1 2 LỜI NÓI ĐẦU Sản xuất lương thực là ngành quan trọng của nông nghiệp Việt Nam Lúa là cây lương thực quan trọng nhất, chiếm diện tích gieo trồng lớn nhất Cây lương thực quan trọng thứ hai là ngô, th[.]
Trang 11
Trang 22
LỜI NÓI ĐẦU
Sản xuất lương thực là ngành quan trọng của nông nghiệp Việt Nam Lúa là cây lương thực quan trọng nhất, chiếm diện tích gieo trồng lớn nhất Cây lương thực quan trọng thứ hai
là ngô, thứ ba là cây sắn đang có xu hướng gia tăng về diện tích gieo trồng Việt Nam hiện đã đạt được an ninh lương thực trên phạm vi quốc gia Tuy nhiên để đảm bảo được an ninh lương thực ở cấp hộ gia đình trên phạm vi cả nước vẫn đang còn là một vấn đề lớn, đặc biệt ở miền núi phía Bắc
Cây lương thực là môn học bắt buộc nằm trong chương trình đào tạo của nhiều trường Đại học Nông nghiệp trên cả nước nói chung và được giảng dạy tại khoa Nông lâm trường Cao đẳng Cộng đồng Lào Cai
Tập bài giảng Cây lương thực này được biên soạn dùng làm tài liệu giảng dạy cũng như tài liệu tham khảo cho sinh viên ngành Cao đẳng Nông lâm kết hợp và Trung cấp Trồng trọt của trường Cao đẳng Cộng đồng Lào Cai Kết cấu tập bài giảng Cây lương thực gồm hai phần là Cây lúa và Cây màu (Cây ngô, Cây khoai lang và Cây Sắn)
Trong quá trình biên soạn tập bài giảng này, chúng tôi đã tham khảo một số tài liệu của các tác giả Tuy nhiên, do thời gian, nguồn tư liệu có hạn nên không tránh khỏi những thiếu
sót Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của bạn đọc để tập bài giảng Cây
lương thực hoàn chỉnh hơn
Tác giả
Trang 33
PHẦN MỘT: CÂY LÚA Chương 1 ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC VÀ SINH VẬT HỌC CÂY LÚA 1.1 NGUỒN GỐC VÀ PHÂN LOẠI
1.1.1 Nguồn gốc
Cây lúa là một trong những cây ngũ cốc có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất, là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới, cùng với ngô, lúa mì (tiểu mạch), sắn (khoai mì)
và khoai tây Căn cứ vào các tài liệu khảo cổ ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam cây lúa đã có mặt từ 3000-2000 năm trước công nguyên Ở Trung Quốc vùng Triết Giang đã xuất hiện cây lúa 5000 năm, ở hạ lưu sông Dương Tử 4.000 năm Tuy nhiên, vẫn còn thiếu những tài liệu để xác định một cách chính xác thời gian cây lúa được đưa vào trồng trọt
Mặc dù ý kiến cụ thể về nguồn xuất xứ còn khác nhau, chưa thống nhất nhưng có nhiều tài liệu lịch sử và di tích khảo cổ đã chứng minh về phương diện sinh thái học cây lúa và nghề trồng lúa đã có từ lâu đời gắn liền với lịch sử phát triển của loài người, nhất là ở Châu Á
Về nguồn gốc thực vật, cây lúa thuộc họ hoà thảo (Gramineae), chi Oryza Trong chi Oryza có nhiều loài, sống một năm hoặc nhiều năm, trong đó chỉ có 2 loài trồng là Oryza sativa: phổ biến ở Châu Á, chiếm đại bộ phận diện tích trồng lúa, có nhiều giống có đặc tính tốt, cho năng suất cao và Oryza glaberrima: hạt nhỏ, năng suất thấp, chỉ trồng trên diện tích
nhỏ ở Tây Phi Lúa trồng hiện nay là do lúa dại qua chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo lâu đời hình thành
Quá trình hình thành loài lúa trồng có thể được khái quát như sau: Trong thời tiền sử,
các bộ lạc sinh sống trong vùng có lúa dại O fatua đã thuần hoá nó và trồng nó ở những nơi xa nhau và độc lập với nhau Trước hết, họ hái lượm ở các vùng tự nhiên có O fatua mọc Đến
những năm gần đây, nông dân ta ở Nam bộ vẫn còn đi gặt “lúa ma” ở Đồng Tháp Mười
Những nông dân ở bán đảo Đông Dương có thể là những người đầu tiên đã đem hạt O fatua
“gieo” quanh nơi cư trú Chiến tranh, sự trao đổi, sự kết hợp nhiều lần của các bộ lạc và việc hình thành những hình thức đầu tiên của nhà nước đã làm hỗn tạp với mức độ khác nhau
những loại hình Oryza fatua đã thuần hoá, đã làm đa dạng hoá các loại hình lúa bắt đầu được
gieo trồng Từ đó nảy sinh vô số các loại hình và các giống lúa khác nhau mà ngày nay theo
phân loại của Carl Linné đã được gọi tên chung là Oryza sativa
1.1.2 Phân loại
Có thể coi Linné là người đầu tiên đặt nền móng cho việc phân loại Oryza Trong cuốn
“Các loài thực vật” (Species Plantanlm, 1753), Linné đã mô tả loài Sativa trồng ở Ấn Độ
(Goutchin G.G 1935) Việc phân loại chỉ Oryza có nhiều ý kiến khác nhau:
- Roshevits R.U (1931) chia chi Oryza ra làm 19 loài
- Chaherjee, (1948) chia làm 23 loài
- Richharia R, (1960) chia làm 18 loài
- Gkose R.L.M và cộng sự (1962) chia làm 24 loài
- Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế IRRI (1963) đã phân chi Oryza làm 19 loài
Nói chung các loài Oryza đều là những cây ưa đầm lầy, trừ Oryza meyriana và một số loại hình thuộc loài Oryza oficinalis có khả năng sinh sống ở những khu rừng ẩm thấp và trong
những thung lũng ẩm
Trang 44
Đối với lúa trồng, cũng có nhiều cách phân loại khác nhau:
- Theo điều kiện sinh thái, Kato (1930) chia lúa trồng thành 2 nhóm lớn là Japonica (lúa cánh) và Indica (lúa tiên) Đinh Dĩnh (1958) cho rằng lúa cánh bắt nguồn từ Trung Quốc nên gọi là Suno - Japonica Goutchin lại chia ra 3 loài phụ: Indica, japoica và Brevis
- Theo thời gian sinh trưởng, Roxburg chia ra các giống lúa trồng ở Ấn Độ thành hai nhóm chín sớm và chín muộn mà không quan tâm về hình thái Watt, căn cứ vào vụ trồng ở Ấn
Độ chia thành lúa thu và lúa đông
- Theo mùa vụ gieo cấy trong năm và thời gian sinh trưởng, người Trung Quốc chia lúa trồng thành lúa sớm và lúa muộn hoặc lúa xuân và lúa mùa
- Theo điều kiện tưới và gieo cấy, người ta chia lúa trồng thành 2 nhóm là lúa nước và lúa cạn
- Dựa vào cấu tạo hạt, Komik và Atefeld phân chia lúa ở Java (Indonexia) thành lúa tẻ (utilissma) và lúa nếp (glutinosa)
Tóm lại, việc phân loại lúa là vấn đề phức tạp vì nó phân bố rộng, được trồng trọt trong những điều kiện khác nhau về thời tiết, đất đai Đến nay, trong nhiều điều kiện sinh thái khác nhau, lúa trồng cũng đã hình thành ra nhiều loại hình và nhiều giống lúa có đặc trưng khác nhau
1.2 ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC CÂY LÚA
1.2.1 Rễ lúa
Rễ lúa thuộc loại rễ chùm mọc từ đốt thân, rễ chính làm nhiệm vụ hút nước, dinh
dưỡng mọc từ đốt dưới mặt đất, các đốt trên mặt
đất hình thành nên các rễ bất định (Rễ khí sinh)
Vùng rễ có hai lớp: lớp rễ mặt và lớp
rễ thường ăn sâu hơn Lớp rễ mặt phát triển
theo chiều ngang từ những đốt trên và phát
triển mạnh hơn lớp rễ dưới vì đủ oxy và dinh
dưỡng Rễ con hay rễ nguyên thuỷ thường
chết trong vòng 1 tháng, rễ già chuyển màu
nâu, rễ non và rễ mới có màu trắng
Rễ phát triển chủ yếu trong vùng tầng đất cày khoảng 18cm (lúa có tưới) chỉ những rễ
to khỏe có thể xuyên qua tầng đế cày sâu hơn 18 cm
Cấu tạo rễ gồm có rễ và lông hút, cắt ngang cho thấy trung tâm rễ có cấu tạo rỗng, có các ống dẫn nước (thông thường có 5 ống), các tế bào vỏ rễ và lông hút Lông hút là những ống nhỏ, kéo dài ở phần đầu của rễ, có chức năng hút nước và dinh dưỡng vào rễ, lông hút tồn tại thời gian ngắn và những lông hút mới liên tục xuất hiện (hình
Bộ rễ của các giống lúa phát sinh ở các vùng sinh thái khác nhau có phân bố, độ dài, khả năng ăn sâu khác nhau Sự phân bố của rễ phụ thuộc vào độ sâu của lớp đất mặt, tầng đế cày càng sâu rễ ăn càng sâu, lượng không khí trong đất, dinh dưỡng, lượng nước và biện pháp canh tác
Rễ ăn sâu khả năng hút tăng, do vậy biện pháp kỹ thuật như làm đất, bón phân, làm cỏ
là vô cùng quan trọng tác động đến sự phát triển của bộ rễ
Hình 1.1 Rễ lúa
Trang 55
1.2.2 Thân lúa
Thân được tính từ mặt đất đến đỉnh sinh trưởng trong thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, và
đến đốt cổ bông ở thời kỳ sinh trưởng sinh thực
Chiều cao thân phát triển theo các giai đoạn sinh trưởng của lúa và đạt chiều cao cuối cùng khi lúa trỗ hoàn toàn Chiều cao thân được tính từ mặt đất đến cổ bông, chiều cao cây
được tính từ mặt đất đến hạt đỉnh đầu bông Chiều cao phụ thuộc vào giống và môi trường Căn cứ vào chiều cao cây người ta phân lúa thành ba nhóm chính là:
- Nhóm cao cây có chiều cao trên 120 cm, nhóm này chủ yếu là giống địa phương và một
số giống dài ngày như tẻ tép, tám, nếp tan nhe, tan lả, tẻ nương
- Nhóm lúa có chiều cao trung bình từ 100 đến 120 cm chủ yếu là các giống lúa cải tiến
- Nhóm thấp cây có chiều cao dưới 100 cm những giống cải tiến, ngắn ngày
1.2.3 Lóng và đốt
Số lóng và số đốt với các giống lúa là khác nhau do bản chất di truyền của lúa quy định
Số lóng và số đốt tuơng đối ổn định và ít bị biến động bởi môi trường Giống ngắn ngày có khoảng 13 - 15 đốt và 4 - 5 lóng; giống trung ngày có khoảng 16 - 18 đốt và 5 - 6 lóng; giống dài ngày có khoảng 20 - 21 đốt và 7 - 8 lóng Chiều dài lóng được tính bằng khoảng cách giữa hai đốt Lóng gốc thường ngắn, thành dày và lóng trên thường dài hơn nhưng đường kính nhỏ dần, độ dày mỏng hơn lóng phía dưới
1.2.4 Nhánh lúa
Nhánh được hình thành từ lách lá, nhánh được hình thành từ thân lúa là nhánh cơ bản, nhánh đẻ từ lách lá thứ 2 là nhánh cơ bản thứ nhất, tiếp theo là nhánh cơ bản thứ 3, thứ 4…
Từ nhánh cơ bản lại hình thành nhánh gọi là nhánh cấp hai, các nhánh cấp 2 phía ngoài tán cây có khả năng đẻ nhánh và hình thành nhánh cấp 3 Nhánh cơ bản có sức sinh trưởng mạnh hơn nhánh cấp 2 và cấp 3 nên có khả năng tạo bông, hạt cũng nhiều hơn Các nhánh cấp 2 và cấp 3 thường đẻ muộn, sinh trưởng yếu nên thường là nhánh vô hiệu hoặc bông nhỏ ít hạt hơn nhánh cơ bản
Hình 1.2 Cấu tạo rễ lúa
Trang 66
Khả năng đẻ nhánh là một đặc điểm di truyền của giống nhưng phụ thuộc vào môi trường và dinh dưỡng Theo Bùi Huy Đáp (1970), trong điều kiện vụ mùa, cấy thưa, đủ dinh dưỡng giống lúa Tám lùn có thể đẻ được 200 nhánh, và có đến 180 nhánh có khả năng hình thành bông Vụ chiêm, giống chiêm canh có thể đẻ được 113 nhánh và có 101 nhánh thành bông Các giống lúa cải tiến có thể đẻ 5 - 25 nhánh trong điều kiện thâm canh theo quy trình kỹ thuật của giống
Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (1996) phân chia khả năng đẻ nhánh của các giống lúa cải tiến trong điều kiện canh tác bình thường thành 5 mức:
- Khả năng đẻ nhánh rất cao trên 25 nhánh/khóm
- Khả năng đẻ nhánh tốt 20 đến 25 nhánh/khóm
- Khả năng đẻ nhánh trung bình 10 đến 19 nhánh/khóm
- Khả năng đẻ nhánh thấp 5 đến 9 nhánh/khóm
- Khả năng đẻ nhánh rất thấp <5 nhánh/khóm
1.2.5 Lá lúa
Trên thân chính lúa có bao lá mầm, lá nguyên thuỷ chỉ
có bẹ lá không có phiến lá và lá hoàn chỉnh Một lá hoàn
chỉnh gồm bẹ lá, phiến lá, lưỡi lá, cổ lá và tai lá, lá được mọc
từ các đốt Phần từ bẹ lá gắn với thân mở ra hình thành bản lá
gọi là cổ lá
Số lá trên thân chính lúa có khoảng 12 - 18 lá tuỳ theo
giống, những giống thời gian sinh trưởng ngắn số lá từ 12 - 15
lá, những giống thời gian sinh trưởng dài có 16 - 18 lá
Cấu tạo lá dạng lưỡi mác, trên mặt gân lá xếp song
song và ổn định về số lượng gân Lông trên lá là một đặc
điểm đặc thù của giống, mật độ và chiều dài của lớp lông
không khác nhau lớn giữa các loại lá trong cùng một cây Góc
độ lá và độ uốn cong của lá rất khác nhau đổi với mỗi giống
và loài
Tác giả Nguyễn Văn Hiển cho rằng có thể phân làm ba nhóm dựa trên góc độ lá đòng:
- Góc lớn: Góc độ lá đòng > 60o,
- Góc trung bình: Góc độ lá đòng từ 30 – 59o,
- Góc nhỏ: Góc độ lá đòng < 29o Góc độ lá của giống địa phương rất lớn, xoè ngang nó là hạn chế của giống do sự che khuất của lá làm giảm khả năng quang hợp Một trong những yếu tố để giống cải tiến đạt năng suất cao đó là lá đứng, góc lá nhỏ (trung bình từ 5 – 15o), đặc điểm này giúp cây lúa tăng khả năng tiếp nhận ánh sáng và tăng khả năng quang hợp tạo ra lượng vật chất hữu cơ cao hơn
Màu sắc lá lúa rất đa dạng có màu xanh nhạt đến xanh đậm, một số giống lá có màu tím hoặc sọc tím Màu sắc lá cũng thay đổi mạnh theo môi trường đặc biệt thay đổi khi thay đổi chế độ nước, phân bón, nhiệt độ và ánh sáng
Chiều dài lá được tính từ gốc lá đến ngọn lá, những lá đầu thường có chiều dài ngắn hơn những lá sau và lá dài nhất là lá thứ 3 tính từ lá đòng xuống Chiều dài và chiều rộng lá đòng cũng như hình dạng lá là một tính trạng đặc thù của giống, đa số các giống lúa đều có bản
Hình 1.3 Cấu tạo lá lúa
Trang 77
lá phẳng, một số giống bản lá uốn cong còn gọi là lá uốn cong lòng mo như giống C70
Chiều dài lá đòng: được chia thành 3 mức (theo tác giả Nguyễn Văn Hiển)
- Nhóm lá đòng dài: > 35cm
- Nhóm lá đòng trung bình: 25 - 35cm
- Nhóm lá đòng ngắn: < 25cm
Chiều dài lá đòng các giống địa phương biến động từ 23 - 44cm, chiều rộng lá đòng trung bình biến động từ 1 - 2,5cm , thay đổi theo môi trường và kỹ thuật canh tác các giống cải
tiến lá đòng ngắn hơn
Trình tự ra lá: Khi lá thứ nhất bắt đầu mở, lá thứ 2 xuất hiện và khi lá thứ nhất mở hoàn toàn lá thứ hai nhú và bắt đầu mở Tốc độ ra lá phụ thuộc vào giống, mùa vụ và nhiệt độ môi
trường, nhiệt độ thích hợp khoảng 24 - 27oC
1.2.6 Cơ quan sinh sản
Cấu tạo hoa lúa: đốt cổ bông đến gốc bông hoa, trục bông, gié cấp 1, gié cấp 2, trên gié mang các hoa lúa
Mỗi hoa lúa được cấu tạo bởi vỏ trấu to, vỏ trấu nhỏ, râu, nhị, nhuỵ, mày hoa, đế hoa và cuống hoa Số hoa trên một bông biến động rất lớn từ vài chục hoa đến 400 hoa hoặc hơn tuỳ
giống và môi trường, điều kiện canh tác, trung bình số hoa trên một bông từ 70 đến 120 hoa
Cấu tạo hoa gồm: 2 vỏ trấu (vỏ trấu lớn
và vỏ trấu nhỏ), trên vỏ trấu thường có các
đường gân và rãnh, đường gân và rãnh sâu hay
lớn tuỳ thuộc giống Ngoài những gân và rãnh
trên vỏ trấu có lớp lông và gai nhỏ, đặc điểm
này là một cấu tạo có tác dụng bảo vệ hạt và
hoa, mật độ lông dày hay thưa, dài hay ngắn là
một đặc điểm di truyền của giống Nhiều giống
trên đầu vỏ trấu có râu đặc biệt là các giống lúa
thuộc loài phụ Japonica
Hình dạng hoa và kích thước hoa lúa
hình thành nên hình dạng kích thước hạt thóc
và gạo sau này Hoa thường có màu xanh nhạt
như các giống cải tiến hiện nay Q5, khang dân,
Trong một hoa lúa có 6 nhị đực (gồm chỉ nhị và bao phấn), vỏ bao phấn cấu tạo chủ yếu
là cellulose và một bao phấn cấu tạo hai mảnh vỏ, trong bao phấn chứa hạt phấn
Nhụy phân thành hai nhánh có hình dạng như hai cái chổi lông là các núm nhụy, với cấu tạo này nhụy dễ dàng nhận được phấn khi phấn chín rơi xuống đầu nhụy Bầu nhụy chứa
túi phôi, trong túi phôi chứa nhân đối cực, nhân phân cực, và tế bào trứng
Sau thụ phấn, thụ tinh mỗi hoa phát triển thành một hạt thóc vẫn mang đặc điểm về kích thước, hình dạng của hoa Đặc điểm này rất quan trọng đối với chất lượng hạt, đặc biệt là chất
lượng thị trường vì dạng hạt thóc quyết định dạng hạt gạo, tuy nhiên màu sắc hạt gạo không
hoàn toàn như màu sắc vỏ trấu nhưng hình dạng và kích thước hạt thóc là quyết định hình dạng
và kích thước hạt gạo
Trang 88
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Cây lúa có nguồn gốc từ đâu? Phân loại cây lúa?
2 Trình bày đặc điểm các bộ phận cây lúa?
3 Nêu cấu tạo hoa lúa?
Trang 99
Chương 2 YÊU CẦU SINH THÁI VÀ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN
CỦA CÂY LÚA 2.1 NHIỆT ĐỘ VỚI SỰ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA CÂY LÚA
Chế độ nhiệt ảnh hưởng lớn nhất không chỉ đến quá trình sinh trưởng phát triển của lúa
mà nó còn ảnh hưởng đến kiểu sinh trưởng của cây lúa Trong thời gian sinh trưởng của lúa nhiệt độ trung bình, tổng nhiệt độ, phạm vi chênh lệch nhiệt độ ngày đêm, thay đổi nhiệt độ ban ngày hoặc tổng hợp của các yếu tố trên đều có tương quan đến năng suất và chất lượng hạt (Moomaw và Vergara, 1965) Nhiệt độ nguyên lý cho nảy mầm, đẻ nhánh, ra hoa, chín được trình bày ở bảng sau:
Nguồn Yoshida,1978
Nhiệt độ cho đẻ nhánh tối ưu là 32-34oC Miền Trung và Đồng Bằng Sông Cửu Long thường mức nhiệt độ này ở vụ mùa Đồng Bằng Sông Hồng vụ mùa cũng có một số ngày đạt được mức nhiệt độ này trong thời kỳ đẻ nhánh
Các giai đoạn sinh trưởng khác nhau yêu cầu nhiệt độ khác nhau, nhìn chung nhiệt độ giai đoạn chín thấp hơn cho năng suất cao hơn, bởi vì nhiệt độ thấp giai đoạn này có nghĩa là keo dài thời gian tích luỹ vào hạt
2.1.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ thấp
Nhiệt độ thấp gây hại đến cây lúa ở vùng nhiệt độ thấp và Châu Á (Kaneda,1972), nhiệt
độ thấp là điều kiện bất lợi cho sản xuất lúa
Giai đoạn mẫn cảm với nhiệt độ thấp là giai đoạn nở hoa và giai đoạn sau phân bào giảm nhiễm gây ra bất dục (Satake và Hayase, 1970) Nhiệt độ thấp 15 - 17oC gây bất dục ở những giống chịu lạnh và 17 - 19oC ở những giống kém chịu lạnh trong giai đoạn phân bào giảm nhiễm Tóm lại nhiệt độ thấp 15 - 20oC trong giai đoạn này gây ra bất dục và tỷ lệ lép cao đối với lúa
Nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước tưới thấp đều ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và sản xuất lúa, biểu hiện của lúa bị hại do nhiệt độ thấp:
- Tỷ lệ nảy mầm thấp
Trang 1010
- Sinh trưởng chậm và biến màu lá mạ
- Sinh trưởng còi cọc, giảm chiều cao và khả năng đẻ nhánh
- Trỗ chậm
- Không trỗ thoát
- Nở hoa kéo dài bởi vì trỗ không đều
- Suy thoái hoa
- Chín không đều
- Bất dục
- Tỷ lệ lép cao Miền Bắc và Bắc Trung Bộ nhiệt độ thấp đầu vụ xuân là một trở ngại cho sản xuất lúa, khó khăn trong làm mạ Nhiệt độ thấp đặc biệt ảnh hưởng đến sản xuất lúa vụ xuân ở các tỉnh miền núi phía Bắc, vì vùng này nhiệt độ thấp hơn và kéo dài Nhiệt độ thấp ngoài gây chết mạ còn kéo dài thời gian sinh trưởng của lúa vụ xuân và như vậy chậm hoặc ảnh hưởng đến thời
vụ của vụ mùa
Ngày nay đã có nhiều tiến bộ kỹ thuật như các giống lúa ngắn ngày gieo cấy vụ xuân muộn, kỹ thuật làm mạ như mạ sân, mạ dapo, mạ tunnel chống rét cho mạ đã hạn chế được thiệt hại do chết mạ trong vụ xuân Những năm trời rét đậm, kéo dài và rét muộn vẫn còn gây ảnh hưởng đến sản xuất lúa vụ xuân sớm và xuân muộn
2.1.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ cao
Nhiệt độ cao ảnh hưởng đến quá trình vào chắc của hạt, khi nhiệt độ cao cũng gây ra bất dục và tỷ lệ lép cao, giai đoạn trỗ của lúa là giai đoạn mẫn cảm nhất đối với nhiệt độ cao (Satake và Yoshida, 1978)
Nhiệt độ cao giai đoạn trước trỗ ảnh hưởng mạnh và có tương quan giữa số ngày nhiệt
độ cao trước và sau trỗ với tỷ lệ đậu hạt Khi nhiệt độ cao 5 ngày liên tục sẽ cho tỷ lệ đậu hạt 75% nếu mỗi ngày 4 giờ có nhiệt độ 35oC, nếu 38oC trong 4 giờ tỷ lệ đậu hạt giảm còn 55% và nếu tăng lên 41oC trong 2 giờ tỷ lệ đậu hạt chỉ còn 15%
Các giống khác nhau phản ứng với nhiệt độ cao khác nhau Satake và Yoshida (1977) thí nghiệm 2 giống CT80 và CT50 ở nhiệt độ cao, giống CT80 có tỷ lệ đậu hạt là 80% còn giống CT 50 tỷ lệ thấp hơn chỉ đậu hạt 50% trong cùng một điều kiện nhiệt độ Nhiệt độ tối đa thông thường là 35 - 41oC
Nhiệt độ cao trong thời gian nở hoa thiệt hại nhất đến tỷ lệ đậu hạt sau đó đến trước nở hoa và thiệt hại thấp nhất là nhiệt độ cao sau nở hoa Như vậy hai vấn đề để khắc phục nhiệt độ cao là giống chống chịu và giống có thời điểm nở hoa phù hợp, tập trung vào buổi sáng
2.2 ÁNH SÁNG VỚI SỰ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA CÂY LÚA
2.2.1 Bức xạ
Bức xạ mặt trời là bức xạ năng lượng từ mặt trời được đo bằng cal/cm2/giờ, ghi nhận bức xạ bằng độ dài bước sang phần nhìn thấy (380 – 720nm) của tổng số lượng năng lượng cho quang hợp Trong thời kỳ chín của cây trồng ở vùng nhiệt đới lượng bức xạ tập trung và đạt trung bình khoảng 350 cal/cm2/ngày Lúa trồng vào mùa khô trong điều kiện có tưới sẽ có
thể có lượng bức xạ lớn hơn mùa mưa