ xây dựng nhà ở Phương thức
tạo quỹ đất dự trữ cho phép chính quyền đô thị chủ động tổ chức phát triển đô thị liền
mảng thành khu vực rộng lớn chứ không manh mún và chiều theo ý muốn chọn địa điểm
của những người kinh doanh bất động sản Như vậy, cùng với sự phát triển của đô thị,
việc đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội là một trong những điều kiện thiết
yếu đảm bảo cuộc sống của người dân
4.2.4.2 Phát triển thị trường nhà cho thuê, nhà ở xã hội và nhà giá rẻ
Có loại nhà nào để bán thì cũng nên có loại nhà đó cho thuê, vì nhà cho thuê là đối
trọng với nhà để bán, tạo thêm khả năng lựa chọn cho người cần nhà, có tác dụng điều tiết
giá bán và giá thuê Mặt khác nhà cho thuê còn đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động
khi cần thu hút nhân lực đến nơi có nhiều việc làm, hoặc nhu cầu nơi ở của người mới lập
gia đình hay vừa ly hôn, của những người tạm trú để học tập, chữa bệnh, mở mang kinh
doanh hoặc thi hành nhiệm vụ nghề nghiệp (ngoại giao, làm báo…)
Để phát triển nhà ở thuê, cần xác định rõ trọng tâm của chính sách nhà ở trong giai đoạn trước mắt là nhằm đảm bảo cho mọi người dân đô thị có nhà để ở chứ chưa phải
khuyến khích ai cũng có nhà ở thuộc sở hữu của mình Thị trường nhà cho thuê tuy đã
hình thành nhưng còn chậm phát triển và chủ yếu là nhà cho người nước ngoài thuê và
nhà trọ công nhân, sinh viên Thế nhưng thu hút vốn đầu tư tư nhân vào thị trường này
không dễ dàng vì chậm thu hồi vốn, lợi nhuận ít, tuy rủi ro không lớn như trong thị
trường nhà để bán Vì vậy trong công tác quản lý phát triển đô thị, Nhà nước cần có các
chính sách ưu đãi để khuyến khích tư nhân đầu tư vào thị trường này, đồng thời chính
Trang 7quyền cũng cần phát triển nhà ở công để cho thuê với giá vừa phải như đã quy định trong
Luật Nhà ở
Nhà ở xã hội là loại nhà cho những người thu nhập thấp chưa có nhà ở hoặc nhà ở quá chật thuê để ở với giá rẻ Việc phát triển các loại hình nhà ở xã hội có liên quan và
chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sự phát triển đô thị và các khu công nghiệp Nhà nước cần xác
định rõ mục tiêu lớn nhất đó là đảm bảo mọi người dân đều có cư trú, phù hợp với điều
kiện sinh hoạt và sản xuất
Nhà giá rẻ là một phân khúc thị trường nhà thương mại để bán cho mọi đối tượng
có nhu cầu nhà ở nhưng khả năng chi trả hạn chế, kể cả đối tượng phải di dời và tái định
cư khi bị thu hồi đất Để khuyến khích tư nhân đầu tư xây dựng nhà giá rẻ, chính quyền
cần có biện pháp ưu đãi để tư nhân có thể kiếm được lợi nhuận hợp lý Tư nhân kinh
doanh nhà giá rẻ ít gặp rủi ro thương mại hơn kinh doanh nhà đắt tiền vì nhu cầu lớn và
tương đối ổn định Nếu nhà giá rẻ được phát triển với sự ưu đãi đáng kể của chính quyền,
chẳng hạn về đất đai, về hạ tầng ngoài nhà hoặc về lãi suất tín dụng, thì chính quyền có
thể đưa ra các tiêu chí về đối tượng phục vụ tương tự như với nhà ở xã hội và kiểm soát
việc thi hành
Vì nhà ở xã hội và nhà giá rẻ thường được phát triển với mật độ xây dựng tương đối cao, do đó chính quyền nên khuyến khích áp dụng mẫu nhà có vườn trên mái để bổ
sung diện tích cây xanh Vườn trên mái là một dạng của nông nghiệp đô thị Phát triển
nhà ở gắn với nông nghiệp đô thị cũng nên được chính sách nhà ở quan tâm vì nó đem lại
nhiều lợi ích, trong đó có vấn đề tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất để phát triển đô
thị
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Hãy trình bày khái niệm, đặc điểm của quản lý xây dựng đô thị?
2 Hãy trình bày nội dung quản lý Nhà nước về hoạt động xây dựng đô thị?
3 Hãy trình bày các biện pháp xử lý vi phạm và trách nhiệm của Nhà nước trong quản lý
trật tự xây dựng đô thị?
4 Hãy trình bày đặc điểm và phân loại nhà ở đô thị?
5 Hãy trình bày các nội dung quản lý Nhà nước về nhà ở đô thị?
6 Hãy trình bày chính sách và giải pháp phát triển nhà ở đô thị?
Trang 8CHƯƠNG 5 QUẢN LÝ CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ 5.1 Quản lý cơ sở hạ tầng đô thị
5.1.1 Khái niệm cơ sở hạ tầng đô thị
Cơ sở hạ tầng còn được gọi là kết cấu hạ tầng đô thị là một hệ thống các công trình xây dựng làm nền tảng cho mọi hoạt động của đô thị
Cơ sở hạ tầng đô thị bao gồm hai hệ thống: hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội
- Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị bao gồm hệ thống các công trình giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, thoát nước, xử
lý các chất thải và các công trình khác trong đô thị
- Hệ thống hạ tầng xã hội đô thị bao gồm các công trình y tế, văn hóa, giáo dục, thể thao, thương mại, dịch vụ công cộng, cây xanh, công viên, mặt nước và các công trình
khác
Ngoài ra còn có hệ thống hạ tầng kinh tế (theo nghĩa hẹp) bao gồm các công trình nhà xưởng, kho tàng, bến bãi, thủy lợi, chuồng trại,… phục vụ trực tiếp các ngành sản
xuất và dịch vụ kinh tế Nếu xét theo nghĩa rộng, hệ thống hạ tầng kinh tế bao gồm cả cơ
sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội
Hệ thống dịch vụ đô thị được hiểu là tất cả các hoạt động quản lý, bảo trì và khai thác hệ thống hạ tầng kỹ thuật và xã hội gọi là các hoạt động dịch vụ đô thị, bao gồm hai
phân hệ:
- Các hoạt động dịch vụ kỹ thuật đô thị chuyên quản lý, bảo trì và khai thác hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị Các hoạt động này do các công ty hay các tổ chức công ích
đảm trách Đó là các công ty độc quyền tư nhân hay là các đơn vị sự nghiệp hoạt động
dưới sự quản lý chặt chẽ của chính quyền
- Các hoạt động dịch vụ xã hội bao gồm các hoạt động trong những lĩnh vực y tế, giáo dục, thể dục thể thao, an toàn cứu hộ, văn hóa, thương mại, dịch vụ,… Xét trong thị
trường dịch vụ, các hoạt động dịch vụ xã hội cũng là các hoạt động kinh tế Tuy nhiên các
hàng hóa của thị trường này (sản phẩm, dịch vụ) là những hàng hóa đặc biệt mang nặng
thuộc tính xã hội do đó được Nhà nước quản lý chặt chẽ
5.1.2 Vai trò và tầm quan trọng của chính sách quản lý cơ sở hạ tầng đô thị
5.1.2.1 Vai trò của cơ sở hạ tầng đô thị
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội tại các đô thị, cơ sở hạ tầng đóng
Trang 9một vai trò hết sức quan trọng, thể hiện cụ thể như sau:
- Cơ sở hạ tầng là lực lượng vật chất nền tảng của đô thị Tất cả các hoạt động kinh tế, sản xuất, văn hóa, và đời sống ở đô thị đều tồn tại và phát triển trên nền tảng này
- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật với đặc điểm cố định và kinh phí đầu tư lớn còn được coi
là bộ xương cứng của đô thị Giá trị của cơ sở hạ tầng kỹ thuật chiếm đến một nửa tổng
giá trị các công trình trong đô thị Chính vì vậy, trong quy hoạch phát triển đô thị, cần
phải có sự chú ý đến vấn đề phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là các công trình hạ tầng kỹ
thuật Trên cơ sở đó sẽ tính toán được khả năng đáp ứng như cầu cho người dân đô thị để
đưa ra những phương án quy hoạch hợp lý và hiệu quả nhất
- Quản lý đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đô thị là một trong ba chức năng cơ bản
và cũng là một trong bốn giải pháp hàng đầu của chính quyền đô thị
5.1.2.2 Tầm quan trọng của chính sách quản lý cơ sở hạ tầng đô thị
Quản lý cơ sở hạ tầng đô thị là một trong những nhiệm vụ của chính quyền đô thị, thể hiện chức năng quản lý Nhà nước về đô thị Sở dĩ cần thiết phải xây dựng các chính
sách quản lý cơ sở hạ tầng đô thị vì những lý do sau:
- Đảm bảo nhu cầu phát triển và vận hành đồng bộ của hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống kỹ thuật
Nhu cầu đồng bộ là một nhu cầu khách quan của sự vật có tính hệ thống, cơ sở hạ tầng lại là các hệ thống lớn và phức tạp Cơ sở hạ tầng là một yếu tố không thể thiếu,
đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển của đô thị Chính vì vậy, trong việc khai
thác, quản lý và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng cần chú ý đến sự đồng bộ trong từng
ngành Đồng thời, đảm bảo được sự vận hành phối hợp giữa các ngành trong và ngoài đô
thị
- Cơ sở hạ tầng đô thị đều là những công trình lớn, cố định, tồn tại lâu dài, vốn đầu
tư lớn và thời gian hoàn vốn chậm Như vậy, thông thường chỉ có Nhà nước và các tổ
chức kinh tế lớn mới có thể huy động vốn cũng như xây dựng Do đó, các chính sách
quản lý hạ tầng là cơ sở cho sự quản lý cũng như đảm bảo quyền lợi của các tổ chức chịu
trách nhiệm xây dựng Bên cạnh đó, trong cơ chế thị trường, những chính sách ưu đãi, mở
cửa đối với các nhà đầu tư sẽ trở thành động lực cho sự phát triển cơ sở hạ tầng từ phía
các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
- Nhằm huy động lực lượng từ cộng đồng trong quản lý
Phát triển đô thị mà trước hết là phát triển hệ thống hạ tầng là việc của cộng đồng, chỉ có Nhà nước đứng ra mới huy động được nguồn lực từ cộng đồng Nhà nước có trách
nhiệm tổ chức và huy động mọi nguồn lực từ nhân dân để phục vụ nhân dân Nguồn lực
từ cộng đồng được hiểu là từ từng khu dân cư tới toàn khu đô thị và toàn xã hội Nguồn
lực đó bao gồm từ tài chính (vốn), tài sản (ví dụ đất đai) tới trí tuệ và sức lực Hình thức
Trang 10+ Trực tiếp góp tiền hoặc đất đai để xây dựng
+ Trực tiếp tham gia ý kiến về quy hoạch, kỹ thuật xây dựng, từ khâu thiết kế đến khâu thi công công trình
+ Đầu tư qua hình thức công trái và cổ phiếu
+ Giám sát thực hiện việc xây dựng và quản lý khai thác Tham gia bảo vệ công
trình
5.1.3 Thực trạng hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị Việt Nam
Ðến nay, cả nước có khoảng hơn 800 đô thị với tỷ lệ đô thị hóa ước đạt khoảng 37% Tăng trưởng kinh tế ở khu vực đô thị trung bình đạt 12% -15%, cao gấp 1,5 - 2 lần
so với mặt bằng chung của cả nước, khu vực đô thị hằng năm đóng góp khoảng 70 - 75%
GDP của Việt Nam Ðô thị đã và đang khẳng định vai trò là động lực phát triển kinh tế, là
hạt nhân thúc đẩy chuyển dịch kinh tế, cơ cấu lao động ở mỗi địa phương, mỗi vùng và cả
nước Cùng với sự tăng trưởng cả về số lượng và chất lượng của đô thị, các công trình hạ
tầng kỹ thuật đô thị được quan tâm đầu tư cải tạo, xây dựng mới, góp phần nâng cao chất
lượng cuộc sống dân cư đô thị Các chỉ tiêu về cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị đã được cải
thiện đáng kể Tổng công suất thiết kế cấp nước tăng hơn ba lần so với năm 1998, đạt 6,4
triệu m3/ngày, nâng tỷ lệ dân cư đô thị được cung cấp nước sạch lên 77% Tỷ lệ thất
thoát, thất thu nước sạch bình quân giảm trung bình còn 29% Công tác thu gom, xử lý
nước thải và rác thải đã được chính quyền các địa phương quan tâm, đến nay đã có nhiều
nhà máy xử lý nước thải tập trung được xây dựng và đưa vào hoạt động với tổng công
suất đạt khoảng 565.000 m3/ngày đêm Công tác thu gom, xử lý rác thải đô thị đạt 83%
Giao thông vận tải khách công cộng được quan tâm đầu tư, góp phần giải quyết ùn tắc và
tai nạn giao thông tại các đô thị Nhiều con đường mới được xây dựng, chất lượng đường
đô thị dần tốt hơn, các đô thị loại III trở lên đã có hầu hết các tuyến đường chính được rải
nhựa, nâng cấp và được xây dựng tương đối đồng bộ với hệ thống thoát nước, hè đường,
chiếu sáng và cây xanh Các đô thị lớn như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần
Thơ có nhiều dự án về giao thông đô thị được triển khai như cải tạo, nâng cấp và xây mới
các trục giao thông đối ngoại, cửa ô, trục giao thông hướng tâm, các nút giao cắt, đường
vành đai đã bước đầu nâng cao năng lực thông qua tại các đô thị này
Mặc dù vậy, việc xây dựng và phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị còn nhiều bất cập
Tỷ lệ đất dành cho giao thông còn thấp so với chỉ tiêu quy định, hiện tượng ùn tắc và tai
nạn giao thông đang là thách thức lớn hiện nay tại các thành phố lớn Tỷ lệ thất thoát, thất
thu nước sạch tại các đô thị vẫn đang ở mức cao so với các nước trong khu vực Nguồn
nước mặt ở nhiều nơi đang bị thiếu hụt, ô nhiễm do chặt phá rừng đầu nguồn, sản xuất
công nghiệp và do các hoạt động sinh hoạt của đô thị Hầu hết các đô thị vẫn chưa có hệ
thống thoát nước riêng, nước mưa và nước thải chảy chung một hệ thống Nước thải đô
thị và phần lớn khu, cụm công nghiệp chưa được xử lý xả thẳng vào nguồn tiếp nhận gây
ô nhiễm nguồn nước (sông Ðồng Nai, sông Sài Gòn, sông Nhuệ, ) Bên cạnh đó, việc xử