Trong thành phần các chất vô cơ của nước tiểu gồm có canxi, magiê, kali, natri, photpho, clo, lưu huỳnh.. Cấu trúc buồng trứng gồm hai lớp: lớp vỏ và lớp tuỷ Sự phát triển của các tế bào
Trang 1TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG LÀO CAI
Lù Thị Lừu
Bài giảng
CHĂN NUÔI GIA CẦM
LÀO CAI, 2011
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Để góp phần vào sự đổi mới và phát triển ngành chăn nuôi gia cầm, đồng thời góp phần tăng thêm nguồn tài liệu tham khảo, cũng như để phục vụ kịp thời cho công tác giảng dạy và học môn chăn nuôi gia cầm ở tại trường Chúng tôi biên soạn tập bài giảng chăn nuôi gia cầm gồm 6 chương.
Để hoàn thành tập bài giảng này chúng tôi đã tham khảo nhiều giáo trình nhân giống gia cầm và chăn nuôi gia cầm trước và gần đây Đặc biệt là tài liệu của các tác giả thuộc trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội.
Do trình độ và kinh nghiệm còn có hạn nên tập bài giảng không tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi mong đợi và chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp, sinh viên để bổ sung tập bài giảng hoàn thiện hơn.
TÁC GIẢ
Trang 3Chương 1 ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU - SINH LÝ CỦA GIA CẦM
1.1 DA VÀ SẢN PHẨM CỦA DA
1.1.1 Da
Một đặc điểm nổi bật trong cấu trúc da của gia cầm là trên toàn bộ bề mặt da không
có tuyến mồ hôi và tuyến nhờn mà chỉ có tuyến phao câu
Tuyến phao câu là nơi tập trung các tuyến nhờn biến dạng, nằm ở dưới da, trên vùng đốt sống đuôi Gồm hai thuỳ ovan hoặc hình tròn Thành phần chất tiết của tuyến phao câu chủ yếu là lipit, protein, axit nucleic Chất tiết của phao câu giúp cho bộ lông của gia cầm luôn sáng bóng, dai bền, mềm mại và ngăn cản nước, các chất có hại từ bên ngoài xâm nhập vào da Đối với thuỷ cầm, chất tiết của tuyến phao câu còn giúp cho lông vũ và da không bị ướt, đồng thời làm giảm lực ma sát trượt khi bơi trên mặt nước
1.1.2 Sản phẩm của da
- Lông vũ
Khác với gia súc toàn thân gia cầm được bao phủ bởi bộ lông vũ Cấu trúc của lông
vũ gồm 2 phần chính: phần gốc lông (nằm trong da), trục lông (phần lộ ra ngoài) Trục lông gồm thân lông và phiến lông, tuỳ thuộc vào hình dạng và cấu trúc mà người ta chia ra các loại sau:
+ Lông ống: Gồm lông ống thân, lông ống cánh, lông ống đuôi Thân lông dày cứng, phiến lông dày xít
+ Lông nhung: Hay còn gọi là lông bông, thân ngắn, phiến lông mềm, thường nằm dưới các lông ống
+ Lông tơ: Nhỏ và dài, mọc rải rác toàn thân
+ Lông hình kim: Có thân lông tương đối dài nhưng phiến lông ngắn Thường mọc xung quanh các ống dẫn chất tiết của tuyến phao câu
- Mào
Mào gồm lớp biểu bì và lớp mô dưới da, ở giữa chứa rất nhiều mạch máu, màng keo,
tế bào mỡ và đầu mút các dây thần kinh Có nhiều dạng mào như mào đơn, mào hoa hồng, mào hạt đào, hạt đậu, trái dâu, mào nụ Theo màu sắc, trạng thái và sự phát triển của mào người ta có thể phán đoán được sức khoẻ, sự phát dục và khả năng sinh sản của gia cầm
Ngoài ra còn một số sản phẩm khác như tích, lá tai, móng cựa, mỏ và các nốt đậu
- Màu sắc lông và da của gia cầm
Da của gia cầm có nhiều màu khác nhau như vàng, trắng, hồng, đen phụ thuộc vào
sắc tố chứa trong các tế bào da Các sắc tố đó chính là dẫn xuất của melanin hay lipocrom.
1.2 BỘ XƯƠNG
Xương gia cầm giòn, ít độ dẻo do chứa nhiều muối canxi nên dễ gãy Xương nhẹ, nhiều xương không chứa tuỷ mà chứa đầy không khí
Xương gia cầm được chia làm 3 phần chính:
- Xương đầu: xương hộp sọ, xương mặt, xương dưới lưỡi, xương tai
- Xương mình: xương sống, xương sườn và xương ngực
- Xương chi: xương vai, xương chậu, các xương ngón tự do
1.2.1 Xương đầu
biệt được Những xương này có nhiệm vụ bảo vệ não bộ trong hộp sọ
Trang 41.2.2 Xương mình
Cột sống của gia cầm được chia thành đoạn cổ, ngực, thắt lưng và đuôi, ở mỗi đoạn, các đốt sống có nét đặc trưng riêng Các đốt sống hình vòng liên kết với nhau tạo thành cột sống
- Đoạn cổ của cột sống dài nhất, cong hình chữ S Số lượng đốt sống nhiều cùng với
- Đoạn xương sống ngực ngắn hơn, mối liên kết giữa các đốt ngực là bất động giúp cho lồng ngực thêm vững chãi
- Xương ngực ở gia cầm rất phát triển Dọc theo xương ngực có xương lưỡi hái nhô
ra phía trước, đây là chỗ bám của cơ ngực ở gia cầm
- Đoạn xương sống thắt lưng ở gia cầm hoàn toàn gắn lại với nhau tạo thành một xương lớn gọi là xương thắt lưng phức hợp Số lượng đốt sống thay đổi từ 11- 14 đốt Đoạn xương sống đuôi có từ 5 - 6 đốt ở gà, 7 - 8 đốt ở vịt và ngỗng, những đốt này cử động tự do
1.2.3 Xương chi
Trong quá trình tiến hoá, hai chi trước biến thành cánh Xương chi trước gồm xương cánh tay, cẳng tay, cổ tay, xương bàn tay với 3 ngón tay kém phát triển Xương cánh rỗng hoàn toàn, chứa đầy khí nên nhẹ và xốp
Xương đai hông là nơi cho các chi sau bám vào Xương đai hông gồm xương chậu, xương ngồi, xương háng, các xương này không phân biệt rõ ranh giới
Xương chi sau gồm xương đùi, xương ống chân, xương cổ chân và xương mác, xương cổ bàn nối với các ngón chân
1.3 HỆ CƠ
Hệ cơ đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ các quá trình vận động củae cơ thể Ngoài ra hệ cơ còn có chức năng về mặt kinh tế như: hệ cơ càng lớn thì lượng thịt càng lớn
Có 3 loại cơ: cơ vân, cơ trơn, cơ tim
- Cơ vân: phân bố chủ yếu ở phía ngoài cơ thể: cơ cổ, cơ cánh, cơ ngực và cơ chân
Đó là lượng thịt của gia cầm
- Cơ trơn: xếp 2 - 3 lớp ở thực quản, dạ dày, ruột, ống dẫn trứng và các cơ quan nội tạng khác
- Cơ tim: tạo thành quả tim, tính co bóp tự động
1.4 HỆ TUẦN HOÀN
Máu là một chất lỏng màu đỏ hơi nhớt Tỷ trọng của máu gia cầm từ 1,042 - 1,064 Thông thường chỉ có một phần máu ở trong mạch quản và tim gọi là máu tuần hoàn Phần còn lại ở dạng dự trữ trong các kho máu Kho máu gồm có lá lách, gan và da
Máu gồm có hai phần: phần huyết tương chiếm 60% và các thành phần hữu hình chiếm 40%
- Huyết tương là một chất lỏng trong suốt hoặc vàng nhạt, gồm có nước và vật chất khô Protein huyết tương có albumin, globulin và fibrinogen Kháng thể của máu phần chính
là γ globulin
- Các phần hữu hình gồm hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu
+ Hồng cầu: có hình ovan, có nhân Số lượng hồng cầu ở vịt 3,5 triệu, ngỗng là 3,3
vịt 34 - 35 nghìn, ngỗng 38 - 39 nghìn, gà tây 32 - 34 nghìn/mm3 máu
Trang 5+ Tiểu cầu: có hình que, kích thước nhỏ hơn hồng cầu Số lượng tiểu cầu ở gà là 32
cố định, nó bị phá huỷ rất nhanh nhưng có vai trò quan trọng trong quá trình đông máu
Tần số hoạt động của tim các loài gia cầm cũng khác nhau nằm trong khoảng 200
-400 lần/phút Tần số co bóp trung bình ở gà mái 320 – 340 lần/phút, gà trống 270 – 280 lần/ phút, vịt 200 lần/phút, gà tây 100 lần/phút
1.5 HỆ HÔ HẤP
Cơ quan hô hấp của gia cầm có cấu trúc khác biệt so với gia súc Bao gồm các bộ phận sau:
- Xoang mũi của gia cầm ngắn, nằm ở nắp mỏ trên, gồm hai phần xương và sụn Hai
lỗ mũi nằm ở gốc mỏ và có đường kính rất nhỏ Là nơi thu nhận và lọc khí rồi chuyển vào khí quản
- Khí quản là ống tương đối dài bao gồm nhiều vòng sụn chúng được gắn với nhau bởi các dây chằng mô liên kết Đến xoang ngực, khí quản chia làm hai phế quản, mỗi phế quản dài 6 - 7cm và nối với một lá phổi
- Phổi nằm trong xoang ngực, sát cột sống Phổi gia cầm có màu hồng tươi, ít đàn hồi
và không phân thuỳ Thể tích nhỏ và tính đàn hồi yếu của phổi gia cầm được bổ sung bằng
hệ thống túi khí tham gia vào quá trình trao đổi khí Các túi khí là phần lồi có màng mỏng của thành các phế quản chính và phế quản thứ Gia cầm có chín túi khí, một túi lẻ là túi khí giữa xương đòn và 4 đôi nằm đối xứng nhau là đôi cổ, ngực trước, ngực sau và bụng Các túi chứa khí hít vào gồm đôi ngực phía sau và đôi túi khí bụng Các túi khí chứa khí thở ra gồm túi khí giữa xương đòn, đôi cổ và đôi ngực phía trước
Các túi khí còn có vai trò trong việc điều hoà nhiệt của cơ thể, giảm khối lượng riêng của cơ thể gia cầm, tăng thời gian và cường độ trao đổi khí
1.6 HỆ TIÊU HÓA
1.6.1 Xoang miệng
Tiêu hoá ở miệng: gia cầm lấy thức ăn bằng mỏ, lưỡi gia cầm ở đáy khoang miệng,
có hình dạng và kích thước tương ứng với mỏ Các tuyến nước bọt của gia cầm phát triển kém, song thức ăn đi qua khoang miệng vẫn được thấm ướt tạo điều kiện thuận lợi để thức
ăn đi vào thực quản
1.6.2 Diều
Diều là phần phình to của thực quản Diều lệch về phía bên phải chỗ đi của khoang ngực, bề mặt bên ngoài diều được nối với cơ da, cơ này giúp cho nó giãn nở rộng khi thức
ăn rơi vào
1.6.3 Dạ dày
Gồm hai phần: dạ dày tuyến và dạ dày cơ Dạ dày tuyến là dạng ống ngắn có vách dày, ống được nối với dạ dày cơ bằng một eo nhỏ Vách dạ dày tuyến gồm có màng nhầy,
cơ và mô liên kết Bề mặt màng nhầy có những nếp gấp, đáy màng nhầy có các tuyến hình túi phức tạp
Dạ dày cơ có dạng hình đĩa, có thành dày, màu đỏ sẫm Dạ dày cơ không tiết dịch tiêu hoá, tại đây chỉ xảy ra quá trình nghiền trộn thức ăn bằng cơ học và tiêu hóa thức ăn dưới tác dụng của các men của dịch dạ dày tuyến, các enzim thức ăn và vi khuẩn
Trang 61.6.4 Ruột
Ruột gia cầm có chiều dài gấp khoảng 4 - 6 lần chiều dài thân Được chia làm 2 phần: ruột non (tá tràng, không tràng, hồi tràng) và ruột già (manh tràng và trực tràng) Ruột tham gia vào quá trình tiêu hoá và hấp thu các chất dinh dưỡng cho cơ thể
1.6.5 Gan
Gan là tuyến to nhất, nằm phía sau tim, có màu vàng xám hoặc vàng sẫm và chia làm hai thuỳ Gan làm chức năng khử độc, tổng hợp glycogen và tiết dịch mật Mật được tiết ra một phần đổ vào túi mật sau đó đổ vào tá tràng, phần còn lại đổ trực tiếp vào tá tràng Ở chim bồ câu và đà điểu không có túi mật, vì vậy tất cả mật tiết ra đều đi vào tá tràng
Dịch mật ngoài nhiệm vụ làm chức năng tiêu hoá, ở gia cầm mật còn ngăn cản việc tạo thành các vết loét trên màng nhầy của dạ dày cơ và có khả năng diệt khuẩn Nếu việc tạo mật không đầy đủ sẽ làm tổn thương và ăn mòn màng chất sừng của dạ dày cơ
1.7 HỆ BÀI TIẾT
Hệ thống bài tiết ở gia cầm có đặc điểm riêng Thận hình bầu dục, màu hồng nhạt ở gia cầm non, màu nâu sẫm ở gia cầm trưởng thành Thận nằm đối xứng qua trục sống, không có bể thận, không có bàng quang, các niệu quản bắt đầu trong các tiểu thuỳ và kết thúc ở ổ nhớp
Tính chất và thành phần nước tiểu của gia cầm khác với động vật có vú Độ pH của nước tiểu có thể là trung tính, kiềm nhẹ hoặc axit nhẹ Khi gia cầm bị đói, nước tiểu có tính kiềm, khi được ăn bằng thức ăn giàu protit thì nước tiểu sẽ có phản ứng axit
Số lượng và thành phần của nước tiểu phụ thuộc vào thức ăn Trong thành phần các chất vô cơ của nước tiểu gồm có canxi, magiê, kali, natri, photpho, clo, lưu huỳnh Các chất hữu cơ trong nước tiểu có chứa axit uric, urê, creatin, amoniac
1.8 HỆ SINH SẢN
1.8.1 Cơ quan sinh dục cái
* Buồng trứng
Buồng trứng của gia cầm nằm ở phía trái của khoang bụng, kích thước và hình dạng buồng trứng phụ thuộc vào tuổi và trạng thái sinh lý Ở gà 1 ngày tuổi buồng trứng có dạng phiến mỏng, bốn tháng tuổi có dạng hình thoi, thời kỳ đẻ mạnh buồng trứng như chùm nho
Cấu trúc buồng trứng gồm hai lớp: lớp vỏ và lớp tuỷ
Sự phát triển của các tế bào trứng được trải qua ba thời kỳ:
- Thời kỳ tăng sinh: Xảy ra trong quá trình phát triển phôi thai của buồng trứng và kết thúc khi gia cầm con nở ra
- Thời kỳ sinh trưởng gồm: thời kỳ sinh trưởng nhỏ và thời kỳ sinh trưởng lớn
Thời kỳ sinh trưởng nhỏ kéo dài từ khi nở đến trước khi thành thục sinh dục Sự phát triển các tế bào trứng (lòng đỏ) thời kỳ này rất chậm
Thời kỳ sinh trưởng lớn kéo dài 4 - 13 ngày, lòng đỏ tăng nhanh về kích thước và khối lượng Trong thời gian này hình thành lớp màng lòng đỏ
- Thời kỳ chín: Là thời kỳ cuối của sự hình thành lòng đỏ Trong thời kỳ này xảy ra quá trình phân bào giảm nhiễm và hoàn thành ở buồng trứng trước khi rụng
Sự rụng trứng ở gia cầm thường xảy ra một lần trong ngày, dưới sự điều khiển của thần kinh và hoocmon Hoocmon FSH của tuyến yên kích thích sinh trưởng, LH kích thích trứng chín và rụng
* Ống dẫn trứng
Trang 7Ống dẫn trứng là một ống dài có nhiều khúc cuộn, tuỳ thuộc vào hình dạng và chức năng mà ống dẫn trứng được chia làm 5 phần sau
- Loa kèn: là phần đầu tiên của ống dẫn trứng dài khoảng 4 - 7cm, nằm ngay dưới buồng trứng và được cố định nhờ hai nếp màng treo ruột Niêm mạc cổ phễu có các tuyến hình ống tiết ra chất nhầy dạng hạt đặc bao quanh lòng đỏ tham gia hình thành một phần dây chằng lòng đỏ và lòng trắng đặc trong Thời gian trứng dừng lại loa kèn từ 15 - 20 phút,
tế bào trứng sẽ được thụ tinh tại đây nếu gặp tinh trùng
- Phần tạo lòng trắng: là phần dài nhất của ống dẫn trứng, niêm mạc có nhiều nếp gấp dọc, trong đó có rất nhiều tuyến hình ống để tiết ra lòng trắng Chất tiết bao quanh lòng đỏ lúc đầu đặc để hoàn thiện dây chằng lòng đỏ và hình thành lớp lòng trắng đặc, sau loãng hơn hình thành lớp lòng trắng loãng Thời gian trứng dừng lại ở phần tạo lòng trắng không quá 180 phút Tốc độ di chuyển của trứng ở phần này khoảng 2,0 - 2,3mm/phút Do sự di chuyển của trứng trong ống dẫn trứng theo chiều xoắn nên dây chằng lòng đỏ cũng bị xoắn theo, giúp cho lòng đỏ luôn nằm ở vị trí trung tâm của trứng
- Bộ phận tạo vỏ: bộ phận tạo vỏ là phần hẹp của ống dẫn trứng dài khoảng 8cm, niêm mạc có những nếp xếp nhỏ và có nhiều tuyến hình ống tiết ra chất hạt giống như Keratin, tạo nên lớp sợi chắc quấn lấy nhau để hình thành nên hai lớp màng dưới vỏ Dung dịch muối và nước có thể thấm qua hai màng này đi vào lòng trắng Trứng dừng lại ở đoạn
eo khoảng 60 -70 phút Tốc độ di chuyển của trứng ở đoạn này chậm, khoảng 1,4mm/phút Khi qua phần này, 40 - 60% khối lượng lòng trắng của trứng đã được hình thành
- Tử cung: đoạn cuối của phần tạo vỏ có một phần nở to ra tạo thành tử cung Niêm mạc tử cung có rất nhiều nếp nhăn xếp theo chiều ngang và xiên Tuyến của vách tử cung tiết ra một chất dịch lỏng làm tăng khối lượng lòng trắng và tiết ra một chất dịch hình thành
vỏ cứng Quá trình hình thành vỏ cứng diễn ra rất chậm Để hình thành một vỏ trứng gà cần
động từ trong máu Vì thế trong máu gà đẻ, lượng canxi thường cao hơn gà không đẻ 2 - 3 lần
Tại tử cung, cùng với sự hình thành vỏ cứng, các tuyến trong tử cung còn tiết ra sắc
tố của vỏ, tạo nên các màu khác nhau tuỳ theo giống gia cầm Sau khi hình thành vỏ cứng, các tế bào biểu mô vỏ tử cung còn tiết ra một chất dịch tạo thành lớp màng keo mỏng trên
bề mặt vỏ Thời gian trứng dừng lại tử cung từ 18 - 20 giờ
- Âm đạo: âm đạo là đoạn cuối của ống dẫn trứng, là cửa ngõ để trứng đi ra ngoài cơ thể Lớp niêm mạc nhăn, không có tuyến ống Lớp biểu mô âm đạo tiết ra chất dịch tham gia hình thành lớp màng keo trên bề mặt vỏ cứng Khi đẻ trứng, âm đạo lồi ra khỏi lỗ huyệt giữ cho trứng không bị bẩn Thời gian trứng đi qua âm đạo rất nhanh
1.8.2 Cơ quan sinh dục đực
Cơ quan sinh dục đực bao gồm:
- Tinh hoàn hình ovan hay hình hạt đậu, màu trắng hoặc gợn vàng Tinh hoàn bên trái phát triển hơn bên phải Tinh hoàn được bao bọc bởi một màng mỏng, bên trong có rất nhiều ống sinh tinh Tinh trùng được hình thành và phát triển trong các ống sinh tinh nhưng chưa có khả năng chuyển động và thụ tinh Sau đó tinh trùng chuyển vào dịch hoàn phụ và thành thục
- Ống dẫn tinh có dạng hình ống nhỏ gấp khúc Ống dẫn tinh nối với ống dẫn của dịch hoàn phụ vào tận phần giữa của ổ nhớp Phần cuối của ống dẫn tinh là chỗ phình hình bong bóng, đây là nơi tích tụ tinh trùng Tại đây tinh trùng có khả năng vận động và thụ tinh tốt
- Cơ quan giao cấu của gà và gà tây trống không phát triển Chỉ là chỗ phình hình bong bóng của ống dẫn tinh, nở to hơn khi kích thích sinh dục Khi giao cấu ổ nhớp của con trống áp sát với lỗ huyệt của con mái và tinh trùng được phóng vào đường sinh dục của con mái
Trang 8- Cơ quan giao cấu của ngỗng và vịt hình xoắn ốc, được cấu tạo từ hai thể xơ, nó được phồng lên khi bị cương cứng bởi dòng limpho Cơ quan giao cấu nằm trong ổ nhớp, trên ruột già, khi giao cấu nó lồi ra khỏi ổ nhớp
Khả năng giao phối của gia cầm rất cao, một gà trống có thể giao phối 25 - 41 lần trong một ngày Sau khi giao phối 10 - 12 ngày tinh trùng gà vẫn có khả năng thụ tinh, vịt Bắc Kinh sau 4 -5 ngày
Quá trình thụ tinh xảy ra ở loa kèn sau khi trứng rụng trong thời gian ngắn (khoảng
còn lại là dinh dưỡng cho phôi phát triển
Trang 9Chương 2 GIỐNG VÀ CÔNG TÁC GIỐNG GIA CẦM
2.1 GIỐNG GÀ
2.1.1 Giống gà chuyên trứng
* Gà Lơ-go (Leghorn)
đen, vàng và vằn Nhưng nhiều nhất vẫn là dòng gà Lơgo trắng
- Đặc điểm: mào đơn có dạng cong tròn, lá tai trắng, đôi khi có những chấm vàng.
Mống mắt màu đỏ hoặc da cam, mỏ chắc màu vàng, cổ dài trung bình, có nhiều lông và áp sát vào thân màu trắng, về sau hơi ngả vàng, đuôi có gốc rộng và nhiều lông
Sức sản xuất: ở tuổi trưởng thành con trống có khối lượng 2,0 2,6kg, con mái 1,6
2,2kg Sức sinh sản cao, sản lượng trứng/năm đạt 250 270 quả, khối lượng trứng từ 55 -60g
Hiện nay các dòng thuần được nuôi ở trung tâm gà giống hướng trứng Ba Vì Gà lai được nuôi ở Xí nghiệp gà sinh sản 2/12 (Lương Mỹ), Xí nghiệp liên hợp giống gia cầm I, Xí nghiệp nuôi gà Nhân Lễ (Hà Nội)… Ở nhiều khu vực gia đình cũng đang phát triển nuôi gà Lơgo có hiệu quả cao
* Gà trắng Nga
- Nguồn gốc: các nhà chọn giống Nga đã lai tạo gà địa phương với gà Lơgo tạo ra
giống gà trắng Nga chuyên trứng thích nghi với khí hậu khác nhau, đặc biệt có khả năng thích nghi với các vùng khí hậu lạnh
mào đơn to, 5 khía Ngực rộng và hơi lồi, lông trắng, mỏ và chân màu vàng
Sức sản xuất: tuổi trưởng thành khối lượng con trống là 2,9 3,2kg, con mái là 1,8
-2,2kg Sản lượng trứng 200 - 220 quả/năm, trọng lượng trứng trung bình là 55 - 60g Ngoài
ra còn nhiều cơ sở chăn nuôi đạt 230 - 250 quả/năm
* Gà Goldline 54
- Nguồn gốc: bộ giống gà Goldline54 Việt Nam nhập từ Hà Lan năm 1990.
tạo thành dòng trống (AB) có lông màu đỏ và dòng mái (CD) có lông màu trắng
- Sức sản xuất:
+ Đối với gà giống bố mẹ Thời kỳ nuôi từ 0 - 25 tuần tuổi: tỷ lệ nuôi sống đạt 95 - 97%, khối lượng cơ thể gà mái lúc 19 tuần tuổi là 1400 - 1450g, 20 tuần tuổi đạt 1550 - 1650g/con
Thời kỳ gà đẻ từ 21 - 68 tuần tuổi: tỷ lệ nuôi sống đạt 92%, đỉnh cao sản xuất trứng
là 91%, sản lượng trứng/gà mái đầu kỳ là 237 quả, tỷ lệ ấp nở là 85%
+ Đối với gà thương phẩm Giai đoạn gà con và giai đoạn gà hậu bị (từ 0-20 tuần tuổi): khối lượng cơ thể lúc 17 tuần tuổi đạt 1360 - 1420g, lúc 20 tuần tuổi đạt 1620 - 1720g
Giai đoạn gà đẻ (từ 21 - 80 tuần tuổi): tỷ lệ nuôi sống đạt 93 - 94%, sản lượng trứng
gà mái đạt 313 quả/ năm, khối lượng trứng bình quân là 60 - 63g/quả, khối lượng gà mái đẻ cuối kỳ là 2100 - 2300 kg/con
* Gà Hy - Line Brown
Trang 10- Nguồn gốc: nhập trực tiếp từ Mỹ
- Đặc điểm: gà mái Hy - Line Brown thương phẩm có lông màu đỏ với lông màu trắng sát thân, mào đơn, vỏ trứng màu nâu Con lai thương phẩm chọn trống mái bằng màu lông (gà mái lông màu đỏ lẫn trắng, gà trống lông màu trắng)
-Sức sản xuất:
+ Gà bố mẹ: tỷ lệ nuôi sống lúc 1-18 tuần tuổi với dòng mái là 95%, dòng trống 94%, đến 18 - 70 tuần tuổi dòng mái và dòng trống đều đạt 91% Từ 18 - 70 tuần tuổi sản lượng trứng đạt bình quân 257 quả/mái, tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng là 1,6kg Khối lượng trưởng thành (60 tuần tuổi) gà mái đạt 2,31kg, gà trống đạt 3,58kg
+ Gà thương phẩm: giai đoạn hậu bị 0 - 18 tuần tuổi: tỷ lệ nuôi sống đạt 96 - 98%, khối lượng cơ thể đạt 1,55kg, tiêu tốn thức ăn 5,7 - 6,7 kg
Giai đoạn gà đẻ trứng: tỷ lệ nuôi sống từ 18 - 80 tuần tuổi đạt 94 - 98%, sản lượng trứng/mái bình quân là 339 quả Tỷ lệ đẻ lúc cao điểm nhất đạt 93 - 96%, khối lượng trứng bình quân là 63,1g, tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng là 1,7kg
2.1.2 Các giống gà chuyên thịt
* Gà Hybro
- Nguồn gốc: tạo ra ở Hà Lan năm 1973, năm 1985 ta nhập từ Cuba nuôi tại Tam Đảo
12 Mục đích của việc sử dụng 4 dòng này là nhằm tạo con lai 4 máu có năng suất cao để nuôi thịt (Broiler) Hiện nay thường dùng công thức lai 3 máu vẫn cho năng suất cao, công thức lai như sau:
nặng nhất, khối lượng lúc 49 ngày tuổi đạt 2,2 - 2,5kg
giai đoạn gà con, mào đơn Có một gen liên kết với giới tính nhưng tốc độ mọc lông của con trống chậm hơn con mái, nên dựa vào đặc điểm này để chọn trống, mái
0,8kg Lúc 252 ngày đạt:
* Gà AA (Arbor Acres)