1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Ứng dụng gis xây dựng hệ thống hỗ trợ cảnh báo nguy cơ trượt lở đất tỉnh quảng ngãi

5 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ứng dụng GIS xây dựng hệ thống hỗ trợ cảnh báo nguy cơ trượt lở đất tỉnh Quảng Ngãi
Tác giả Nguyễn Tấn Khôi, Bùi Đức Thọ
Trường học Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Khoa học đất, Địa lý và Quản trị tự nhiên
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2014
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 2,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả chồng lớp cho phép xây dựng được bản đồ phân vùng nguy cơ các cấp Hình 3 và xác định được chính xác các khu vực nguy cơ trượt lở trên bản đồ số.. Xây dựng các lớp bản đồ thành ph

Trang 1

Nguyễn Tấn Khôi, Bùi Đức Thọ

ỨNG DỤNG GIS XÂY DỰNG HỆ THỐNG HỖ TRỢ CẢNH BÁO

NGUY CƠ TRƯỢT LỞ ĐẤT TỈNH QUẢNG NGÃI

GIS APPLICATION TO BUILD AN EARLY WARNING SYSTEM FOR LANDSLIDE RISK IN QUANG NGAI PROVINCE

Nguyễn Tấn Khôi, Bùi Đức Thọ

Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng; Email: ntkhoi@dut.udn.vn, ducthoqbt@yahoo.com.vn

Tóm tắt – Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu xây dựng hệ thống

hỗ trợ cảnh báo sớm trượt lở đất Đây là vấn đề đang được quan

tâm, trong đó có việc xác định khu vực có tiềm năng trượt lở Đây là

vấn đề cần thiết để phục vụ cho công tác cảnh báo và phòng chống

nhằm giảm nhẹ thiên tai do lũ quét gây ra Bản đồ số GIS được xây

dựng cho các khu vực vùng núi chứa các thông tin như mức độ rừng

bị phá, độ dốc, thảm phủ thực vật Từ các thông tin này, ta có thể

tính toán để dự đoán những khu vực có nguy cơ trượt lở đất Một

hệ thống ứng dụng nhằm cảnh báo các tai biến được triển khai thực

nghiệm tại tỉnh Quảng Ngãi Kết quả thực nghiệm thể hiện hiệu quả

của giải pháp Hơn nữa, hệ thống cũng có thể dùng như một công

cụ hỗ trợ cho các nhà hoạch định chính sách.

Từ khóa – GIS; AHP; thảm họa; trượt lở; bản đồ số; cảnh báo sớm.

Abstract – This paper presents the results of a research on the

construction a GIS-based decision support system for landslide early warning Research of landslide risk is a matter of being interested; including the identification of areas have a high risk for landslides.This is necessary for the warning and prevention

to mitigation of natural A GIS map is built for the mountains, which contains information such as the level of deforestation, slope, vegetation cover, etc From this information, one can calculate to predict landslide hazard areas We have developed an application system to experiment the disaster warning in Quang Ngai province Results are presented to demonstrate the effectiveness of our approach Furthermore, this system can be usefully as a support tool for policy decision makers.

Key words – GIS; AHP; disaster; landslide; digital map; early

warning.

1 Đặt vấn đề

Trượt lở đất là một tai biến thiên nhiên dưới tác động

của nhiều nhân tố như địa hình, địa mạo, thủy văn, nhất là

sự biến động của lớp phủ thổ nhưỡng, thảm thực vật rừng và

hoạt động khai thác tài nguyên rừng của con người [1][8]

Đây là loại hình tai biến thiên nhiên gây nhiều khó khăn

cho việc ổn định dân cư và phát triển sản xuất của các

vùng miền

Cho đến nay, nước ta vẫn chưa có một hệ thống cảnh

báo tiềm năng trượt lở đất tại các khu vực miền núi, đặc biệt

là các khu vực miền Trung Việc tổ chức cập nhật các dữ

liệu địa lý, dữ liệu thiên tai chưa thống nhất và không đồng

bộ Do đó cần có nghiên cứu cảnh báo trượt lở đất để từ đó

có thể đưa ra các giải pháp phòng tránh là điều cần thiết, có

tính thực tiễn cao

Tháng 11/2013, Viện Khoa học địa chất và khoáng sản

có báo cáo kết quả bước đầu của Đề án Điều tra, đánh giá

và phân vùng cảnh báo nguy cơ trượt lở đất đá các vùng núi

Việt Nam Trong kết quả nghiên cứu về trượt lở tại một số

tỉnh [7][8][11], các tác giả cũng đã đề xuất sử dụng phương

pháp AHP (Analytical Hierarchy Process) để xây dựng bản

đồ nguy cơ Ngoài ra cũng sử dụng công cụ phân tích ảnh

viễn thám để giải đoán kết quả [11] Tuy nhiên hầu hết các

kết quả nghiên cứu này dựa trên các công cụ như ArcGIS,

dữ liệu bản đồ tĩnh, quá trình cập nhật dữ liệu khó khăn và

kích thước dữ liệu lưu trữ trong bản đồ bị hạn chế Ngoài

cũng chưa có một hệ thống thông tin bản đồ số nhằm dự

báo thiên tai, thống kê, cập nhật và xử lý số liệu

Quảng Ngãi là tỉnh vùng duyên hải miền Trung bao gồm

6 huyện đồng bằng ven biển, 6 huyện miền núi và một huyện

đảo Lý Sơn Địa hình phía Đông của Quảng Ngãi là dãy

đồng bằng nhỏ hẹp, phía Tây và Tây Nam là một phần Đông

Nam dãy Trường Sơn giáp với cao nguyên Trung Bộ Địa

hình thấp dần từ Tây sang Đông với phần lớn diện tích đất đai là rừng núi Do tính chất của địa hình nên hàng năm thường xảy ra trượt lở gây ảnh hưởng rất lớn đến đời sống người dân [2][3][5] Xây dựng bản đồ số khu vực tiềm năng trượt lở có ý nghĩa quan trọng, cho phép số hóa và tổ chức quản lý lưu trữ thông tin liên quan đến các đối tượng địa lý trong cơ sở dữ liệu, thuận tiện cho cập nhật, khai thác và truy vấn trên các thông tin nhằm phục vụ tác nghiệp, kết xuất các báo cáo, biểu đồ

Hiện nay, trong nghiên cứu và phân vùng nguy cơ trượt

lở đất có rất nhiều phương pháp khác nhau [10] Trong đó phương pháp quy trình phân tích thứ bậc AHP được tiếp cận trên quan điểm địa lý – địa mạo được sử dụng rộng rãi [4] Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu ứng dụng công nghệ GIS xây dựng hệ thống phần mềm dự báo trượt lở đất

để làm cơ sở cung cấp các thông tin cảnh báo nguy cơ trượt

lở Kết quả được triển khai thực nghiệm tại các khu vực miền núi tỉnh Quảng Ngãi và có thể được nhân rộng mô hình sang các tỉnh khác

2 Xây dựng bản đồ nguy cơ trượt lở đất

Có nhiều nhân tố tĩnh và động ảnh hưởng đến sự hình thành sạt lở đất, trong đó có các nhóm nhân tố chính như lượng mưa với cường suất lớn, nhân tố địa hình, địa mạo, thổ nhưỡng, độ dốc, nhân tố thảm phủ thực vật Ngoài ra các hoạt động của con người như chặt phá khai thác rừng, lấn chiếm lòng dẫn cũng ảnh hưởng đến việc hình thành nguy cơ trượt lở [1]

Các lớp bản đồ thành phần chính được lựa chọn để thực hiện quá trình chồng lớp như: bản đồ phân bố lượng mưa, bản đồ độ dốc bề mặt, bản đồ thảm phủ thực vật, bản đồ hiện trạng đất, lớp bản đồ các cấp khả năng thấm của đất (Hình 1) Từ các bản đồ thành phần này, bản đồ tiềm năng

33

Trang 2

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 1(74).2014.QUYỂN II

trượt lở đất được xây dựng dựa trên kỹ thuật chồng lớp các bản đồ theo phương pháp AHP Kết quả chồng lớp cho phép xây dựng được bản đồ phân vùng nguy cơ các cấp (Hình 3)

và xác định được chính xác các khu vực nguy cơ trượt lở trên bản đồ số

Các dữ liệu bản đồ GIS được tổ chức thành 02 nhóm:

dữ liệu địa lý nền, dữ liệu địa lý chuyên ngành Ngoài ra hệ thống sử dụng hệ quản trị cơ sở dữ liệu để tổ chức lưu các thông tin bổ sung nhằm hỗ trợ truy vấn và tìm kiếm thông tin liên quan đến đối tượng

2.1 Xây dựng các lớp bản đồ thành phần

Để tổng hợp thông tin về bản đồ thành phần tỉnh Quảng Ngãi, chúng tôi đã tiến hành đánh giá các yếu tố mặt đệm lưu vực (địa chất, địa động lực, địa chất thủy văn, địa hình, lớp phủ thực vật, lớp phủ thổ nhưỡng) nhằm xác định các tác nhân gây tai biến thiên nhiên tại các vùng miền có nguy

cơ tai biến

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ ……….

2

huyện miền núi và một huyện đảo Lý Sơn Địa

hình phía Đông của Quảng Ngãi là dãy đồng

bằng nhỏ hẹp, phía Tây và Tây Nam là một phần

Đông Nam dãy Trường Sơn giáp với cao nguyên

Trung Bộ Địa hình thấp dần từ Tây sang Đông

với phần lớn diện tích đất đai là rừng núi Do

tính chất của địa hình nên hàng năm thường xảy

ra trượt lở gây ảnh hưởng rất lớn đến đời sống

người dân [2,3,5]

Xây dựng bản đồ số khu vực tiềm năng

trượt lở có ý nghĩa quan trọng, cho phép số hóa

và tổ chức quản lý lưu trữ thông tin liên quan

đến các đối tượng địa lý trong cơ sở dữ liệu,

thuận tiện cho cập nhật, khai thác và truy vấn

trên các thông tin nhằm phục vụ tác nghiệp, kết

xuất các báo cáo, biểu đồ

Hiện nay, trong nghiên cứu và phân vùng

nguy cơ trượt lở đất có rất nhiều phương pháp

khác nhau [10] Trong đó phương pháp quy trình

phân tích thứ bậc AHP được tiếp cận trên quan

điểm địa lý – địa mạo được sử dụng rộng rãi [4]

Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu ứng

dụng công nghệ GIS xây dựng hệ thống phần

mềm dự báo trượt lở đất để làm cơ sở cung cấp

các thông tin cảnh báo nguy cơ trượt lở Kết quả

được triển khai thực nghiệm tại các khu vực

miền núi tỉnh Quảng Ngãi và có thể được nhân

rộng mô hình sang các tỉnh khác Nội dung bao

gồm: phần 1 tổng quan về vấn đề nghiên cứu;

phần 2 trình bày về chồng lớp xây dựng bản đồ

số nguy cơ trượt lở; phần 3 mô tả hệ thống phần

mềm cảnh báo thiên tai trượt lở; cuối cùng là kết

luận và các hướng phát triển

2 XÂY DỰNG BẢN ĐỒ NGUY CƠ TRƯỢT

LỞ ĐẤT

Có nhiều nhân tố tĩnh và động ảnh hưởng

đến sự hình thành sạt lở đất, trong đó có các

nhóm nhân tố chính như lượng mưa với cường

suất lớn, nhân tố địa hình, địa mạo, thổ nhưỡng,

độ dốc, nhân tố thảm phủ thực vật… Ngoài ra

các hoạt động của con người như chặt phá khai

thác rừng, lấn chiếm lòng dẫn… cũng ảnh hưởng

đến việc hình thành nguy cơ trượt lở [1]

Các lớp bản đồ thành phần chính được lựa chọn để thực hiện quá trình chồng lớp như: bản

đồ phân bố lượng mưa, bản đồ độ dốc bề mặt, bản đồ thảm phủ thực vật, bản đồ bản đồ hiện trạng đất, lớp bản đồ các cấp khả năng thấm của đất (Hình 1) Từ các bản đồ thành phần này, bản

đồ tiềm năng trượt lở đất được xây dựng dựa trên kỹ thuật chồng lớp các bản đồ theo phương pháp AHP Kết quả chồng lớp cho phép xây dựng được bản đồ phân vùng nguy cơ các cấp (Hình 3) và xác định được chính xác các khu vực nguy cơ trượt lở trên bản đồ số

Các dữ liệu bản đồ GIS được tổ chức thành 02 nhóm: dữ liệu địa lý nền dữ liệu địa lý chuyên ngành Ngoài ra hệ thống sử dụng hệ quản trị cơ sở dữ liệu để tổ chức lưu các thông tin bổ sung nhằm hỗ trợ truy vấn và tìm kiếm thông tin liên quan đến đối tượng

2.1 Xây dựng các lớp bản đồ thành phần

a) Bản đồ bản đồ hiện trạng đất b) Bản đồ lượng mưa trung bình

năm

c) Bản đồ độ dốc bề mặt d) Bản đồ thảm phủ thực vật

Hình 1 Các loại bản đồ dẫn xuất

Để tổng hợp thông tin về bản đồ thành phần tỉnh Quảng Ngãi, chúng tôi đã tiến hành đánh giá các yếu tố mặt đệm lưu vực (địa chất, địa động lực, địa chất thủy văn, địa hình, lớp phủ

Hình 1: Các loại bản đồ dẫn xuất

Việc phân cấp các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng xảy

ra tai biến thiên nhiên có tính tương đối do phạm vi mỗi cấp

có sự biến động tương đối rộng

2.2 Phân tích các nhân tố thành phần

Dựa trên kết quả điều tra dữ liệu [2][3] và thực địa, chúng tôi tiến hành phân tích các nhân tố thành phần tại tỉnh Quảng Ngãi

Bảng 1: Phân cấp theo lượng mưa TBN

Cấp Nguy cơ Lượng mưa TBN (mm/năm)

Yếu tố lượng mưa trung bình năm (TBN) tại các cấp đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nguy cơ tai biến (Bảng 1)

Yếu tố độ dốc các vùng núi Quảng Ngãi ảnh hưởng mạnh đến quá trình phát sinh trượt lở Trên sườn độ dốc

35o− 45o

, nguy cơ diễn ra lớn nhất (Bảng 2)

Bảng 2: Phân cấp nguy cơ dựa vào độ dốc

Yếu tố phân loại đất: thể hiện ở độ cứng, độ bền chắc của các nhóm đất đá trong phát sinh trượt lở đất ở Quảng Ngãi (Bảng 3)

Bảng 3: Phân cấp nguy cơ dựa và loại đất

Cấp Nguy cơ Hiện trạng đất

Cấp 1 Rất thấp Đất mặt nước (sông, hồ, ) Cấp 2 Thấp Đất cát, cát pha đất thịt nhẹ Cấp 3 Trung bình Đất thịt trung bình, sét pha cát

Cấp 5 Rất cao Đất thịt nặng, đất sét, đá gốc Yếu tố lớp phủ thực vật thể hiện ở độ che phủ của thực vật Yếu tố sử dụng đất đặc trưng cho hoạt động kinh tế của con người tác động phát sinh trượt lở

2.3 Tính hệ số cho các nhân tố

Từ kết quả phân tích các nhân tố thành phần, chúng tôi xây dựng các bảng hệ số nhân tố (Bảng 4) và tiến hành tính các trọng số wi của các chỉ tiêu theo phương pháp AHP áp dụng cho tỉnh Quảng Ngãi

Bảng 4: Xác định hệ số cho các nhân tố

Lớp

Lượng mưa

C1

Độ dốc

C2

Địa hình

C3

Phân loại đất C4

Thảm thực vật

C5

Bảng 5 thể hiện trọng số của các yếu tố thành phần wi

dựa vào phương pháp AHP Giá trị wi được tính như sau [9]:

mi =√5

ai1∗ ai2∗ ai3∗ ai4∗ a15

wi = mi/

 5

P

i=1

mi

 với i=1 5 34

Trang 3

Nguyễn Tấn Khôi, Bùi Đức Thọ

Bảng 6: Giá trị các trọng số AHP

Giá trị tỉ số nhất quán CR = 0.054 < 0.1 nằm trong

ngưỡng cho phép theo điều kiện của phương pháp AHP

[9,10] nên các trọng số wiphù hợp để chồng lớp bản đồ

2.4 Chồng lớp xây dựng bản đồ

Quá trình chồng lớp xây dựng bản đồ nguy cơ trượt lở

như sau:

1 Xác định và số hóa các nhân tố hình thành trượt lở

C1, C2, , Cn

2 Xác định trọng số tương tác giữa các yếu tố ảnh hưởng

thành phần

3 Tính chỉ số nhạy cảm

LSI =

n

X

i=1

wiCi

4 Đánh giá mức độ phù hợp của kết quả

5 Điều chỉnh lại kết quả trên cơ sở phân tích lại các

nhân tố tác động

6 Kiểm tra đối chiếu với dữ liệu khảo sát thực địa

Bảng 7: Phân chia cấp độ nguy cơ lũ quét

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ ……….

4

3 Tính chỉ số nhạy cảm

1

n

i i i LSI w C

4 Đánh giá mức độ phù hợp của kết quả

5 Điều chỉnh lại kết quả trên cơ sở phân

tích lại các nhân tố tác động

6 Kiểm tra đối chiếu với dữ liệu khảo sát

thực địa

Bảng 8 Phân chia cấp độ nguy cơ lũ quét

Cấp 1 Rất thấp 1.426 ÷ 2.852

Cấp 3 Trung bình 4.280 ÷ 5.705

Cấp 5 Rất cao 7.132 ÷ 8.556

Ký hiệu: Khu vực có nguy cơ trượt lở rất cao (màu đỏ)

Khu vực có nguy cơ trượt lở cao (màu vàng)

Hình 2 Bản đồ nguy cơ trượt lở tỉnh Quảng Ngãi

Khả năng trượt lở đất được chia thành 5

cấp như trên Bảng 8 Trên bản đồ khu vực tiềm

năng trượt lở (Hình 3), các khu vực màu đỏ nguy

cơ trượt lở cao, các khu vực màu vàng có nguy

cơ trượt lở trung bình, các vùng còn lại đều có

nguy cơ trượt lở ở mức thấp

Từ kết quả chồng lớp bản đồ số GIS sử

dụng phương pháp chuyên gia AHP, ta xác định

được nhiều điểm có nguy cơ xảy ra trượt lở nằm

rải rác ở các huyện miền núi: huyện Batơ (Suối

Nước Reo, Nước Mang, Xóm Tư, Làng Mâm,

Xóm Sủ ), huyện Minh Long (thôn Gò Tranh,

Xã Long Mai, Mai Lãnh Thượng, Suối Bà Leng,

Làng Vang), huyện Sơn Hà (Núi Gõ, làng Vòm, làng Nua…), huyện Trà Bồng (Thôn Trà Xanh, thôn Trà Lạc, thôn Trà Khương), huyện Sơn Tây (Nước Lay, Gò Lả, Tà Em, Nước Min…) Trong

đó có nhiều điểm có nguy cơ cao và nằm gần khu dân cư, bệnh viện, trường học

Qua điều tra thực địa tại một số khu vực trên bản đồ, kết quả cho thấy bản đồ tiềm năng trượt lở xảy ra tại các khu vựa miền núi tỉnh Quảng Ngãi có độ chính xác cao Một số địa điểm đã xảy ra trượt lở như tại huyện Ba tơ (Làng Mâm, xã Ba Bích) ngày 17/03/2013, tại huyện Sơn Tây (Gò Lả, xã Sơn Dung) ngày 22/11/2013 Một số khác biệt nhỏ chủ yếu là do

sự tác động của con người vào khu vực và cấu tạo địa chất cục bộ (Hình 3)

a) Điểm trượt lở tại thị trấn Di Lăng, Sơn Hà Điểm 4:

huyện Sơn Tây tại vị trí 14°58'33.08"B và 108°20'7.32"Đ

b) Điểm trượt lở tại xã Trà Hiệp, Trà Bồng tại vị trí 15°16'45.16"B, 108°23'55.79"Đ

Hình 3 Thực địa một số địa điểm trượt lở

3 XÂY DỰNG HỆ THỐNG PHẦN MỀM CẢNH BÁO NGUY CƠ TRƯỢT LỞ

Hệ thống dự báo nguy cơ trượt lở đất bao gồm các thành phần được mô tả như trong Hình

2 Các số liệu đo được từ các khu vực đo mưa, quan trắc đặt tại các khu vực được tự động truyền về hệ thống trung tâm để cập nhật vào cơ

sở dữ liệu bản đồ Từ lượng thông tin tiếp nhận theo thời gian thực, hệ thống phân tích và ra quyết định cảnh báo khả năng trượt lở cho từng khu vực có nguy cơ Sơ đồ hoạt động của hệ thống được mô tả như sau (Hình 4)

Việc cảnh báo các vùng nguy cơ xảy ra

Hình 2: Bản đồ nguy cơ trượt lở tỉnh Quảng Ngãi

Khả năng trượt lở đất được chia thành 5 cấp như trên

Bảng 7 Trên bản đồ khu vực tiềm năng trượt lở (Hình 3),

các khu vực màu đỏ nguy cơ trượt lở cao, các khu vực màu vàng có nguy cơ trượt lở trung bình, các vùng còn lại đều

có nguy cơ trượt lở ở mức thấp

Từ kết quả chồng lớp bản đồ số GIS sử dụng phương pháp chuyên gia AHP, ta xác định được nhiều điểm có nguy

cơ xảy ra trượt lở nằm rải rác ở các huyện miền núi: huyện Batơ (Suối Nước Reo, Nước Mang, Xóm Tư, Làng Mâm, Xóm Sủ ), huyện Minh Long (thôn Gò Tranh, Xã Long Mai, Mai Lãnh Thượng, Suối Bà Leng, Làng Vang), huyện Sơn Hà (Núi Gõ, làng Vòm, làng Nua ), huyện Trà Bồng (Thôn Trà Xanh, thôn Trà Lạc, thôn Trà Khương), huyện Sơn Tây (Nước Lay, Gò Lả, Tà Em, Nước Min ) Trong

đó có nhiều điểm có nguy cơ cao và nằm gần khu dân cư, bệnh viện, trường học

Qua điều tra thực địa tại một số khu vực trên bản đồ, kết quả cho thấy bản đồ tiềm năng trượt lở xảy ra tại các khu vựa miền núi tỉnh Quảng Ngãi có độ chính xác cao Một số địa điểm đã xảy ra trượt lở như tại huyện Ba tơ (Làng Mâm,

xã Ba Bích) ngày 17/03/2013, tại huyện Sơn Tây (Gò Lả, xã Sơn Dung) ngày 22/11/2013 Một số khác biệt nhỏ chủ yếu

là do sự tác động của con người vào khu vực và cấu tạo địa chất cục bộ (Hình 3)

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ ………

4

3 Tính chỉ số nhạy cảm

1

n

i i i LSI w C

4 Đánh giá mức độ phù hợp của kết quả

5 Điều chỉnh lại kết quả trên cơ sở phân

tích lại các nhân tố tác động

6 Kiểm tra đối chiếu với dữ liệu khảo sát

thực địa

Bảng 8 Phân chia cấp độ nguy cơ lũ quét

Ký hiệu: Khu vực có nguy cơ trượt lở rất cao (màu đỏ)

Khu vực có nguy cơ trượt lở cao (màu vàng)

Hình 2 Bản đồ nguy cơ trượt lở tỉnh Quảng Ngãi

Khả năng trượt lở đất được chia thành 5

cấp như trên Bảng 8 Trên bản đồ khu vực tiềm

năng trượt lở (Hình 3), các khu vực màu đỏ nguy

cơ trượt lở cao, các khu vực màu vàng có nguy

cơ trượt lở trung bình, các vùng còn lại đều có

nguy cơ trượt lở ở mức thấp

Từ kết quả chồng lớp bản đồ số GIS sử

dụng phương pháp chuyên gia AHP, ta xác định

được nhiều điểm có nguy cơ xảy ra trượt lở nằm

rải rác ở các huyện miền núi: huyện Batơ (Suối

Nước Reo, Nước Mang, Xóm Tư, Làng Mâm,

Xóm Sủ ), huyện Minh Long (thôn Gò Tranh,

Xã Long Mai, Mai Lãnh Thượng, Suối Bà Leng,

Làng Vang), huyện Sơn Hà (Núi Gõ, làng Vòm, làng Nua…), huyện Trà Bồng (Thôn Trà Xanh, thôn Trà Lạc, thôn Trà Khương), huyện Sơn Tây (Nước Lay, Gò Lả, Tà Em, Nước Min…) Trong

đó có nhiều điểm có nguy cơ cao và nằm gần khu dân cư, bệnh viện, trường học

Qua điều tra thực địa tại một số khu vực trên bản đồ, kết quả cho thấy bản đồ tiềm năng trượt lở xảy ra tại các khu vựa miền núi tỉnh Quảng Ngãi có độ chính xác cao Một số địa điểm đã xảy ra trượt lở như tại huyện Ba tơ (Làng Mâm, xã Ba Bích) ngày 17/03/2013, tại huyện Sơn Tây (Gò Lả, xã Sơn Dung) ngày 22/11/2013 Một số khác biệt nhỏ chủ yếu là do

sự tác động của con người vào khu vực và cấu tạo địa chất cục bộ (Hình 3)

a) Điểm trượt lở tại thị trấn Di Lăng, Sơn Hà Điểm 4: huyện Sơn Tây tại vị trí 14°58'33.08"B và 108°20'7.32"Đ

b) Điểm trượt lở tại xã Trà Hiệp, Trà Bồng tại vị trí 15°16'45.16"B, 108°23'55.79"Đ

Hình 3 Thực địa một số địa điểm trượt lở

3 XÂY DỰNG HỆ THỐNG PHẦN MỀM CẢNH BÁO NGUY CƠ TRƯỢT LỞ

Hệ thống dự báo nguy cơ trượt lở đất bao gồm các thành phần được mô tả như trong Hình

2 Các số liệu đo được từ các khu vực đo mưa, quan trắc đặt tại các khu vực được tự động truyền về hệ thống trung tâm để cập nhật vào cơ

sở dữ liệu bản đồ Từ lượng thông tin tiếp nhận theo thời gian thực, hệ thống phân tích và ra quyết định cảnh báo khả năng trượt lở cho từng khu vực có nguy cơ Sơ đồ hoạt động của hệ thống được mô tả như sau (Hình 4)

Việc cảnh báo các vùng nguy cơ xảy ra

Hình 3: Thực địa một số địa điểm trượt lở

3 Xây dựng hệ thống phần mềm cảnh báo nguy cơ trượt lở

Hệ thống dự báo nguy cơ trượt lở đất bao gồm các thành phần được mô tả như trong Hình 2 Các số liệu đo được từ các khu vực đo mưa, quan trắc đặt tại các khu vực được tự động truyền về hệ thống trung tâm để cập nhật vào cơ sở

dữ liệu bản đồ Từ lượng thông tin tiếp nhận theo thời gian thực, hệ thống phân tích và ra quyết định cảnh báo khả năng trượt lở cho từng khu vực có nguy cơ Sơ đồ hoạt động của

hệ thống được mô tả như sau (Hình 4)

Việc cảnh báo các vùng nguy cơ xảy ra trượt lở đất được tiến hành theo các bước sau:

- Theo dõi và dự báo sự phát triển của các hình thế thời tiết gây mưa lớn, kết hợp với điều kiện thuỷ văn, mặt đệm lưu vực

- Cảnh báo nguy cơ cho khu vực hẹp theo lượng mưa

35

Trang 4

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 1(74).2014.QUYỂN II

dự báo

- Cảnh báo nguy cơ theo kết quả phân tích bản đồ lượng

mưa thực đo (tổng hợp từ mạng lưới trạm điện báo

mặt đất với lượng mưa tính được từ các trạm đo )

Hệ thống khai thác hai loại hình dữ liệu để cảnh báo

nguy cơ trượt lở theo thời gian thực: dữ liệu tĩnh là các bản

đồ số thảm thực vật, phân loại đất, độ dốc và dữ liệu động

là lượng mưa theo giờ, hiện trạng rừng

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ …………

5

trượt lở đất được tiến hành theo các bước sau:

- Theo dõi và dự báo sự phát triển của các

hình thế thời tiết gây mưa lớn, kết hợp với

điều kiện thuỷ văn, mặt đệm lưu vực

- Cảnh báo nguy cơ cho khu vực hẹp theo

lượng mưa dự báo

- Cảnh báo nguy cơ theo theo kết quả phân

tích bản đồ lượng mưa thực đo (tổng hợp từ

mạng lưới trạm điện báo mặt đất với lượng

mưa tính được từ các trạm đo…)

Hệ thống khai thác hai loại hình dữ liệu để

cảnh báo nguy cơ trượt lở theo thời gian thực: dữ

liệu tĩnh là các bản đồ số thảm thực vật, phân

loại đất, độ dốc và dữ liệu động là lượng mưa

theo giờ, hiện trạng rừng

Hệ thống SMS GIS

Trung tâm xử lý thông tin, ra quyết định

IP Camera

Trạm Khí tượng Thủy văn

Mạng lưới các trạm Khí tượng thủy văn

Mạng di động

Sensor đo lượng mưa

Sensor đo nhiệt

độ và độ ẩm

GSM Modem

Hình 4 Mô hình hoạt động của hệ thống

Hệ thống được thiết kế xây dựng có các

chức năng chính (Hình 4):

- Quản lý và hiển thị trực quan các bản đồ số

- Cập nhật và lưu trữ dữ liệu thiên tai, dữ liệu

khí tượng thủy văn

- Thu nhập số liệu lượng mưa đo tự động từ

các trạm đo mưa, từ tin nhắn SMS

- Thực hiện cảnh báo theo thời gian thực

- Website cung cấp thông tin

 Chức năng quản lý, cập nhật và truy vấn thông tin trên cơ sở dữ liệu (Hình 5)

Hình 5 Phần mềm quản lý bản đồ số

 Thực hiện cảnh báo cho người quản lý theo thời gian thực theo các hình thức (Hình 6):

- Dự báo trước căn cứ vào bản tin dự báo phân bố mưa

- Dự báo khẩn cấp thời gian thực căn cứ vào

số liệu mưa, mực nước đo được từ các trạm

Hình 6 Ra quyết định cảnh báo nguy cơ

Thông tin từ trạm đo mưa tự động được truyền số liệu về trung tâm tính toán Kết quả cảnh báo có thể được hiển thị trên màn hình làm việc, trên Website (Hình 6) Nhà chức trách có thể quyết định báo động qua hệ thống tin nhắn cảnh báo, hệ thống loa, còi báo động…

 WebGIS cung cấp thông tin Website cung cấp và cập nhật thông tin bản đồ nguy cơ trượt lở trực tuyến (Hình 7) Ngoài ra còn cung cấp tin tức thiên tai bão, lũ quét, trượt lở…; các kiến thức phòng chống thiên tai; các giải pháp khắc phục và kịch bản ứng cứu khi có thiên tai tại từng khu vực cụ thể

Hình 4: Mô hình hoạt động của hệ thống

Hệ thống được thiết kế xây dựng có các chức năng chính

(Hình 4):

- Quản lý và hiển thị trực quan các bản đồ số

- Cập nhật và lưu trữ dữ liệu thiên tai, dữ liệu khí tượng

thủy văn

- Thu nhập số liệu lượng mưa đo tự động từ các trạm

đo mưa, từ tin nhắn SMS

- Thực hiện cảnh báo theo thời gian thực

- Website cung cấp thông tin

* Chức năng quản lý, cập nhật và truy vấn thông tin trên

cơ sở dữ liệu (Hình 5)

Hình 5: Phần mềm quản lý bản đồ số

* Thực hiện cảnh báo cho người quản lý theo thời gian thực theo các hình thức (Hình 6):

- Dự báo trước căn cứ vào bản tin dự báo phân bố mưa

- Dự báo khẩn cấp thời gian thực căn cứ vào số liệu mưa, mực nước đo được từ các trạm

Hình 6: Ra quyết định cảnh báo nguy cơ

Thông tin từ trạm đo mưa tự động được truyền số liệu

về trung tâm tính toán Kết quả cảnh báo có thể được hiển thị trên màn hình làm việc, trên Website (Hình 6) Nhà chức trách có thể quyết định báo động qua hệ thống tin nhắn cảnh báo, hệ thống loa, còi báo động

* WebGIS cung cấp thông tin

Hình 7: WebGIS cung cấp thông tin

tai biến thiên nhiên và trượt lở đất

Website cung cấp và cập nhật thông tin bản đồ nguy cơ trượt lở trực tuyến (Hình 7) Ngoài ra còn cung cấp tin tức thiên tai bão, lũ quét, trượt lở ; các kiến thức phòng chống thiên tai; các giải pháp khắc phục và kịch bản ứng cứu khi

có thiên tai tại từng khu vực cụ thể

4 Kết luận

Bài báo đề xuất một giải pháp ứng dụng công nghệ GIS

và phương pháp phân tích thứ bậc AHP để xây dựng hệ thống thông tin hỗ trợ cảnh báo nguy cơ trượt lở Bằng cách kết hợp hai loại dữ liệu: dữ liệu tĩnh là các bản đồ nguy 36

Trang 5

Nguyễn Tấn Khôi, Bùi Đức Thọ

cơ các cấp được xây dựng và dữ liệu động là lượng mưa

đo được theo thời gian thực từ các trạm thuỷ văn, kết quả

nghiên cứu cho phép cảnh báo sớm các nguy cơ tai biến

thiên nhiên cho người dân Cảnh báo trượt lở đất là một công

việc khó khăn và hiệu quả đem lại rất khó có thể nhìn thấy

ngay Tuy nhiên việc chủ động xử lý sẽ giúp phòng tránh

được các thiên tai, giảm thiểu rủi ro Hướng nghiên cứu tiếp

theo sẽ tiếp tục hoàn thiện hệ thống thông tin, ứng dụng xử

lý ảnh viễn thám xây dựng bản đồ 3D phân vùng nguy cơ

tai biến, xây dựng hệ thống quan trắc mưa, hệ thống thông

tin liên lạc, các mô hình dự báo tai biến thiên nhiên

Tài liệu tham khảo

[1] Báo cáo khoa học, Điều tra, đánh giá hiện tượng sạt lở, nứt đất các

huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi; đề xuất biện pháp phòng tránh

giảm nhẹ thiệt hại, Trung tâm tư vấn môi trường Hà Nội, 2000.

[2] Báo cáo khoa học Tổng hợp khí hậu thủy văn tỉnh Quảng Ngãi Đài

Khí tượng Thủy văn Khu vực Trung Trung Bộ, 2002.

[3] Báo cáo tổng hợp, Hoàn thiện cơ sở dữ liệu về điều kiện tự nhiên và

môi trường phục vụ lập quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh

Quảng Ngãi đến năm 2020, Viện KH&CN Việt Nam - Viện Địa lý, 2006.

[4] Bo Huang, A GIS-AHP Method for HAZMAT Route Planning with

Consideration of Security, Environmental Informatics Archives,

Volume 2, pp.818-830, 2004.

[5] Lê Văn Khoa và các tác giả, Môi trường và phát triển bền vững ở

miền núi, NXB Giáo dục, 1997.

[6] Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên, Đất đồi núi Việt Nam - thoái hóa và

phục hồi, NXB Nông nghiệp, 1999.

[7] Nguyễn Thám và các tác giả, Xây dựng bản đồ nguy cơ trượt lở đất tỉnh Quảng Trị bằng phương pháp tích hợp mô hình phân tích

thứ bậc (AHP), Tạp chí khoa học, Đại học Huế, Tập 74B, Số 5,

pp.143-155, 2012.

[8] Phạm Văn Hùng, Đánh giá hiện trạng và phân vùng cảnh báo nguy

cơ trượt lở đất tỉnh Quảng Nam, Tạp chí các khoa học về trái đất,

33(3ĐB), pp.518-525, 2011.

[9] Thomas Saaty, Analytic Hiearchy Process, 1992.

[10] Trần Mạnh Liễu, Phương pháp phân vùng định lượng dự báo khả năng phát triển tai biến địa chất theo chỉ tiêu tích hợp các yếu tố

phát triển tai biến, Tạp chí Xây dựng, số 9, 2007

[11] Trương Phước Minh và các tác giả, Ứng dụng GIS và viễn thám

nghiên cứu trượt lở đất ở thành phố Đà Nẵng, Hội thảo Quốc gia

ứng dụng GIS, 2011.

(BBT nhận bài: 22/12/2013, phản biện xong: 03/01/2014)

37

Ngày đăng: 27/02/2023, 07:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w