Một số giải pháp nâng cao thu nhập cho người dân huyện Thanh Liêm
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vấn đề lao động việc làm và thu nhập là một vấn đề luôn luôn mangtính thời sự với bất kỳ quốc gia nào, bất kỳ địa phương và với bất kỳ cá nhânlao động nào…Trong điều kiện phát triển của nước ta hiện nay thì vấn đề việclàm và thu nhập của lao động là vấn đề rất đáng quan tâm của toàn xã hội vàvới thực tế nước ta đang trong quá trình Công nghiệp hoá hiện đại hoá đấtnước để đảm bảo được các mục tiêu phát triển mà xã hội đã đặt ra và giảiquyết các vấn đề việc làm, nâng cao thu nhập và để thu hẹp khảng cách giữacách giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động thành thị và lao động nôngthôn là việc làm hết sức cần thiết Với thực tế nước ta lao động nông nghiệp,nông thôn còn chiếm tỷ trọng cao trong tổng số lao động của cả nước và đặcbiệt chất lượng lao động trong khu vực này còn rất thấp, từ đó dẫn tới thunhập còn thấp, cuộc sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn…và trongquá trình phát triển của Đất nước thì Đảng và Nhà nước ta đã có những chínhsách để đẩy mạnh việc phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta… Vì những
lý do trên em thấy vấn đề lao động, việc làm, thu nhập của người lao độngnông thôn là một vấn đề luôn mang tính thời sự và cần được nghiên cứu giảiquyết cho phù hợp với quá trình phát triển, vậy em xin chọn đề tài cho thựctập tốt nghiệp của mình là “Thực trạng lao động và một số giải pháp nâng caothu nhập cho người lao động huyện Thanh Liêm” để hiểu thêm về vấn đề này
2 Mục đích nghiên cứu:
Đề tài được nghiên cứu với mục đích tìm hiểu thực trạng lao động, việclàm và thu nhập của lao động địa phương, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằmcải thiện tình hình thu nhập hiện nay cho lao động tại địa phương nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Trang 2Đối tượng nghiên cứu là vấn đề lao động, việc làm và thu nhập củangười dân nông thôn Phạm vi nghiên cứu là người lao động của huyện ThanhLiêm, một huyện của tỉnh Hà Nam.
4 Nội dung nghiên cứu:
Nội dung của đề tài là đi tìm hiểu về thực trạng vấn đề lao động củangười dân huyện Thanh Liêm nói riêng như thế nào và từ đó đưa ra một sốgiải pháp để nâng cao thu nhập cho người dân huyện Thanh Liêm
5.Phương pháp nghiên cứu: trong quá trình nghiên cứu đề tài của mình
em có sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp duy vật biệnchứng, phương pháp duy vật lịch sử, thống kê phân tích…
6.Kết cấu của chuyên đề: Chuyên đề gồm 3 chương với nội dung như sau: Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về lao động việc làm, thu nhập Chương 2: Thực trạng lao động và thu nhập của người dân huyện Thanh Liêm.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao thu nhập cho người dân huyện Thanh Liêm.
CHUƠNG 1 MỘT Số VẤN Đề LÝ LUẬN CHUNG Về LAO ĐỘNG
VIỆC LÀM,THU NHẬP
1 Khái niệm, vai trò và đặc điểm của lao động nông thôn
1.1 Khái niệm về lao động ,việc làm.
1.1.1 Các khái niệm về lao động
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người nhằm tạo ra củacải vật chất và các giá trị tinh thần khác để thoả mãn nhu cầu của bản thân và
xã hội, là hoạt động gắn liền với sự hình thành pgát triển của loài người Laođộng có năng suất, chất lượng , hiệu quả là nhân tố quyết định sự tăng trưởng
Trang 3của xã hội Chính vì vậy lao động được coi là hoạt động chủ yếu , là quyền vànghĩa vụ của con người và chúng ta có thể nói rằng : lao động là vinhquang Theo thời gian lao động ngày càng phát triển theo hướng chuuyên mônhoá và hợp tác hoá Nhờ đó ,từ nhiều thế kỷ nay đã hình thành bộ môn khoahọc riêng gọi là khoa học lao động , từ đây chúng ta thấy được vai trò và vị tríquân trọng của lao động
Tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu và góc độ phân tích, lao động đượcphân loại thành :
- Lao động trực tiếp và lao động gián tiếp Lao động trực tiếp là sảnxuất ra sản phẩm bao gồm lao động công nghệ và lao động phụ trợ Lao độnggián tiếp sản xuất là lao động quản lý và phục vụ quản lý để đảm bảo quátrình liên tục có hiệu quả
-Lao động giản đơn và lao động phức tạp Lao động giản đơn là laođộng không cần qua dào tạo , tập huấn chuyên môn hoặc nếu có cũng ở mứcthấp Nó là sự hao phí sức lao động của người không có trình độ chuyênmôn, lao động không thành thạo còn lao động phức tạp là lao động của người
đã qua tập huấn chuyên môn
- Lao động cụ thể và lao động trừu tượng Lao động cụ thể là lao độngnhằm mục đích nhất định , lao động tạo ra giá trị sử dụng cần phải có nhữngloại lao động nhất định, sự phân biệt các loại lao động căn cứ vào phươngpháp lao động , công cụ lao động và kết quả lao động Lao động trừu tượng
là lao động xã hội, tính chất xã hội biểu hiện ra quá trình trao đổi Trong điềukiện sản xuất hàng hoá dựa trên chế đọ tư hữu, mâu thuẫn giữa lao động trừutượng và lao động cụ thể phản ánh giữa lao động tư nhân và lao động xãhội…
Trang 4Tóm lại lao động là tất cả những hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp củacon người nhằm tạo ra của cải vật chất cho xã hội, các hoạt động này đượcpháp luật quy định và bảo vệ.
Trong khái niệm lao động còn có khái niệm vê nguồn lao động Nguồnlao động là phạm trù phản ánh lực lượng quan trọng nhất của nền sản xuất xã
hội Theo từ điển thống kê : Nguồn lao động xã hội là toàn thể những thành viên trong xã hội có khả năng tham gia lao động , bao gồm : những người theo quy định của Nhà nước ở trong độ tuổi lao động , có khả năng lao động
và những người theo quy định của Nhà nước ở ngoài độ tuổi quy định nhưng thực tế tham gia lao động
Nguồn lao động được biểu thị trên hai phương diện :số lượng nguồn laođộng và chất lượng nguôn lao động
- Số lượng nguồn lao động :Về nguyên tắc, đó là tổng số sức lao độngxét về mặt thể lực của người lao động với tư cáh là một yếu tố của quá trìnhlao động sản xuất Tuy nhiên con người với tư cách là yếu tố của quá trình laođộng còn là thành viên của xã hội tham gia các hoạt động xã hội, đảm bảo táisản xuất tự nhiên sức lao động Vì vậy, thể lực của con nguời được xem xétnhư là yếu tố cua sản xuất, kinh doanh theo những chừng mực nhất định, tuỳthuộc vào trhực trạng và thể lực của con người theo đặc tính chung, nhữngbiểu hiện cụ thể của từng người và thực trạng kinh tế của từng nước Chính vìvậy, số lượng sức lao động và số lượng nguồn lao động được đo bằng sốlượng người lao động theo những quy định Bộ phận quan trọng nhất củanguồn lao động là người lao động trong độ tuổi quy định gọi tắt là lao độngtrong độ tuổi Ở nước ta hiện nay quy định này đối với nam là tính từ 16 đến
60 và đối với nữ là từ 16 đến 55 , nhưng trong tương lai quy định này có thểđược thay đổi để phù hợp với thực tế công việc và tính chất công việc
Trang 5- Chất lượng nguồn lao động :Là phạm trù biểu hiện ở từng người laođộng nhưng có mối quan hệ tương tác trong phạm vi quốc gia, khu vực, vùnglao động, lãnh thổ…trên các mặt như: trình độ văn hoá, trình độ chuyên mônnghề nghiệp, trình độ tổ chức cuộc sống, các yếu tố về tâm lý, tập quánphẩmchất đạo đức, trình độ ý thức pháp luật…Như vậy chất lượng lao động chủyếu biểu hiện ở mặt trí lực và thể lực của người lao động
1.1.2 Một số khái niệm về việc làm.
Khái niệm “việc làm” và việc xác định số người có “việc làm” là vấn
đề có ý nghĩa quan trọng trong việc hoạch định cơ chế, chính sách quản lýnguồn nhân lực
Trong cơ chế thị trường, quan niệm về “việc làm” và người có “việclàm” khác căn bản với quan niệm trong cơ chế cũ “Việc làm” là một phạmtrù tổng hợp, “việc làm” và lao động liên quan chặt chẽ với nhau nhưngkhông hoàn toàn đồng nhất với nhau
Theo Bộ Luật Lao động nước ta, khái niệm “việc làm” được xác định là
“mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị luật pháp ngăn cấm”(Điều 13 - Bộ Luật Lao động) Như vậy không chỉ những người làm việctrong các ngành của nền kinh tế quốc dân, mà nhiều người khác cũng đượccoi là có việc làm, nếu họ gián tiếp góp phần tạo ra thu nhập
“Việc làm đầy đủ” là sự thoả mãn đầy đủ nhu cầu về việc làm của cácthành viên có khả năng lao động, nói cách khác là mỗi người có khả năng laođộng, muốn làm việc đều có thể tìm được việc làm trong thời gian ngắn
“Việc làm đầy đủ” mới chỉ đề cập về mặt số lượng, chưa tính đến yếu tốnguyện vọng, năng khiếu, sở trường, tức là chưa tính đến yếu tố hợp lý củaviệc làm
“Thiếu việc làm” là tình trạng có việc làm nhưng thời gian làm việcthấp hơn thời gian quy định và có nhu cầu làm thêm Thiếu việc làm còn thể
Trang 6hiện dưới dạng làm việc có năng suất và thu nhập dưới mức thu nhập tốithiểu Hiện nay tình trạng thiếu việc làm còn phổ biến ở khu vực ngoại thành
Hà Nội, hệ số thời gian sử dụng lao động thực tế ở khu vực này hiện khoảng
65 - 70%
“Việc làm hợp lý” là sự phù hợp về mặt số lượng và chất lượng của cácyếu tố con người và vật chất của sản xuất, là bước phát triển cao hơn của việclàm đầy đủ, “việc làm hợp lý” có năng suất lao dộng và hiệu quả kinh tế xãhội cao hơn
Hiện nay do nhiều người còn chưa có việc làm, nên chúng ta đang tậptrung giải quyết việc làm đầy đủ cho toàn dân, nhưng về lâu dài vẫn phải tínhđến giải quyết “việc làm hợp lý” để bảo đảm hiệu quả kinh tế xã hội ngàycàng cao hơn
“Người chưa có việc làm” là người có nhu cầu làm việc, hiện tại chưatìm được việc làm, hoặc trước đây đã từng có việc làm, đã có nghề nghiệpnhất định nhưng hiện do điều kiện, hoàn cảnh nào đó chưa tìm lại được việclàm Trong số này chủ yếu là số công nhân dôi ra do sự sắp xếp lại của cácdoanh nghiệp Nhà nước, những người hết hạn hợp đồng làm việc, học sinhcác trường chuyên nghiệp và dạy nghề ra trường chưa tìm được việc làm,người đi lao động ở nước ngoài trở về
Thực chất “người thất nghiệp” và “người chưa có việc làm” là cùngmột bản chất, chỉ khác nhau về cách phân chia có tính chất chi tiết của cùngmột chỉ tiêu, do đó có thể gọi chung “người thất nghiệp là người có nhu cầulàm việc nhưng không có việc làm, đang đi tìm việc làm”
Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, do sự tác động củacung - cầu về lao động, đặc biệt là do quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế,hiện tượng có “người thất nghiệp” là không tránh khỏi, nó phản ánh một thực
tế của quá trình sắp xếp lại của một cấu trúc kinh tế - xã hội mới Tuy nhiên
Trang 7hiện nay, ở nước ta không chỉ có thất nghiệp tạm thời do thay đổi cơ cấu, màcòn có thất nghiệp tiềm ẩn, thất nghiệp không hoàn toàn (do hiệu suất sử dụngthời gian lao động còn thấp, nhất là ở nông thôn) chiếm tỷ trọng lớn cùng với
tỷ lệ tăng cao hàng năm của nguồn lao động càng làm cho tình hình thấtnghiệp càng thêm gay gắt Thực tế đang đòi hỏi phải có chính sách, giải phápđồng bộ để hạn chế tỷ lệ người thất nghiệp
1.2 Đặc điểm của lao động nông thôn.
Nước ta còn là một nước nông nghiệp chưa phát triển , quá trình đô thịhoá trong giai đoạn này mới đang diễn ra mạnh, dân số ở các đô thị còn ít màvẫn tập chung chủ yếu ở khu vực nông thôn Cụ thể năm 2008 tỷ lệ dân số đôthị của nước ta mới đạt 27,9% (trương đương với khoảng 24 triệu người.) Còndân số sống ở khu vực nông thôn vẫn chiếm 72,1% dân số cả nước (tức làkhoảng 62,16 triệu người) trong khi trung bình của thế giới là khoảng 49%.(số liệu lấy từ báo Dân số và đô thị) Như vậy chúng ta có thể thấy rằng dân
số ở khu vực nông thôn của chúng ta còn rất cao so với trung bình của thếgiới Điều này cho thấy rằng lao đọng trong khu vực nông thôn của chúng ta
là khá lớn Với nộng dung của chuyên đề tập chung nghiên cứu về lao độngcủa khu vực nông thôn nên trong phần này sẽ đề cập đến đặc điểm của laođộng nông thôn
- Về số lượng nguồn nhân lực của nước ta khá dồi dào, cơ cấu dân sốtrẻ Dân số trong độ tuổi lao động là khoảng 52 triệu người Trong đó dân số
ở khu vực nông thôn chiếm tới 72,1% như vậy dân số trong độ tuổi lao động
ở khu vực này khoảng 37,5 triệu người Xét theo cơ cấu độ tuổi, lực lượnglao động tuổi từ 15-34 tuổi chiếm 54,6% lực lượng lao động nông thôn Đây
là lực lượng lao động trẻ, có khả năng tiếp thu, nắm bắt và sử dụng công nghệnhanh trong sản xuất nếu được đào tạo tốt Tuy nhiên lao động trong nôngnghiệp lại chiếm tỷ trọng cao, chiếm tới 66% lao động nông thôn
Trang 8- Về chất lượng, nhìn chung trình độ lao động nông thôn của chúng tacòn thấp, theo báo cáo của bộ Lao động và Thương binh Xã hội lao độngnông thôn được qua đào tạo nghề chỉ chiếm 18,7%, một con số hết sức khiêmtốn, nó phần nào nói lên được trình độ của lao động nông thôn của nước ta.Trình độ chuyên môn tay nghề của lao động nông thôn còn rất thấp và mấtcân đối so với khu vực thành thị Hiện nay, hơn 80% lao động nông thôn chưaqua đào tạo, gần 20% số lao động còn lại có trình độ chuyên môn kỹ thuật tù
sơ cấp hoặc có chưng chỉ nghề trở lên Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chuyênmôn ký thuật ở khu vực này so với khu vực thành thị chỉ bằng 1/3 Lao động
ở trình độ càng cao thì mức độ chênh lệch giữa hai khu vực này là càng lớn
- Mặt khác lao động nông thôn còn có những đặc điểm phụ thuộc nhiềuvào điều kiện tự nhiên và lao động, và văn hoá như: tính chất lao động mangtính thời vụ cao, tác phong công nghiệp trong lao động còn thấp, tính kỷ luậtkém…
1.3 Vai trò của lao động nông thôn.
Với đặc điểm về lao động của lao động nông thôn nước ta như đã nêu ởtrên mặc dù còn tồn tại nhiều điểm yếu kém Song xét về khía cạnh đóng gópcủa mình trong quá trình phát triển chung của đất nước thì vai trò của laođộng thôn lại rất lớn
-Lao động nông thôn cùng với sự phát triển của kinh tế nông thôn sẽ gópphần tạo ra những tiền đề quan trọng không thể thiếu bảo đảm cho tiến trìnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá Đất nước +Cung cấp lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội nhằm đảm bảo
về nhu cầu tiêu dùng cho con người trong cuộc sống hàng ngày đảm bảo cho
sự tồn tại và khả năng tái sản xuất của con người + Sản phẩm của lao động nông thôn không những chỉ được dùng
để tiêu dùng cho cuộc sống hàng ngày mà nó còn đóng vai trò cung cấp
Trang 9nguyên liệu cho các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp sản xuất hàng tiêudùng, từ đây ta có thể nhận thấy lao động nông thôn không những lao động đểsản xuất ra của cải vật chất cho xã hội mà còn là tiền đề của cho việc pháttriển các ngành công nghiệp nhẹ và từ đó giúp cho quá trình tạo việc làm cholao động trong xã hội và giải quyết việc làm đồng thời góp phần vào đẩy
+Với thu nhập của lao động nông thôn cùng với sự tích lũy củamình lao động nông thôn đã thực hiện việc cung cấp một phần vốn cho quá
+Với số lượng đông đảo lao động nông thôn và người dân nôngthôn đã tạo ra một thị rộng lớn, thị trường quan trọng vào việc tiêu dùng sảnphẩm của các ngành công nghiệp và dịch vụ + Lao động nông thôn cùng với sự phát triển nông thôn là cơ sở đểđảm bảo và ổn định kinh tế xã hội trong quá trình phát triển của Đất nước
- Với số lượng lao động lớn, và có khả năng tốt trong việc tiếp thu họctập thì lao động nông thôn không những giúp cho lực lượng lao động trongnước được ổn định mà lao đông nông thôn tuy tay nghề và kiến thức còn hạnchế nhưng lại là nguồn dự bị cho lao động công nghiệp hiện đại và luôn sẵnsàng bổ xung khi cần thiết
2.Thu nhập, và sự cần thiết phải nâng cao thu nhập.
2.1 Khái niệm thu nhập.
Thu nhập là khoản tiền thu từ việc sở hữu và cung ứng các nhân tố sảnxuất trong 1 thời kỳ nhất định
- Cơ cấu thu nhập bao gồm thu nhập từ kết quả lao dộng (tiền công,tiền lương: bao gồm lương hưu, các khoản trợ cấp và bao gồm cả học bổng)
Trang 10và thu nhập tài chính (lãi do gửi tiết kiêmk, lãi do mua bán đầu tư chứngkhoán, thu từ các khoản cho thuê bất động sản) và các thu nhập khác.
- Thu nhập từ lao động là tổng các khoản thu mà người lao động nhậnđược do đã bỏ sức lao động của họ trong quá trình tham gia sản xuất kinhdoanh của các đơn vị kinh tế thu nhập từ lao động của người lao động baogồm:
+ Tiền lương, thưởng và các khoản phụ cấp, thu nhập khác có tính chấtnhư lương: Gồm tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp thưòng xuyên mangtính chất cố định và tiền thưởng trong lương; Các khoản phụ cấp và thu nhậpkhác của người lao động được tính vào chi phí sản xuất, vào giá thành của sảnphẩm như: phụ cấp ca 3, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp đi lại, phụ cấp tiền điệnthoại cố định, phu cấp xăng xe, tiền công tác phí, ăn giữa ca (trường hợp thuêdịch vụ ăn uống bên ngoài không tính vào yếu tố này), trợ cấp thuê nhà… vàcác khoản phụ cấp thường xuyên, không thường xuyên khác cho người laođộng, bao gồm các hình thức trả bằng tiền, bằng hiện vật như: thực phẩm, đồuống, nhiên liệu, quần áo (trừ quần áo bảo hộ lao động)
+ Bảo hiểm xã hội trả thay lương: Là khoản Bảo hiểm xã hội được chitrả cho người lao động của đơn vị kinh tế trong thời gian nghỉ ốm đau, thaisản, tai nạn lao động, (theo chế độ qui định của Bảo hiểm xã hội hiện hành)
+ Các khoản thu nhập khác không tính vào chi phí sản xuất kinh doanh:
Là các khoản chi trực tiếp cho người lao động nhưng không hạch toán vào chiphí sản xuất mà nguồn chi lấy từ quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, lợi nhuậncủa chủ doanh nghiệp hoặc từ các nguồn khác (quà tặng, thưởng của cấptrên, )
2.2 Tầm quan trọng của thu nhập và sự cần thiết phải nâng cao thu nhập.
Cơ quan Phát triển con người của Liên hợp quốc đã đưa ra một chỉ số
gọi là Chỉ số phát triển con người ( Human Development Index – HDI ) dùng
Trang 11để kiểm soát, đánh giá sự tiến bộ trong phát triển con người Ba biến số đượcchọn để tính nên chỉ số HDI này là: tuổi thọ trung bình từ lúc sinh, tỷ lệ ngườibiết chữ và thu nhập bình quân đầu người theo ngang giá sức mua(GDP/người – PPPUSD ) HDI được tính theo công thức chung như sau:
HDI=
3
IN E
Hai chỉ số IA và IE được tinh toán dựa vào công thức sau :
Chỉ số =
Giá trị tối đa và tối thiểu (giá trị biên) được đặt ra với từng loaị chỉ số là:
Bảng 1.1 Giá trị tối đa - tối thiểu của các chỉ tiêu.
tối đa
Giá trị tối thiểu
Giá trị thực tế - giá trị tối thiểu Giá trị tối đa - giá trị tối thiểu
Trang 12thu nhập vô hạn và cũng cũng không chỉ đòi hỏi ở mức thu nhập cao Để phảnánh điều này, thu nhập thường được điều chỉnh trong tính toán HDI Phươngpháp được sử dụng hiện nay là làm logarit của thu nhập.
IIN =
HDI nhận các giá trị biến thiên từ 0 đên 1 Trong thực tế giá trị củaHDI của một nước chỉ ra khoảng cách giữa các mức độ tiến bộ trong pháttriển con người đã đạt được với giá trị cao nhất có thể(là 1) Thách thức đặtđối với mỗi quốc gia là làm thế nào để đưa ra những giải pháp rút ngắnkhoảng cách đó
(Trích Giáo trình Kinh tế phát triển )
Việt Nam chúng ta có chỉ số HDI là 0.733 ( năm 2008) và ở mức trungbình của thế giới, đứng thư 105 trên tổng số 177 nước và vùng lãnh thổ thamgia xếp hạng Tuy nhiên đóng góp vào chỉ số này của nước ta thì hai chỉ số đo
ti thức giáo dục chiếm tỷ trọng cao do Nhà nứoc ta đã trú trọng đầu tư vàophát triển giáo dục con người, con đóng góp của chỉ số đớmc sống là thấp hơn
do thu nhập bình quân của nước ta còn thấp hơn rất nhiều so vơi thế giới.Năm 2008 thu nhập bình quân đầu người của chúng ta đứng thứ 122 so với
177 nước và vùng lãnh thổ tham gia xếp hạng Như vạy chúng ta cần phải cảithiện chỉ số này hơn nữa bằng cách nâng cao thu nhập cho người dân củachúng ta
Trong thực tế cuộc sống của chúng ta thu nhập là một yếu tố rất quantrọng, nó biểu hiện ở số tiền, hay các sản phẩm do quá trình lao động màchúng ta tạo ra và nó có giá trị cho cuộc sống Để duy trì và nâng cao chấtlượng cuộc sống, con người cần phải có thu nhập và chúng ta có thể dễ dàngnhận thấy rằng trong đời sống hàng ngày thu nhập quan trọng như thế nào
log(thu nhập thực tế) – log (thu nhập tối thiểu)log (thu nhập tối đa) – (log (thu nhập tối thiểu)
Trang 13Với mỗi người với các mức thu nhập khác nhau thì có thể nói rằng chất lượngcuộc sống mà họ được hưởng cũng khác nhau, với những mức thu nhập caothì xẽ có được cuộc sống với chất lượng của các dịch vụ và sự sinh hoạt hàngngày tốt hơn chẳng hạn như: bữa ăn hàng ngày xẽ đủ chất dinh dưỡng hơn,các đồ dùng sinh hoạt cũng tốt hơn, con cái được học tập trong những ngôitrường với chất lượng tốt hơn, nói tóm lại xẽ có được những thứ gần với sựmong muốn hơn, ngược lại những người có thu nhập thấp, những ngườinghèo thậm chí là đói thì với thu nhập thấp đó họ có thể ăn không đủ no, mặckhông đủ ấm chú chưa nói gì đến việc được sử dụng các dịch vụ mà cần cótiền mới có được…
Mặt khác, mức sống của dân cư bắt nguồn từ thu nhập Thu nhập làmột trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá mức sống của một gia đìnhnông thôn Tăng thu nhập là yếu tố quan trọng hàng đầu để cải thiện và nângcao mức sống, là cơ sở để tăng tích luỹ và tăng đàu tư cho quá trình sản xuấttiếp theo Tăng thu nhập cho mỗi người dân đồng nghĩa với việc thu nhậpbình quân đầu người mỗi khu vực tăng lên và từ đó thu nhập bình quân quốcgia tăng lên, điều đó thể hiện sự tăng trưởng của mỗi vùng, mỗi quốc gia Vàtăng thu nhập cho phép tạo điều kiện để phát triển kinh tế xã hội nhằm đạtđược những mục tiêu đã được đặt ra Và ngược lại nếu người dan có thu nhậpthấp, đời sống khó khăn xẽ là nguyên nhân để dẫn tới các vấn đề tệ nạn xãhội, huỷ hoại môi trường sống Gia đình có thu nhập con em họ không có điềukiện được chăn sóc tốt nhất có thể và tương lai của chúng không được đảmbảo từ đó xẽ gây hậu quả lâu dài…
Chính vì các lý do trên mà chúng ta thấy được việc nâng cao thu nhậpcho người có thu nhập thấp, chủ yếu là người lao động nông thôn là một điềuhết sức cần thiết và cũng góp phần giải quyết các vấn đề xã hội đối với mỗi cánhân và quốc gia
Trang 143.Những yếu tố ảnh hưởng tới lao động, việc làm và thu nhập.
3.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến lao động.
3.1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến số lượng lao động
Dưới góc độ của kinh tế học, lực lượng lao động phản ánh số lượng laođộng mà các hộ gia đình sẵn sàng đem trao đổi trên thị trường trong đó sốlượng lao động phụ thuộc vào các yếu tố:
Dân số là cơ sở đẻ hình thành lực lượng lao động Sự biến động của
dân số là kết quả của quá trình nhân khẩu học và có tác động trực tiếp hoặcgián tiếp đến quy mô, cơ cấu cũng như sự phân bố theo không gian của dân sốtrong độ tuổi lao động Sự biến động của dân số thường được xem qua sựbiến động tự nhiên và biến động cơ học
Biến động dân số tự nhiên do tác động của sinh đẻ và tử vong Tỷ lệsinh đẻ và tử vong phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế và mức độ thànhcông của chính sách kiểm soát dân số Các nước đang phát triển có tỷ lệ sinhcao hơn so với các nước phát triển do vậy tốc độ tăng dân số tự nhiên cũngcao hơn Dân số tăng nhanh trong khi kinh tế tăng chậm đã làm cho mức sốngdân cư các nước đang phát triển chậm được cải thiện và tạo ra áp lực lớntrong vấn đề giải quyết việc làm Do vậy, việc kế hoạch hoá dân số đi đôi vớiphát triển kinh tế là vấn đề quan tâm đặc biệt ở các nước đang phát triển Tuynhiên cũng cần chú ý rằng các yếu tố sinh đẻ và tử vong có tác động đến quy
mô dân số trong độ tuổi lao động song có tác động trễ (sau 15 năm) Do vậy,
để hạn chế tốc độ tăng dân số cần có các chính sách kiểm soát dân số có hiệuquả trong thời kỳ ít nhất là 15 năm
Biến động dân số cơ học do tác động của di dân Ở các nước đang pháttriển, di dân là một nhân tố rát quan trọng tác động đến quy mô và cơ cấu laođộng, đặc biệt cơ chế lao động khu vực thành thị và nông thôn Chính vì vậydân số và lao động chuyển từ nông thôn ra thành thị là biểu hiện chính của xu
Trang 15hướng di dân trong nước Sức ép của việc di dân cho xã hội cũng là rất lớn, nóthúc đẩy nhanh quá trình đô thị hoá và nếu chúng ta không có biện pháp hợp
lý thì sẽ tạo ra gánh nặng cho xã hội gây nên nhưũng tiêu cực không dáng có
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động.Dân số trong độ tuổi lao động phản
ánh khả năng lao độngcủnền kinh tế Tuy nhiên không phảt tất cả nhữngngười trong độ tuổi lao độngđều là những người tham gia vào lực lượng laođộng Cung lao động sẽ phụ thuộc vào số lượng dân số trong độ tuổi tham gialực lượng lao độngvà được xem xét qua chỉ tiêu “tỷ lệ tham gia lực lượng laođộng của dân số trong độ tuổi lao động” Theo khái niệm lực lượng lao độngthì “tỷ lệ tham gia lực lượng lao động” nói chung được hiểu là tỷ số phân trămgiữa số người đủ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động trên dân số đủ 15tuổi trở lên
Tỷ lệ tham gia lực lưọng lao động có thể khác nhau giữa các nhóm tuổi,giữa nam và nữ Yế tố tác động đến tỷ lệ tham gia lao độnglà yếu tố kinh tế,
xã hội và văn hoá Những yếu tố này có thể tác động làm tăng tỷ lệ tham gialực lượng lao động nhưng cũng có thể là ngược lại
3.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng lao động.
Số lượng lao động mới phản ánh một mặt sự đóng góp của lao độngvào tăng trưởng kinh tế mặt khác thể hiện sự đống góp của lao độngđượcđánh giá ở chát lượng của lao động, nó là yếu tố ảnh hưởng đến năng suất laođộng, đến sự chuyển đổi cơ cấu việc làm theo trình đọ kỹ thuạtk sản xuất.Chất lượng lao động được đánh giá qua trình độ học vấn, chuyên môn và kỹthuật cũng như sức khoẻ của lao động Điều này lại phụ thuộc vào hoạt độnggiáo dục đào tạo và các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ cho người lao động.Vậy có thể nói chất lượng lao độngphụ thuộc vào các yếu tố:
Giáo dục và việc cải thiện chất lượng lao động Giáo dục theo nghĩa
rộng là tất cả các dạng học tập của con người nhằm nâng cao kiến thức và kỹ
Trang 16năng của con người trong suốt cả cuộc đời Giáo dục phổ thông nhằm cungcấp những kiến thức cơ bản nhất để phát triển năng lực cá nhân Giáo dụcnghề và giáo dục đại học (đào tạo) vừa giúp người học có kiến thức đồng thờicòn giúp cung cấp tay nghề, kỹ năng và chuyên môn Với mỗi trình độ đàotạo nhất định, người đựơc đào tạo mới biết được họ sẽ phải đảm nhận nhữngcông việc gì? Yêu cầu kỹ năng cũng như chuyên môn nghề nghiệp phải nhưthế nào? Vai trò của gaío dục được các nhà kinh tế đánh giá bằng chỉ tiêu” tỷsuất lợi nhuận cho giáo dục” Về lý thuyết, tỷ suất lợi nhuận từ đầu tư giáodục cũng giống như lợi nhuận từ đầu tư vào bất kỳ dự án nào Mặt khác giáodục còn giúp cho việc cung cấp kiến thức và những thông tin để người dânđặc biệt là người phụ nữ có thể sử dụng những công nghệ nhằm tăng cườngsức khoẻ dinh dưỡng và đã phần nào cải thiện được chất lượng lao động.
Dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻvà cải thiện chất lượng lao động Sức
khoẻ có tác động tới chất lượng lao động cả ở hiện tại và tương lai Người laođộng có sức khoẻ tốt có thể mang lại những lợi nhuận trực tiếp hoặc gián tiếpbằng việc nâng cao sức bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập chung cao trong khilàm việc Sức khoẻ của người lao động thường được đánh giá ở thể lực, chiềucao, cân nặng Điều này lại phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng chăm sóc sứckhoẻ Đối với người đang làm việc, thể lực và tuổi thọ của họ một mặt phụthuộc vào yếu tố dinh dưỡng nhưng mặt khác lại phụ thuộc vào dịch vụ chămsóc sức khoẻ thường xuyên (đặc biệt đối với những ngành nghề độc hại) vàchính sáh bảo hiểm y tế đối với người lao động
Tác phong công nghiệp, tính kỷ luật của người lao động và chất lượng lao động Bên cạnh hai yếu tố có ảnh hưởng đến chất lượng lao động là trình
độ, kỹ năng và sức khoẻ của người lao động như đã nói ở trên thì ngày nay,các nhà quản lý cho rằng chất lượng lao động, hiệu quả của công việc còn liênquan và phụ thuộc vào tác phong, tinh thần, thái độ và tính kỷ luật của người
Trang 17lao động Trong khu vực thành thị, điều kiện làm việc ngày càng có xu hướnghiện đại hoá, trong các hoạt động kinh tế, sự phối hợp trong công việc giữacác cá nhân trong cùng một tổ chức và giữa các tổ chức với nhau có xu hướnggia tăng và đặt ra yêu cầu cao Điều này đòi hỏi người lao động phải có tácphong công nghiệp, tinh thần tự chủ sáng tạo, thái độ hợp tác và tính kỷ luậtchặt chẽ.
3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc làm.
Sức cầu của thị trường và sự đầu tư: Số lượng việc làm trong nền kinh
tế phản ánh cầu lao động Về lý thuyết, cầu lao động cho thấy số lượng laođộng mà các tổ chức, đơn vị kinh tế sẵn sàng thuê để tiến hành các hoạt độngkinh tế với mức tiền lương nhất định Cầu lao động phụ thuộc chủ yếu vàoquy mô sản lượng và hệ số co giãn việc làm đối với sản lượng (đầu ra)
Lao động là yếu tố đầu vào cần thiết để sản xuất một lượng hàng hoá,dịch vị nhất định Điều này cũng có nghĩa là quy mô của sản xuất hàng hoádịch vụ sẽ quyết định lượng đầu vào được sử dụng để sản xuất từ đó tác đôngđến càu của lao động và làm cho số việc làm tăng lên hoặc giảm xuống Tuynhiên trong nền kinh tế thị trường, đặc điểm của cầu lao động mang tính chấtthứ phát Nó không chỉ xuất hiện do nhu cầu mở rộng quy mô của nền kinh tế,của ngành mà chịu tác động của các yếu tố khác đặc biệt là yếu tố về vốn vàđầu tư và công nghệ sản xuất Quan hệ giữa việc làm và đầu tư thường đượccác nhà kinh tế xem xét qua chỉ tiêu mức đầu tư để tạo ra một việc làm mới.Mức đầu tư cần thiết để tạo một việc làm mới còn có quan hệ với công nghệsản xuất Những ngành có công nghệ sản xuất cao sẽ cần nhiều vốn hưn đểtạo một chỗ làm việc mới và ngược lại ở các nước đang phát triển, trong giaiđoạn đầu do vốn khan hiếm, lao đọng dồi dào nhưng hạ chế về trình độ vì vậycần lựa chọn công nghệ sản xuất ít vốn và cần nhiều lao động, vì vậy lượng
Trang 18cầu lao động là lớn hơn nên sức ép về việc làm trong giai đoạn này là khônglớn.
Năng lực của người lao động: Ngoài sức cầu của thị trường và quan hệ
lao động và đầu tư thì việc làm còn phụ thuộc vao yếu tố năng lực của ngườilao động,một yếu tố quyết định Năng lực của người lao động nói chung làkiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm…là một yếu tố quyết đến cơ hội làm việccủa mỗi cá nhân người lao động Những người có điều kiện sức khoẻ tốt, cótrình độ học vấn cao, kỹ năng và kinh nghiệm thì họ luôn có khả năng cạnhtranh cao hơn trong quá trình tìm kiếm việc làm và làm những công việcmang lại thu nhập và đãi ngộ cao Tuy nhiên cơ hội làm việc đối với nhữngđối tượng có trình độ thấp cũng khá lớn Tuy nhiên họ phải làm những côngviêc thường có tính rủi ro cao, độc hại, nặng nhọc và thu nhập không ổn địnhhoặc là thấp
3.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập.
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động Đốivới các khoản thu nhập ngoài lao đông như tiền lãi do tiết kiệm, tiền lãi từ đầu
tư cổ phiếu, bất động sản…, thì các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập bao gồm:điều kiện kinh tế xã hội, sự phát triển của các loại thị trường ( thị trường vốn,thị trường lao động, thị trường chứng khoán ), trình độ, năng lực cá nhân,hiệu quả của các chính sách vĩ mô của nhà nước
Đối với các khoản thu nhập từ lao động như tiền lương, tiền công, bảohiểm, tiền thưởng ,phụ cấp… thì các nhân tố ảnh hưởng bao gồm: Điều kiệnkinh tế xã hội, Luật lao động, thị trường lao động, khả năng tài chính doanhnghiệp, vị trí địa lý và giá cả sinh hoạt của từng vùng, công việc và năng lựccủa người thực hiện nó Những nhân tố tác động tới thu nhập có rất nhiều yếu
tố song có thể chia ra thành các nhóm nhân tố sau:
Trang 19Sự phát triển kinh tế và sự phát triển của thị trường lao động gồm cácnhân tố như mức độ phát triển của nền kinh tế, mức sống của dân cư, tiềnlương trung bình trên thị trường lao động, chính sách lao động xã hội, chínhsách tiền lương, chính sách đãi ngộ
Doanh nghiệp: gồm các nhân tố như khả năng tài chính của doanhnghiệp, hiệu quả của các chính sách đầu tư và các dự án đầu tư, các chínhsách về thuế, thu nhập của doanh nghiệp…
Công việc: bao gồm mức độ phức tạp, quan trọng của công việc vàcung cầu lao động trên thị trường lao động, nghề nghiệp Thông thường ngườilao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp được trả lương thấp hơn nhữngngười làm việc trong lĩnh vực công nghiệp, và dịch vụ do yêu cầu kỹ năng,trình độ của ngành này thấp Bản thân trong cùng một ngành nghề thì thunhập của người lao động phụ thuộc vào chuyên môn và kinh nghiệm công táccủa người lao động do những công việc phức tạp được trả lương cao hơnnhững công việc đơn giản…
Người lao động: gồm những nhân tố liên quan mặt thể chất và giới tínhgồm: độ tuổi, tình trạng hôn nhân, sức khoẻ và chi tiêu bình quân đàu người.Ngoài ra còn phụ thuộc vào khả năng hiện tại (kiến thức, kỹ năng, phẩm chấtlao động), tiềm năng cá nhân trong tương lai, kiến thức tay nghề tích luỹ,thâm niên nghề nghiệp, thời gian gắn bó với đơn vị, mức độ hoàn thành côngviệc…
Nhóm yếu tố địa lý: vùng thành thị/ nông thôn Thu nhập được trả chongười lao động phải đảm bảo cho cuộc sống của bản thân và gia đình củangười lao động Do mức sống, mức chi tiêu ở các vùng khác nhau là khácnhau Bên cạnh sực khác biệt do yếu tố vùng miền lãnh thổ, mức sống và thunhập của người lao động còn phụ thuộc vàop khu vực sinh sống là thành thịhay nông thôn Người ở khu vực thành thị thường có thu nhập cao hơn lao
Trang 20động ở khu vực nông thôn, xét theo công việc có tính chất và độ phức tạptương đương.
4 Mối quan hệ giữa lao động việc làm và thu nhập.
Cớ nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của mỗi người, đó có thể là dothừa kế, do lao động, do việc làm của mỗi người Vì đặc thù của đề tài đangnghiên cứu mà trong đề tài chỉ xét đến mối quan hệ của thu nhập với các yếu
tố việc làm và lao động Làm thế nào để chúng ta có thu nhập cao ? Đó là câuhỏi luôn được mỗi người đặt ra và cố gắng tìm cách để trả lời nó Chúng ta cóthể nhận thấy rằng thu nhập trung bình của người dân Nhật Bản cao hơn thunhập của người dân nước ta hay noi cách khác là thu nhập của người dân ởnhững nước phát triển cao hơn thu nhập của người dân ở những nước đangphát triển hay chúg ta cũng có thể thấy rõ rằng thu nhập của một người nôngdân với mảnh ruộng của họ không thể cao bằng thu nhập của một anh kỹ sưđược Nguyên nhân là tại sao? Và từ thực tế ở trên chúng ta có thể nhận thấyrằng thu nhập của mỗi người phụ thuộc vào công việc mà người đó đang làm,
đó là một điều tất yếu Vậy những công việc thế nào thì sẽ mang lại thu nhậpcao ? Những lao động như thế nào sẽ có được thu nhập cao ? Từ thực tế xãhội chúng ta cũng có thể tự tìm ra được câu trả lời cho vấn đề này Về vấn đềlao động và thu nhập thì thu nhập cao có được khi người đó có khả năng, kỹthuật và tay nghề được đào tạo hay nói cách khác là lao động có tri thức, còn
về vấn đề việc làm và thu nhập thì thu nhập cao có được khi việc làm đó nằmtrong lĩnh vực tạo ra các giá trị gia tăng là nhiều, những công việc trongnhững ngành hàm chứa trong nó những ký thuật, công nghệ cao Vậy chúng
ta có thể thấy rằng thu nhập của một lao động là tỷ lệ thuận với khả năng kiếnthức, trình độ chuyên môn của người lao động đó và lĩnh vực người đó thamgia lao động
Trang 21Từ các cơ sở lý luận về lao động, việc làm và thu nhập ở trên có thể kếtluận rằng lao động nói chung và lao động của huyện Thanh Liêm nói riêngcũng có các nhân tố tác động tới lao động, việc làm và thu nhập có thể nóiđén như: Tình hình phát triển chung của cả nước, tình hình phát triển của tỉnh,đặc điểm kinh tế xã hội của địa phương, trình độ của người dân, người laođộng huyện Thanh Liêm Đó là những yếu tố có ảnh hưởng đến việc làm, laođộng và thu nhập của người dân huyện Thanh Liêm.
Trang 22CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG VÀ THU NHẬP CỦA NGƯỜI DÂN
HUYỆN THANH LIÊM
1.Tình hình chung của Lao động nông thôn và thu nhập của người lao động nông thôn ở Việt Nam.
1.1.Tình hình chung lao động ở nông thôn ở nước ta.
Trong khu vực nông thôn, tư liệu sản xuất chủ yếu của người lao động
là dất đai Việc làm nông thôn phu thuộc nhiều vào đất canh tác, thiếu đấtcanh tác ở mức độ nào đó đồng nghĩa với thiếu việc làm của lao động nôngthôn và đặc biệt là lao động nông nghiệp Việclàm ở nông thôn hiện nay chủyếu được thể hiện dưới hình thức kinh tế hộ gia đình sản xuất nông nghiệp kếthợp với nghề phụ hợac chuyển sang các hoạt động phi nông nghiệp nhưngvẫn giữ lại đất được giao và đăng ký là lao động nông nghiệp
Một phần vì dân số tăng nhanh, đất đai nói chung thì không thay đổi
mà còn phải chuyển đổi đẻ sử dụng cho các khu công nghiệp, khu dân cư chonên nông nghiệp hiện nay thiếu nhiều đát để canh tác, diên tích đát bình quânmột hộ nông dân là 4984m2 , ở đồng bằng sông Cửu Long là 10149m2 tỷ lệthấp nhất là ở Đồng Bằng Bắc bộ 2284m2 , chênh lệch nhau tới 4,4 lần
Nước ta là nước nằm trong khu vực khí hậu khắc nghiệt nắng lắm mưânhiều vì vậy hoật động sản xuát nông nghiệp nói chung phụ thuộc vào nhiềuđến điều kiện thiên nhiên, khí hậu, thời tiết như mưa, gió, bão lụt, hạn hán vàmang tính thời vụ cao Do đố, tính chất thời vụ, rủi ro cao và tình trạng bất ổnđịnh là đặc trưng của sản xuất nông nghiệp và lao động động nông thôn Khicày cấy, gieo hạt làm mùa song người lao động nông thôn bước vào thoài kỳnông nhàn, lúc này việc làm thêm với họ là rất quan trọng và cần thiết để cóthu nhập Vì vậy một số bộ phận lao động nông nghiệp nông thôn có biét chút
Trang 23ít nghề phụ thường đi đến các địa phương khác hay các thành phố lớn để làmviệc, nhằm mục đích tận dụng thời gian nông nhàn và kiếm thêm thu nhập vàđến khi mùa vụ nông nghiệp họ lại trở về quê làm việc nên tính ổn định củacông việc là không cao.
Những năm gần đây, vấn đề việc làm càng trở nên khó khăn hơn rấtnhiều Tình trạng nông nhàn ngày càng trở nên phổ biến, nếu để ý chúng ta sẽthấy rất nhiều người ngoại tỉnh đổ sô về các thành phhó lớn để kiếm việc làmthêm từ đó có một số nơi đã hình thành nên cái gọi là “ chợ lao động” Đặcbiệt trong tình trạng thiếu việc làm trong cả nước nói chung và trong khu vựcnông nghiệp nói riêng thì vấn đề nông nhàn càng trở nên bức xúc và đó còn lànguồn bổ sung đáng lo ngại vào lực lượng lao độngthiếu việc làm nói chung
và làm tăng thêm dòng người di cư, di dân, di chuyển từ vùng này đến vùngkhác, từ nông thôn ra thành thị từ đó cũng nảy sinh ra nhiều tình huống phứctạp, những tệ nạn hình thành khiến xã hội phải lo lắng và quan tâm
Cơ cấu lao động nông thôn: Trong những năm vừa qua cơ cấu lao động
nông thôn biến động theo xu hướng chuyển dịch một bộ phận lao động nôngnghiệp sang hoạt động phi nông nghiệp, quá trình này phụ thuộc vào sự pháttriển chung của kinh tế cả nước, vào sự phát triển của khu vực phi nôngnghiệp ngay tại các vùng nông thôn, sự đầu tư ngay tại các vùng nông thôn,đầu tư vào cơ sở hạ tầng của nông thôn ngày càng nhiều, và sự phát triển cáckhu công nghiệp, cụm công nghiệp ngày càng nhiều và quy mô càng lớn.Theo số liệu điều tra năm 2001 và 2006 về nông thôn, nôngnghiệp và nôngdân cho thấy hiện nay số hộ nông thôn cả nước tại thời điểm 01/07mỗi nămnhư sau :
Bảng 2.1 Cơ cấu hộ nông thôn theo ngành năm 2001 và 2006.
Triệu hộ Tỷ trọng( %) Triệu hộ Tỷ trọng (%)
Trang 24Mặc dù hộ nông thôn trong cả nước tăng nhưng tốc độ đã chậm hẳn lại
so với các thời ký trước Cơ cấu ngành nghề ở khu vực nông thôn đã có sựthay đổi nhanh theo hướng tích cực, giảm số lượng và tỷ trọng nhóm nông hộcông nghiệp và dịch vụ Đến 01/07/2006, số nông hộ, lâm nghiệp và thuỷ sản
ở nông thôn đã giảm 0,79 triệu hộ; số hộ công nghiệp, xây dựng và dịch vụtăng 1.49 triệu hộ so với năm 2001 Ta thấy rõ rằng, so với năm 2001, tỷtrọng hộ nông, lâm nghiệp và thuỷ sản khu vực nông thôn giảm từ 81% xuốngcòn 71,1% , tỷ trọng hộ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng từ 19.0% lên28.9% Sự chuyển dịch cơ cấu hộ nông thôn thời kỳ 2001 – 2006 diễn ranhanh và rõ nét hơn so với các thời kỳ khác Cùng với sự thay đổi này thì cơcấu ngành nghề của lao động chuyển dịch nhanh hơn so với cơ cấu ngànhnghề của hộ và trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nông thôn đượctăng lên Tỷ lệ số người trong tuổi lao động có khả năng lao động phân theohoạt động chính thời gian này thể hiện trong bảng dưới đây:
Bảng 2.2 Cơ cấu lao động nông thôn theo ngành năm 2000 và 2006 Đơn vị: %
Lao động công nghiêp – xây dựng 8.3 14.9
Trang 25(Nguồn: Số liệu TK Việc làm - Thất nghiệp ở VN giai đoạn 1996- 2005 của
Bộ LĐTBXH và số liệu LĐVL-TN năm 2006, Bộ LĐTBXH)
Từ bảng trên ta thấy rằng: Lao động nông nghiệp giảm 10.0% so vớinăm 2000, lao động công nghiệp – xây dựng tăng 6.6%, lao động dịch vụ tăng3,4% Xu hướng hoạt động đa dạng của ngành nghề của lao động ở khu vựcnông thôn ngày càng tăng Số người trong độ tuổi lao động có tham gia hoạtđộng nông nghiệp trong năm qua: lao động chuyên nông nghiệp chiếm58,2%, lao động nông nghiệp kiêm ngành nghề khác chiếm 27,6% và laođộng phi nông nghiệp có hoạt động phụ nông nghiệp chiếm 14,2%
Trình độ học vấn và chuyên môn của lao động nông thôn: Trong công
cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước luôn luôn chú trọng đến phát triển toàn diệnnền kinh tế, trong những năm qua nước ta đã đạt được nhiều bước đột pháquan trọng và nhiều thành tựu to lớn Khu vực nông thôn nước ta nơi chiếmtới hơn 71% dân số và chiếm gần 40% lao động trong tổng số lao động củatoàn xã hội nhưng lao động ở đây vẫn đang trong tình trạng phát triển chậm
và trình độ còn thấp Trong những năm trước về trình độ học vấn chuyên môn
ở nông thôn, đặc biệt là những vùng không phát triển nghề phụ mà chỉ thuầnnông thì tình trạng thừa lao động giản đơn không có tay nghề và trình độchuyên môn kỹ thuật là phổ biến
Năm 2000 trong khu vực thành thị cứ 10 người tham gia hoạt độngkinh tế thì có 4 người đã tốt nghiệp trung học phổ thông, cao gấp hơng 3 lần
so với khu vực nông thôn, và tỷ lệ chưa biết chữ trong nông thôn lại cao gấphơn 6 lần so với khu vực thành thị Tuy nhiên tỷ lệ lao động nông thôn đã tốtnghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông chỉ chioếm 41,9% thấp hơn sovới khu vực thành thị 19% Đây cũng là một trở ngại lớn cho lao động nôngthôn khi học nghề tạic các cơ sở đào tạo tại các thành thị Trình độ học vấnchuyên môn của lao động nông thôn hoạt động phi nông nghiệp cũng rất thấpkhoảng 65% tốt nghiệp trung học cơ sở, 35% lao động trong các
Trang 26doanhnghiệp, hợp tác xã chưa qua đào tạo tay nghề chuyên môn kỹ thuật, 54– 68% lao động không được đào tạo về trình độ chuyên môn, 8% được đàotạo trình độ trung cấp trở lên làm việc trong doanh nghiệp và 4% làm việc tạicác hợp tác xã và hộ gia đình Và cũng trong gia đoạn này tại khu vực nôngthôn số lao động đã được đào tạo nghề, chuyên môn kỹ thuật chỉ chiếm10,11%, thấp hơn gần 4 lần so với khu vực thành thị (39,96%) Tỷ lệ lao động
có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học là rất thấp, thấp hơn so với khuvực thành thị (8,32%) hơn 9 lần
Năm 2004 theo kết quả điều tra Nông thôn – Nông nghiệp do Tổng cụcThống kê công bố, cả nước có 93,8% số lao động nông thôn chưa qua đào tạo,chỉ có 2,3% lao động được đào tạo tay nghề trình độ sơ cấp hoặc công nhân
kỹ thuật, 2,4% có trình độ trung cấp kỹ thuật, 0,8% có trình độ cao đẳng và0,7% có trình độ đại học và tương đương Con số trên cho thấy, đây là một trởngại thách thức lớn trong quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn,
số liệu trên cũng minh chứng rằng hơn lúc nào hết nhu cầu đào tạo nghề cholao động NN-NT là rất lớn và bức xúc
Năm 2005 Số liệu điều tra năm 2005 của Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội cho thấy, ở khu vực nông thôn, lao động có trình độ THPT chỉchiếm 13,7%, tốt nghiệp trung học cơ sở 34,6%, tiểu học 20% Tình trạng mùchữ đối với người lớn vẫn là thực tế đối với vùng sâu, vùng xa, vùng đồngbào dân tộc thiểu số Tỷ lệ trẻ em bỏ học ở vùng nghèo, nhất là trẻ em nữ làthách thức lớn.Hạn chế này hiện đang ảnh hưởng trực tiếp đến công tác đàotạo nghề cho lao động nông thôn.Một mặt, lao động nông thôn bất lợi hơn sovới lao động thành thị về thể trạng, sức khoẻ, mặt khác trình độ chuyên môn
và kỹ năng nghề nghiệp của đối tượng này cũng là điều đáng bàn Theo thống
kê, 83% lực lượng lao động nông thôn chưa qua đào tạo, chỉ có hơn 2% cóbằng cao đẳng hoặc đại học (khoảng 0,7 triệu người), 3% tốt nghiệp trung họcchuyên nghiệp, 3% có chứng chỉ sơ cấp hoặc tập huấn nghề ngắn hạn, có tới
Trang 278,7% (gần 2,9 triệu người) gọi là công nhân kỹ thuật nhưng chưa được cấp bất
kỳ loại văn bằng hoặc chứng chỉ nghề nghiệp nào
Theo thống kê hiện tại, tỉ lệ lao động trong lĩnh vực nông nghiệp đã quađào tạo của nước ta hiện rất thấp Cả nước có 10 triệu hộ nông dân với hơn 30triệu lao động trong độ tuổi, nhưng mới có 17% trong số đó được đào tạo,song chủ yếu thông qua các lớp tập huấn khuyến nông cơ bản Và theo bộCông Thương trong số 16,5 triệu thanh niên nông thôn chỉ có 12% tốt nghiệpphổ thông trung học, 3,11% có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ trung cấp trởlên (thấp hơn 4 lần so với thanh niên đô thị) Tại những vùng miền núi TâyBắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ… đội ngũ cán bộ nông nghiệp, nông thônthiếu trầm trọng, chỉ chiếm 0,5%-0,6% lao động trực tiếp ở khu vực này
Từ các số liệu thống kê trên chúng ta có thể thấy việc đào tao nghề cholao động ở nông thôn của nưóac ta là hết sức cấp bách, bởi vì trình độ nghềnghiệp và chuyên môn của lao động nông thôn con quá thấp Nắm bắt đượcvấn đề này Đảng và Nhà nước ta cũng đã xây dựng các chương trình nhằmđào nghề cho lao động nông thôn, có thể nói đến như Đề án tổ chức dạynghề ở trình độ sơ cấp (từ 1-3 tháng) cho lao động nông thôn trong độ tuổi laođộng và có nhu cầu học nghề Để đề án dạy nghề cho lao động nông thôn đivào cuộc sống, Chính phủ sẽ chi hơn 23.140 tỷ đồng trong 10 năm với mụctiêu: Mỗi năm đào tạo nghề cho khoảng 1 triệu lao động nông thôn, nâng tỷ lệlao động nông thôn được đào tạo từ 20% (năm 2010) lên 50% (năm 2020)…
Và chúng ta mong rằng trong tương lai với các kế hoạch, chương trình vềnông nghiệp, nông dân, nông thôn xẽ làm thay đổi được khu vực này mộtcách tốt nhất để cùng hoà nhịp với quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoácủa Đất nước
Thời gian làm việc của lao động nông thôn: Trong thực tế tỷ lệ thời
gian làm việc được sử dụng của lao động trong độ tuổi ở khu vực nông thôncòn khá thấp Kết quả thống kê thời gian về tỷ lệ này của cả nước và từng
Trang 28vùng được cho bởi bảng số liệu dưới đây, số liệu lấy từ điều tra về dân số vàlao động của Tổng cục thống kê.
Bảng 2.3: Thời gian làm việc của lao động nông thôn
Đơn vị: % Năm
Đồng bằng sông Hồng 75.36 76.08 78.25 80.21 78.75 80.65Đông Bắc Bộ 73.05 75.32 77.09 78.68 80.31 81.76Tây Bắc Bộ 72.78 71.08 74.25 77.42 78.44 78.78Bắc Trung Bộ 72.52 74.50 75.60 76.13 76.45 77.91Duyên hải Nam Trung Bộ 76.40 74.85 77.31 79.11 77.81 79.81Tây Nguyên 77.18 77.99 80.43 80.60 81.61 82.70Đông Nam Bộ 76.42 75.43 78.45 81.34 82.90 83.46Đồng bằng sông Cửu Long 73.38 76.53 78.27 78.37 80.00 81.70
Nguồn: Tỷ lệ thời gian làm việc được sử dụng của lao động trong độtuổi ở khu vực nông thôn phân theo vùng (Tổng cục thống kê )
Từ bảng thống kê trên cho ta thấy được tỷ lệ thời gian làm việc được
sử dụng của lao động trong độ tuổi ở khu vực nông thôn tuy vẫn còn thấpnhưng đã thể hiện xu hướng tăng lên theo thời gian, với tốc độ tăng như thếnày mục tiêu của nước ta đến năm 2010 sẽ nâng quỹ thời gian sử dụng tronglao động nông thôn lên khoảng 85%
1.2 Tình hình chung về thu nhập.
1.2.1 Tình hình về thu nhập của người lao động Việt Nam.
Nước ta là một nước nghèo và đang trong quá trình phát triển, lao độngvới trình độ còn thấp, tỷ trọng lao động trong nông nghiệp còn nhiều Thunhập bình quân của nước ta với chỉ vượt ngưỡng 1000USD/người/năm vàonăm 2008 và thoát khỏi tình trạng các nước nghèo về thu nhập Một phần thunhập của chúng ta thấp là do năng xuất lao động còn thấp Năng suất lao động
Trang 29của Việt Nam năm 2005 đạt 19,62 triệu đồng Tốc độ tăng năng suất lao độngtính theo giá so sánh bình quân năm trong thời kỳ 2002- 2005 đạt 6,7%, thuộcloại khá cao Tuy nhiên, cũng còn nhiều vấn đề tồn tại Một là, năng suất laođộng trong ngành nông, lâm nghiệp còn rất thấp; nếu trong năm 2005 mới đạt6,26 triệu đồng thấp chỉ bằng 1/3 năng suất lao động chung và thấp xa so vớicác ngành khác, trong khi tỷ giá lao động thuộc 2 ngành này lại chiếm quánửa tổng số lao động đang làm việc Nguyên nhân chủ yếu do năng suất cây,con con thấp, như năng suất lúa chỉ của Việt Nam đạt 48,9 tạ/ha, trong khiTrung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đạt 62 tạ/ha; năng suất ngô của Việt Namđạt 36 tạ/ha trong khi Mỹ, Australia, Pháp đạt 80 tạ/ha… Hai là, nếu tínhbằng USD theo tỷ giá hối đoái, năng suất lao động Việt Nam năm 2004 là1090,5 USD (năm 2005 đạt 1241USD, trong khi của Philippines là 2419USD, của Trung Quốc là 2152,3 USD, của Indonesia 2483,1 USD, của TháiLan 4514 USD, của Malaysia 11276,2 USD,của Hàn Quốc 29057,6 USD, củaBruney 34697,5 USD,của Singapore 48563,9 USD, của Nhật Bản 73014USD…) Năng suất lao động công nghiệp đạt cao nhất trong các ngành năm
2004 cũng chỉ đạt 45,92 triệu đồng, tính ra USD cũng mới chỉ đạt 2.912 USD,thấp xa so với nhiều nước Nguyên nhân chủ yếu là do tỷ lệ sử dụng côngnghệ cao trong công nghiệp ở Việt Nam mới đạt 20%, trong khi củaPhilippines 29%, Thái Lan 30,8%, Malaysia 51,1%, Singapore 73%
1.2.2 Thu nhập của lao động nông thôn.
Đối với khu vực nông thôn, thu nhập của mỗi hộ gia đình, lao động là
số tiền hoặc sản phẩm mà mỗi giađình nhận được trong một thời gian nhấtđịnh để chi dùng trong cuộc sống hàng ngày Thu nhập có thể là tiền lươngkhi người đó làm công ăn lương hoặc thu nhập cũng có thể thu được do người
đó bán trực tiếp sản phẩm nào đó có giá trị như người nông dân bán thóc haylúa Đối với lao động làm nông nghiệp thì các nguồn thu nhập của họ có được
Trang 30sau mỗi vụ mùa kết thúc là các nguồn thu từ bán các sản phẩm nông sản, thu
từ chăn nuôi trong hộ gia đình và các nuồn thu từ lao động lúc nông nhàn, đó
có thể là thu từ thời gian làm thêm, làm thuê và thu từ nghề phụ của hộ giađình và lao động Đối với các hộ phi nông nghiệp và lao động phi nôngnghiệp thì thu nhập của họ có được do bán các sản phẩm mình làm ra trongsuốt quá trình lao động Ngoài ra các hộ gia đình, lao động nông thôn còn cónguồn thu từ các yếu tố lương, chế độ chính sách của xã hội…2 Điều kiện tựnhiên - kinh tế - xã hội của địa phương có ảnh hưởng tới thu nhập của ngườidân huyện Thanh Liêm
2.1 Vài nét về tỉnh Hà Nam
Hà Nam nằm ở tọa độ địa lý trên 20o vĩ độ Bắc và giữa 105o-110o kinh
độ Đông, phía Tây-Nam châu thổ sông Hồng, trong vùng trọng điểm pháttriển kinh tế Bắc Bộ Tỉnh Hà Nam cách thủ đô Hà Nội hơn 50 km, là cửa ngõphía nam của thủ đô; phía bắc giáp với tỉnh Hà Tây, phía đông giáp với HưngYên và Thái Bình, nam giáp Nam Định và Ninh Bình, phía tây giáp HòaBình Vị trí địa lý này tạo rất nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế và xã hộicủa tỉnh Tỉnh Hà Nam bao gồm 6 đơn vị hành chính cấp huyện và thị xã: thị
xã Phủ Lý (tỉnh lỵ của tỉnh), huyện Duy Tiên, huyện Kim Bảng, huyện LýNhân, huyện Thanh Liêm và huyện Bình Lục
Nằm trên trục giao thông quan trọng xuyên Bắc-Nam, trên địa bàn tỉnh
có quốc lộ 1A và đường sắt Bắc-Nam chạy qua với chiều dài gần 50km và cáctuyến đường giao thông quan trọng khác như quốc lộ 21, quốc lộ 21B, quốc lộ
38 Hơn 4000 km đường bộ bao gồm các đường quốc lộ, tỉnh lộ cùng cáctuyến giao thông liên huyện, liên xã, thị xã, thị trấn đã được rải nhựa hoặc bêtông hóa, hơn 200km đường thủy có luồng lạch đi lại thuận tiện với 42 cầuđường đã được xây dựng kiên cố và hàng nghìn km đường giao thông nông
Trang 31thôn tạo thành một mạng lưới giao thông khép kín, tạo điều kiện thuận lợi về
đi lại và vận chuyển hàng hóa cho các phương tiện cơ giới Từ thị xã Phủ Lý
có thể đi tới các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Hồng một cách nhanhchóng và thuận tiện
Vị trí chiến lược quan trọng cùng hệ thống giao thông thủy, bộ, sắt tạocho Hà Nam lợi thế rất lớn trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa-xã hội, khoahọc-kỹ thuật với các tỉnh trong vùng và cả nước, đặc biệt là với thủ đô Hà Nội
và vùng trọng điểm phát triển kinh tế Bắc Bộ
Tài nguyên đất đai với địa hình đa dạng là nguồn lực quan trọng cho sựphát triển kinh tế của tỉnh Hà Nam có diện tích tự nhiên 851 km2 nằm trongvùng trũng của đồng bằng sông Hồng và giáp với vùng núi của tỉnh Hòa Bình
và vùng Tây Bắc Phía tây của tỉnh là vùng đồi núi bán sơn địa với các dãynúi đá vôi, núi đất và đồi rừng Đất đai ở vùng này rất thích hợp với các loạicây lâm nghiệp, cây công nghiệp và cây ăn quả Vùng đồng bằng phía đôngcủa tỉnh được tạo nên bởi phù sa của các sông lớn như sông Đáy, sông Châu,sông Hồng Đất đai màu mỡ, thích hợp cho canh tác lúa nước, hoa màu, rau,đậu, thực phẩm Những dải đất bồi ven sông đặc biệt thích hợp với các loạicây công nghiệp ngắn ngày như mía, dâu, lạc, đỗ tương và cây ăn quả Ngoài
ra đây cũng là vùng thuận lợi cho việc nuôi trồng, đánh bắt thủy sản và pháttriển nghề chăn nuôi gia cầm dưới nước
Đá vôi, nguồn tài nguyên khoáng sản chủ yếu của Hà Nam, có trữlượng lớn tới hơn 7 tỷ m3 Đây là nguyên liệu quan trọng cho phát triển cácnghành công nghiệp sản xuất xi măng, vôi, sản xuất bột nhẹ, làm vật liệu xâydựng Phần lớn các tài nguyên khoáng sản phân bố gần trục đường giaothông, thuận tiện cho việc khai thác, vận chuyển và chế biến Sản phẩm ximăng Bút Sơn của Hà Nam hiện đã có mặt trong hầu hết các công trình xây
Trang 32dựng lớn của đất nước Với tiềm năng khoáng sản , trong tương lai, Hà Nam
có thể trở thành một trong những trung tâm công nghiệp vật liệu xây dựng lớn
ở vùng đồng bằng Bắc Bộ
Từ khi tái lập tỉnh (1997), kinh tế xã hội của Hà Nam đã có những bướctiến vượt bậc và đạt được những thành tựu quan trọng Tốc độ tăng trưởngtổng sản phẩm (GDP) của tỉnh tăng bình quân 11,1%/năm, cao hơn so với tốc
độ tăng trưởng của cả nước và một số tỉnh trong vùng Tổng sản phẩm nông,lâm nghiệp và thủy sản tăng 6,1%/năm, công nghiệp và xây dựng tăng 14,3%/năm và các ngành dịch vụ tăng 7,3%/năm Việc chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cơcấu cây trồng, vật nuôi, giống mới, trồng cây xuất khẩu, sản xuất lúa giống vànhiều mô hình sản xuất, kinh doanh giỏi như sản xuất trên vùng đất trũng,kinh tế trang trại, kinh tế vườn đồi đang tạo cho kinh tế nông nghiệp chuyểndịch theo hướng sản xuất hàng hóa
Cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọngcông nghiệp và dịch vụ: ngành công nghiệp và xây dựng tăng từ 18,6% năm
1996 lên 34,6% năm 2003, dịch vụ tăng từ 31,6% năm 1996 lên 31,8% năm
2003, nông lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 49,6% năm 1996 giảm còn 33,7%năm 2003 Quá trình đổi mới theo hướng đa dạng hóa các hình thức sản xuất,kinh doanh làm cho hoạt động kinh tế trong mỗi ngành, mỗi lĩnh vực trở nênsôi động, đặc biệt là kinh tế hộ gia đình trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp,kinh tế tư nhân, cá thể và các loại hình kinh tế khác trong lĩnh vực côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ.Cơ cấu các thành phầnkinh tế trên địa bàn tỉnh cũng có những thay đổi đáng kể Tỷ trọng của khuvực kinh tế nhà nước trong cơ cấu tổng sản phẩm tăng từ 17,56% (giai đoạn1991-1996) tới 30,29% năm 2003
Trang 33Hà Nam đã quy hoạch 5 khu công nghiệp với tổng diện tích gần 800hatại các vị trí thuận lợi giao thông, hiện đang xây dựng cơ sở hạ tầng theohướng đồng bộ ở 3 khu công nghiệp, cùng với các cơ chế, chính sách ưu đãiđầu tư khá hấp dẫn sẵn sàng mời gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Vị trí địa lý, sự đa dạng về đất đai, địa hình và thổ nhưỡng, điều kiệnkhí hậu thuỷ văn thuận lợi, nguồn nhân lực dồi dào, có trình độ văn hóa, cókhả năng tiếp nhận và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật-công nghệ,hạ tầngkinh tế - xã hội đã phát triển của Hà Nam là những yếu tố tích cực để pháttriển một nền công nghiệp hiện đại, nông nghiệp tiên tiến và đa dạng, cả vềchăn nuôi và trồng trọt, lâm nghiệp và thủy sản Tiềm năng về phát triển kinh
tế của tỉnh còn rất lớn, với sự đầu tư mạnh mẽ, khai thác và sử dụng một cáchhợp lý sẽ thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội trong tươnglai
2.2 Điều kiện phát triển của huyện Thanh Liêm.
2.2.1 Thanh Liêm và nguồn lực cho phát triển.
Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý: Huyện Thanh Liêm nằm ở phía nam tỉnh Hà Nam; phía
bắc giáp huyện Kim Bảng, thị xã Phủ Lý, huyện Bình Lục; phía đông giáphuyện Ý Yên, tỉnh Nam Định; phía nam giáp huyện Gia Viễn, tỉnh NinhBình; phía tây giáp huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình Huyện có 19 xã và 1 thịtrấn
Đặc điểm địa hình và khí hậu: Địa hình huyện chia thành hai vùng rõ
rệt, phía tây và vùng núi đá vôi có nhiều điểm cao và hang động đẹp, phíađông là dãy đồi núi đất xen kẽ vùng đồng bằng.Khí hậu của huyện ThanhLiêm mang đặc điểm của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, thuận lợi chotrồng trọt và chăn nuôi