1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Giáo trình lịch sử mỹ thuật việt nam (ngành hội họa) trường cao đẳng lào cai

20 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình lịch sử mỹ thuật Việt Nam (ngành hội họa) - Trường Cao đẳng Lào Cai
Tác giả Hà Thị Minh Chính
Trường học Trường Cao đẳng Lào Cai
Chuyên ngành Hội họa
Thể loại giáo trình
Năm xuất bản 2019
Thành phố Lào Cai
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 848,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI TRỪỜNG CAO ĐẲNG LÀO CAI GIÁO TRÌNH NỘI BỘ MÔN HỌC LỊCH SỬ MỸ THUẬT VIỆT NAM NGÀNH/CHUYÊN NGÀNH HỘI HỌA Lào cai, năm 2019 2 TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN Tài liệu này thuộc loại sác[.]

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

TRỪỜNG CAO ĐẲNG LÀO CAI

GIÁO TRÌNH NỘI BỘ MÔN HỌC: LỊCH SỬ MỸ THUẬT VIỆT NAM NGÀNH/CHUYÊN NGÀNH: HỘI HỌA

Lào cai, năm 2019

Trang 2

TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN

Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình trên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo

Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm

Trang 3

LỜI GIỚI THIỆU

Môn học có nhiệm vụ trang bị cho người học những kiến thức và sự hiểu biết về tiến trình hình thành và phát triển của Mỹ thuật từ thời nguyên thủy đến hiện đại của Việt Nam, giúp sinh viên cảm thụ các giá trị mỹ thuật qua các thời kỳ, tác giả - tác phẩm tiêu biểu, khơi dậy năng lực cảm thụ, đánh giá, niềm tự hào về những thành tựu của mỹ thuật Thông qua các tác phẩm mỹ thuật được hình thành trong quá trình lịch sử, người học lĩnh hội và thẩm thấu về tinh thần nghệ thuật, phong cách, bút pháp và các biểu hiện tạo hình đa dạng trong mỹ thuật, từ đó có khả năng vận dụng, phát huy các giá trị và được tinh hoa trong học tập và sáng tạo mỹ thuật

Lào cai, năm 2019 Người biên soạn

Hà Thị Minh Chính

Trang 4

MỤC LỤC

Chương 1: Mỹ thuật thời nguyên thuỷ và thời đại dựng nước 6

1 Mỹ thuật thời nguyên thuỷ và thời đại dựng nước 6

1.1 Mỹ thuật thời đồ đá (tiền sử) đến thời sơ sử (kim khí) 6

Một vài nét về lịch sử thời nguyên thủy ở Việt Nam 6

Thời kỳ đồ đá cũ 6

Thời kỳ đồ đá giữa 7

Thời kỳ đồ đá mới 7

Quá trình phát triển của mĩ thuật nguyên thủy 8

1.2 Đặc điểm của mĩ thuật nguyên thủy Việt Nam 9

1.3 Mỹ thuật thời đại dựng nước 10

1.3.1 Khái quát chung 10

1.3.2 Mĩ thuật thời kỳ dựng nước 11

Chương 2: MĨ THUẬT THỜI KỲ PHONG KIẾN DÂN TỘC ĐỘC LẬP 14

2 Mỹ thuật thời kỳ phong kiến dân tộc độc lập 14

2.1 Mĩ thuật thời Lý (1009 - 1225) 14

Khái quát chung 14

2.1.1 Thành tựu mĩ thuật thời Lý 14

2.1.2 Đặc điểm mĩ thuật thời Lý 21

2.2 Mĩ thuật thời Trần (1226 - 1400) 21

2.2.1 Thành tựu mỹ thuật thời Trần 21

2.2.2 Đặc điểm chung 26

2.3 Mỹ thuật thời Lê 27

2.3.1 Hoàn cảnh xã hội thời Lê 27

2.3.2 Thành tựu mỹ thuật thời Lê 27

2.4 Mĩ thuật thời Nguyễn (1802 - 1885) 35

2.4.1 Hoàn cảnh xã hội 35

2.4.2 Thành tựu mĩ thuật thời Nguyễn 35

Chương 3 Mỹ thuật việt nam từ 1885 đến nay 39

3 Mỹ thuật việt nam từ 1885 đến nay 39

3.1 Mỹ thuật thời kỳ Pháp thuộc (1885 – 1945) 39

3.1.1 Thành tựu Mỹ thuật 39

Mĩ thuật giai đoạn 1930 đến 1945 41

3.1.2 Những chất liệu mới trong hội họa 41

3.2 Mĩ thuật Việt Nam thời hiện đại từ 1945 đến nay 45

3.2.1 Thành tựu Mỹ thuật 45

3.2.2 Những hình tượng nghệ thuật thành công 47

Trang 5

CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC

Tên môn học: Lịch sử mỹ thuật Việt Nam

Mã môn học: MH10

Vị trí, tính chất của môn học

- Vị trí: Thực hiện trước các mô đun Vẽ bố cục tranh phong cảnh; Vẽ bố cục tranh sinh hoạt

- Tính chất: Môn cơ sở ngành

Mục tiêu môn học

- Về kiến thức

+ Trình bày được quá trình hình thành và phát triển của nền Mỹ thuật Việt Nam Đặc điểm mỹ thuật Việt Nam thời kỳ Nguyên Thủy, thời phong kiến, thời Pháp thuộc và từ cách mạng tháng 8 - 1945 đến nay

+ Phân tích bối cảnh lịch sử và các công trình, tác phẩm nghệ thuật để khẳng định được bản sắc dân tộc độc đáo, đa dạng và truyền thống nghệ thuật lâu đời của dân tộc Việt Nam

- Về kỹ năng

+ Sinh viên hiểu biết đầy đủ chính xác những thành tựu sáng tạo Mỹ thuật của từng giai đoạn lịch sử, nắm vững đặc điểm, phong cách, giá trị tạo hình, biểu hiện bản sắc dân tộc Việt Nam

- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm

+ Tham gia tích cực vào các giờ giảng

+ Có khả năng tự ngiên cứu tài liệu liên quan

+ Trân trọng những thành tựu mỹ thuật qua các thời kỳ, nghiêm túc, cầu thị

Trang 6

Chương 1: Mỹ thuật thời nguyên thuỷ và thời đại dựng nước

Giới thiệu:

- Trang bị những kiến thức cơ bản về quá trình hình thành và phát triển của nền Mỹ thuật Việt Nam Mỹ thuật Việt Nam thời kỳ Nguyên Thủy, thời đại dựng nước.Thông qua phân tích bối cảnh lịch sử và các công trình, tác phẩm nghệ thuật để khẳng định bản sắc dân tộc độc đáo, đa dạng và truyền thống nghệ thuật lâu đời của dân tộc Việt Nam

Mục tiêu:

- Phân tích, nhận xét tác phẩm mĩ thuật nguyên thủy, thời đại dựng nước

- Hiểu và thuyết trình được về mĩ thuật nguyên thủy và thời đại dựng nước

- Cùng với việc phân tích, tìm hiểu các tác phẩm mĩ thuật, sinh viên hiểu được truyền thống nghệ thuật, tăng thêm lòng say mê tìm hiểu mĩ thuật dân tộc Trên cơ sở đó biết phát huy tinh hoa dân tộc trong sáng tạo nghệ thuật và trong giảng dạy bộ môn Mĩ thuật sau khi ra trường

Nội dung chính:

1 Mỹ thuật thời nguyên thuỷ và thời đại dựng nước

1.1 Mỹ thuật thời đồ đá (tiền sử) đến thời sơ sử (kim khí)

Một vài nét về lịch sử thời nguyên thủy ở Việt Nam

Thời nguyên thủy là thời kỳ đầu tiên của xã hội loài người Theo khảo cổ học thời kỳ nảy sinh và phát triển cảu công xã nguyên thủy chính là thời đại đồ đá Ngoài ra thời

kỳ nguyên thủy còn đồng nghĩa với thời tiền sử, thời kỳ chưa hình thành và ra đời lịch

sử thành văn Các nhà khảo cổ học đã chia thời kỳ đồ đá ra làm ba giai đoạn: Thời kỳ

đồ đá cũ - Thời kỳ đồ đá giữa và thời kỳ đồ đá mới

Thời kỳ đồ đá cũ

Di tích núi Đọ - Thanh Hóa được xếp vào sơ kỳ đồ đá cũ Đây là nơi cư trú của người Việt cổ, đồng thời cũng là nơi chế tạo các công cụ bằng đá thô sơ Đó là những mảnh tước, công cụ chặt, rìu tay, nạo… Thời kỳ này cách chúng ta hàng mấy chục vạn năm

và là thời kỳ tổ chức xã hội đang hình thành Trải qua quá trình phát triển, con người dần bước vào chế độ thị tộc nguyên thủy Để có thể tồn tại trong điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên, con người phải tụ họp lại với nhau, sống thành những bầy đàn người trong các hang động tự nhiên Với công cụ bằng đá thô sơ, họ sống chủ yếu bằng săn bắt, hái lượm

Trang 7

Hình 1.1

Kỹ thuật chế tác đồ đá đã tiến lên một bước, thời kỳ ở núi Đọ người nguyên thủy dùng

đá bazan để chế tạo công cụ lao động, về sau họ dùng đá cuội tìm được ở bãi sông Những viên đá cuội được ghè đẽo cẩn thận trở thành các công cụ lao động có hiệu quả hơn so với thời kỳ trước Thời kỳ này được gọi là văn hóa Sơn Vi (thuộc xã Sơn Vi, huyện Sông Thao, tỉnh Phú Thọ) và cũng là giai đoạn cuối của thời kỳ đá cũ cách ngày nay khoảng 1 vạn năm đến 18.000 năm

Thời kỳ đồ đá giữa

Sau văn hóa Sơn Vi, người Việt cổ bước vào thời kỳ đồ đá giữa, tương đương với nền văn hóa Hòa Bình Ngoài cuộc sống săn bắn và hái lượm, các cư dân Hòa Bình đã biết làm nông nghiệp Con người thời này đã biết làm lều, dựng nhà ở cửa hang và gần sông suối Nền văn minh nông nghiệp cũng bắt đầu từ đây Tín ngưỡng tôn giáo có lẽ cũng bắt đầu xuất hiện với hình thức sơ khai nhất là Tô tem giáo (thờ vật tổ)

Thời kỳ đồ đá mới

Thời kỳ đồ đá mới bắt đầu vào khoảng thiên niên kỉ VI TCN Địa bàn cư trú của người Việt cổ lan rộng từ miền núi tới miền biển, từ trung du tới đồng bằng Những công cụ bằng đá cuội khonog chỉ được ghè đẽo mà còn được mài, rồi tra cán, năng xuất lao động tăng lên rõ rệt Cuộc sống vật chất phát triển đã kéo theo cuộc sống tinh thần Đồ trang sức được chế tác trên nhiều chất liệu phong phú như vỏ ốc, đất nung, vỏ trai,…nghề thủ công phát triển ngoài ra con người thời này còn biết dệt vải

Hình 1.2

Trang 8

Trong các mộ cổ được khai quật, có nhiều công cụ lao động được chôn theo, chứng tỏ

tư duy của người nguyên thủy đã tiến lên một bước đáng kể là họ tin vào một thế giới khác nữa ngoài cuộc sống thực tại

Thời kỳ đồ đá mới là giai đoạn cuối của thời nguyên thủy Tư duy của con người phong phú hơn, đời sống ổn định lâu dài hơn Tất cả những điều này chuẩn bị cho sự

ra đời một chế độ xã hội mới với sự hình thành Nhà nước ở giai đoạn sơ khai nhất

Quá trình phát triển của mĩ thuật nguyên thủy

Thời kỳ nguyên thủy có lẽ là thời kỳ dài nhất trong lịch sử phát triển của xã hội loài người Đồng thời sự phát triển của xã hội cũng chậm chạp nhất Mặc dù vậy con người cùng với sự tiến bộ về vật chất cũng dần nhích dần lên đời sống thẩm mĩ Thời kỳ đồ

đá giữa xuất hiện những hình khắc đầu tiên, mở đầu cho một nền mĩ thuật phát triển sau này

Mĩ thuật ở thời kỳ đồ đá giữa (cách ngày nay khoảng 1 triệu năm) Thuật ngữ văn hóa Hòa Bình chỉ chung văn hóa cả vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam với những

di tích khảo cổ ở Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Bình

Trong nhiều di chỉ thuộc nền văn hóa Hòa Bình chúng ta dã tìm thấy được những dấu hiệu mĩ thuật đầu tiên Mặc dù đó chỉ là những hình khắc đơn giản về nội dung và bằng trình độ tạo hình sơ khai nhưng sự xuất hiện của những hình khắc đó đã khẳng định sự ra đời nền nghệ thuật tạo hình của người Việt cổ

Thời kỳ này con người vẫn ở trong hang động Nghệ thuật văn hóa Hòa Bình cũng cũng chính là nghệ thuật hang động Mới đầu chỉ là những hình vẽ rời rạc, phải đến các hình khắc trong hang Đồng Nội thuộc xã Đồng Tâm, huyện lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình, chúng ta mới được chứng kiến những tác phẩm hoàn chỉnh hơn Đó là hình ba mặt người và một mặt thú

Thời kỳ đồ đá mới (cách ngày nay khoảng 5000 năm) cũng để lại dấu vết của nhiều nền văn hóa: văn hóa Bắc Sơn, văn hóa Quỳnh Lưu, văn hóa Bàu Tró, văn hóa Hạ Long…Họ có kỹ thuật chế tác đồ đá, đồ gốm tương tự như nhau Trên cơ sở đó nghệ thuật tạo hình cũng phát triển

Thời kỳ này người nguyên thủy đã biết làm đồ gốm, và phát triển nhiều kiểu dáng cũng như nhiều hoa văn trang trí như hoa văn khắc vạch, dấu vặn thừng, hoa văn song song,…có các tác phẩm đơn giản như hình chạm trên viên cuội dài 10cm ở Động Kỵ (Thái Nguyên) Trên viên cuội có hình khắc ở cả hai mặt Mặt này là những hình học, chủ yếu là hình vuông được sắp xếp như một mặt người vẽ theo kiểu kỉ hà Mặt kia là một chân dung người đã chi tiết mắt, mũi, miệng được tạo bởi những chấm chấm Tuy đơn giản nhưng rất chuẩn xác, có biểu cảm

Trang 9

Hình 1.3

Hình 1.4

1.2 Đặc điểm của mĩ thuật nguyên thủy Việt Nam

- Về loại hình: Trong giai đoạn sơ khai này của mĩ thuật, chúng ta mới tìm được một

số tác phẩm chạm khắc trên chất liệu đá, đất, xương thú Căn cứ trên hiện vật tìm được cho đến ngày nay, ta chưa thấy có nghệ thuật hội họa hoặc điêu khắc tượng tròn Bên cạnh các hình chạm khắc, đến cuối thời đá mới, nghệ thuật đồ gốm và trang trí trên đồ gốm phát triển đã để lại nhiều hoa văn đơn giản nhưng phong phú về thể loại

- Về đề tài, nội dung: Hình chạm khắc chủ yếu đi vào đề tài chân dung con người hoặc khái quát hình tượng đầu thú Một số tác phẩm mang tính trang trí và tượng trưng đề cập tới đề tài thiên nhiên Họa tiết trang trí phong phú hơn, song đều bắt nguồn từ hiện

Trang 10

thực sinh động của cuộc sống: dấu nan đan, vân tay, sóng nước, vặn thừng, răng lược, khắc vạch,…

- Về cách thể hiện: Có thể người nguyên thủy dùng que để khắc vạch lên đồ gốm, vật sắc nhọn để tạo lên những hình khắc trên đá, mảnh xương,…Bước đầu họ đã bộc lộ được những khả năng quan sát, khái quát sự vật Các hoa văn trang trí thể hiện khả năng khái quát và cách điệu của người nguyên thủy từ những quan sát chính xác trong cuộc sống

Hình1.5

1.3 Mỹ thuật thời đại dựng nước

1.3.1 Khái quát chung

Trải qua một thời gian lao động lâu dài, các tộc người nguyên thủy ngày càng phát triển đông đúc hơn Trình độ canh tác và chế tác đồ đá, đồ gốm đạt trình độ cao Lao động và sáng tạo đã giúp các tộc người nguyên thủy Việt Nam phát triển trên một địa bàn khá rộng và thống nhất Theo quy luật phát triển, thời nguyên thủy đã nhường chỗ cho thời kỳ văn minh ở hình thức nhà nước sơ khai nhất ra đời ở Việt Nam Đó là thời

kỳ của nền văn minh sông Hồng hay còn gọi là nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc Bắt đầu từ thời đại dồng thau đến sơ kỳ đồ sắt với sự hình thành nhà nước Văn Lang (tồn tại 18 đời Vua Hùng) và nàh nước Âu Lạc do An Dương Vương đứng đầu tồn tại từ khoảng đầu thế kỷ III TCN đến năm 179 TCN

Thời đại dựng nước được chia làm bốn giai đoạn tương đương với bốn nền văn hóa: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun và Đông Sơn

- Di chỉ Phùng Nguyên thuộc Lâm Thao - Phú Thọ, xuất hiện vào khoảng nửa đầu thiên niên kỉ II TCN Thời này có nhiều công cụ đá phong phú về loại hình, số lượng,

Trang 11

- Văn hóa Gò Mun (Phong Châu - Phú Thọ) tồn tại nửa đầu thiên niên kỉ I TCN Giai đoạn này kĩ thuật luyện kim phát triển

- Văn hóa Đông Sơn ( Thanh Hóa) cách ngày nay khoảng 2800 đến 2000 năm Thời kỳ này kĩ thuật đúc đồng, luyện kim đạt trình độ cao Trống đồng Đông Sơn là ví dụ tiêu biểu cho trình độ đúc đồng và thẩm mĩ của giai đoạn này

1.3.2 Mĩ thuật thời kỳ dựng nước

- Khảo cổ học phát hiện tượng người bằng đá ở Văn Điển, cao khoảng 3,6cm, toàn bộ tượng được tạo ra từ một khối, có bố cục thống nhất theo chiều dài Tay hầu như không có, đầu mình trên một đường thẳng, hai chân khép đưa về phía trước Những chi tiết như đầu, thân, mông tương đối hài hòa về tỉ lệ, phần đầu, mặt, giới tính nam được chú ý diễn tả

- Tượng người thổi khèn trên cán muôi Việt Khê - Hải Phòng cũng là một hiện vật quý Chiếc muôi dài 17,8cm, được tạo dáng thanh thoát, cân đối, mềm mại với cán muôi mảnh, cong cuộn tạo thành những vòng tròn đồng tâm ở điểm kết thúc Và nó được hoàn thiện hơn khi có một pho tượng nhỏ gắn ở phần cán muôi Đó là tượng một người đàn ông ngồi thổi khèn Một đầu khèn đặt trên chân, đầu kia dựa vào vòng tròn nơi cán muôi Tượng tuy nhỏ nhưng được làm khá chi tiết Tượng ngồi với tỉ lệ khá cân đối, tóc búi cao Khối mặt được diễn tả kĩ, biểu hiện đặc điểm của người Việt Cổ Tượng được gắn với chiếc muôi như một phần hữu cơ không thể thiếu vừa như một chi tiết trang trí cho chiếc muôi đẹp hơn, hoàn thiện hơn

- Ngoài ra còn rất nhiều tượng khác như tượng trên cán dao găm, tượng người làm giá

đỡ đèn,… nghệ thuật thời kỳ này thường gắn với cái có ích, là một phần của công cụ hay mang tính trang trí

- Tiêu biểu cho nền văn hóa Đông Sơn là trống đồng Đây là loại nhạc cụ thường được dùng trong các lễ hội, các cuộc tế lễ, ca múa…Trống đồng còn là một tác phẩm mĩ thuật độc đáo của dân tộc ta Ở đó có vẻ đẹp về hình dáng, tỷ lệ và các hình hoa văn trang trí được cách điệu cao, phong phú về thể loại

- Trống đồng Đông Sơn có sự thống nhất trong trang trí Phần mặt trống được trang trí bằng nhiều hoa văn phong phú Trong cùng thường là một ngôi sao có nhiều cánh, biểu tượng cho mặt trời, giữa các cánh sao là hoa văn lông công Từ trung tâm tỏa ra là các vành hoa văn hình học như hoa văn hình tròn tiếp tuyến, hình chữ S gấp khúc…Đáng chú ý là trên mặt trống đồng Ngọc Lũ là ba vành hoa văn diễn tả các sinh hoạt của người, chim, thú Tất cả nối nhau cùng chuyển động theo hướng ngược chiều kim đồng hồ Ngoài cùng được nhắc lại 5,6 vành hoa văn hình học bố trí cân đối

- Hoa văn trang trí trên đồ gốm: Cùng với sự phát triển của xã hội thời Đông Sơn, nghề làm gốm cũng được phát triển thêm một bước Bàn xoay được sử dụng để làm gốm Từ chỗ phát hiện ra đồ gốm một cách ngẫu nhiên, đến đây con người đã tạo hình dáng phong phú cho đồ gốm và nung trong lò chuyên dụng tạo ra loại gốm có xương cứng, bề mặt mịn màng hơn Đồ gốm thời kỳ này đa dạng về kiểu dáng, chủng loại từ nồi, chậu, bát, thạp, bình, vò, cốc đến dọi xe chỉ hòn kê, bi… Tuy vậy, đồ gốm cũng

Ngày đăng: 27/02/2023, 07:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm