Trên thực tế, không phải đến bây giờ, vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp mới được đặt ra; mà trái lại, ngay trong thời bao cấp, người ta cũng đã nói nhiều về trách nhiệm xã hội c
Trang 2
Trong bài viết này, tác giả đã phân tích quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
coi công bằng xã hội là mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội Để có được công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường, cần phải xác định và thực hiện đúng nguyên tắc phân phối phù hợp như Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra Để phát huy vai trò động lực của công bằng xã hội, theo tác giả, cần khắc phục những thiếu sót trong việc thực hiện công bằng xã hội hiện đang còn tồn tại Công tác lý luận cần hướng vào việc nghiên cứu và giải quyết nhiệm
vụ đó
Mở đầu
Sự phát triển của một quốc gia không chỉ thể hiện ở sự phát triển về kinh tế, mà còn thể hiện ở sự phát triển về xã hội Sự phát triển về kinh tế và sự phát triển về mặt xã hội có liên quan mật thiết với nhau Công bằng xã hội là một nội dung quan trọng trong sự phát triển về mặt xã hội Trong một xã hội có tình trạng bất công bằng, người bị đối xử bất công sẽ không thể phát huy hết tính tích cực của mình; hơn nữa, họ luôn đấu tranh đòi công bằng, cuộc đấu tranh này không tránh khỏi gây bất ổn định xã hội Vì vậy, nếu quốc gia nào chỉ chú trọng phát triển về kinh tế mà không chú trọng bảo đảm công bằng xã hội, thì sự phát triển về kinh tế của quốc gia đó sẽ không bền vững
1 Quan điểm coi công bằng xã hội là mục tiêu và động lực của sự phát triển
xã hội ở Việt Nam
Công bằng xã hội luôn được Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam coi vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Trong thời kỳ phong kiến và thuộc địa, tình trạng bất công bằng rất nghiêm trọng Nhờ giương cao ngọn cờ công bằng mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh xoá bỏ chế độ phong kiến và thuộc địa, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện ngay hàng loạt chính sách nhằm xoá bỏ
Trang 3
tình trạng bất công do xã hội trước để lại, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân Giống như các nước xã hội chủ nghĩa khác trước đây, trước thời kỳ đổi mới, Việt Nam cũng chủ trương quốc hữu hoá và tập thể hoá các tư liệu sản xuất chủ yếu với hy vọng vừa có tăng trưởng kinh tế, vừa có công bằng xã hội Vào những năm đầu của thời kỳ này, thành tựu trong việc xoá bỏ bất công bằng xã hội là rất to lớn Đặc biệt, nhờ chính sách cải cách ruộng đất nên ước mơ “người cày có ruộng” của hàng triệu nông dân đã trở thành hiện thực Tuy nhiên, sau một thời gian không lâu, sản xuất lại trở nên trì trệ, do đó đời sống nhân dân thấp kém
và đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội Nguyên nhân của tình hình sản xuất trở nên trì trệ là gì? Chắc chắn nó có nguyên nhân ở chỗ người lao động không hoàn toàn phấn khởi để phát huy hết tính tích cực của mình Nhưng vì sao người lao động lại không hoàn toàn phấn khởi để phát huy hết tính tích cực của mình? Đó là vì lợi ích chính đáng của họ chưa được đảm bảo, hay nói cách khác, vì vẫn còn sự bất công bằng xã hội Sự bất công của chế độ thực dân và phong kiến được xoá bỏ thì bất công mới lại nảy sinh, đó là sự phân phối bình quân, cào bằng
Từ năm 1986, nhờ thực hiện chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, Việt Nam đã thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội và có được sự phát triển vượt bậc về nhiều mặt: kinh
tế phát triển với tốc độ cao, xã hội ổn định, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện hơn Sở dĩ chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường đem lại sự phát triển vượt bậc như vậy là vì chủ trương đó đã góp phần khắc phục sự bất công của chính sách phân phối bình quân, cào bằng
Xoá bỏ sự bất công của chính sách phân phối bình quân, cào bằng đương nhiên sẽ làm cho khoảng cách giàu nghèo tăng hơn Do đồng nhất sự bình đẳng với sự công bằng, một số người cho rằng sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo là biểu hiện của tình trạng bất công gia tăng Cũng theo quan niệm của họ, hai mục tiêu công bằng xã hội và tăng trưởng kinh tế không thể đồng thời đạt được; muốn có tăng trưởng kinh tế thì phải chấp nhận sự bất công bằng xã hội và trong điều
Trang 4
kiện hiện nay, cần phải ưu tiên cho sự tăng trưởng kinh tế(1)
Khác với quan niệm trên đây, Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng, để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế không nhất thiết phải hy sinh mục tiêu công bằng xã hội Công bằng xã hội không phải là nhân tố kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế; trái lại, nó là động lực thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế Bởi vì, nếu có công bằng xã hội thì lợi ích chính đáng của mỗi người được bảo đảm, mỗi người được hưởng tương xứng với cống hiến của mình; điều đó sẽ kích thích mọi người ra sức cống hiến cho xã hội một cách tự nguyện nhất, từ đó kinh tế sẽ tăng trưởng nhanh Trong điều kiện kinh tế thị trường, chúng ta không những có thể mà còn cần phải thực hiện công bằng xã hội Về điều này, Văn kiện Đại hội X của Đảng viết:
“Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển: tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, y tế, giáo dục… giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người”(2) Quan điểm này phù hợp với quan điểm của Hồ Chí Minh cho rằng, “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”(3)
Trong điều kiện kinh tế thị trường, công bằng xã hội có thể và cần được bảo đảm
Khi thừa nhận như vậy thì cần chú ý hai điểm sau đây Thứ nhất, công bằng xã hội
không đồng nhất với bình đẳng xã hội, công bằng không phải là cào bằng; do đó, không phải càng thu hẹp khoảng cách giàu nghèo là càng công bằng, cũng không phải càng gia tăng khoảng cách giàu nghèo là càng gia tăng sự bất công bằng Sự đồng nhất công bằng xã hội với bình đẳng xã hội đã từng là cơ sở lý luận của chủ nghĩa bình quân, đồng thời là cơ sở lý luận của quan niệm sai lầm cho rằng không
thể đồng thời đạt được hai mục tiêu công bằng xã hội và tăng trưởng kinh tế Thứ
hai, để có được công bằng xã hội trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường thì
cần phải xác định và thực hiện đúng nguyên tắc phân phối phù hợp Về nguyên tắc
phân phối phù hợp này, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng
Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: "Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh
doanh và thông qua phúc lợi xã hội"(4) Tiếp tục tinh thần đó, Văn kiện Đại hội
Trang 5
đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển: tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, y tế, giáo dục…, giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội”(5)
Quan điểm trên thể hiện sự thay đổi quan trọng trong nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam so với thời kỳ trước đổi mới về nguyên tắc phân phối bảo đảm công bằng xã hội Vì sao? Trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đổi mới, Việt Nam cũng như các nước xã hội chủ nghĩa khác quan niệm rằng, nguyên tắc phân
phối bảo đảm công bằng xã hội là nguyên tắc phân phối theo lao động (làm nhiều
hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng) Nguyên tắc phân phối theo lao động đòi hỏi giá trị của tổng sản phẩm xã hội được chia thành hai phần: phần thứ nhất được dành để tái sản xuất, để giải quyết các vấn đề xã hội chung, để đóng góp vào quỹ phúc lợi xã hội và từ đó, phân phối thông qua phúc lợi xã hội; phần thứ hai sẽ được phân phối cho các cá nhân theo mức cống hiến bằng sức lao động của họ cho xã hội (bao gồm cả cống hiến bằng sức lao động chân tay và cống hiến bằng sức lao động trí óc, cống hiến của người lao động quản lý và người lao động không tham gia quản lý, cống hiến trực tiếp và cống hiến gián tiếp cho quá trình sản xuất của xã hội, cống hiến của tất cả những người làm việc trong mọi lĩnh vực không thể thiếu của xã hội) Nguyên tắc phân phối theo lao động không dành phần nào để phân phối theo nguồn vốn
Từ khi chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam thực hiện nguyên tắc phân phối “theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội” Với việc thực hiện nguyên tắc phân phối đó, Việt Nam đã xoá bỏ đáng kể sự bất công
do phân phối bình quân Việc xoá bỏ sự bất công này là một nguyên nhân đưa đến những thành công ngoạn mục của Việt Nam về kinh tế và xã hội, được cộng đồng thế giới thừa nhận Kinh tế Việt Nam tăng trưởng liên tục với tốc độ cao Bên
Trang 6
cạnh đó, Việt Nam cũng đạt được nhiều tiến bộ về văn hoá và xã hội: đời sống của
đa số nhân dân được cải thiện, tỷ lệ đói nghèo giảm nhanh chóng, xã hội không có
sự phân cực gay gắt, giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển và được đầu tư nhiều hơn, trình độ dân trí được nâng lên, công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân đạt nhiều kết quả, tuổi thọ trung bình của dân số tăng từ 67,8 (năm 2000) lên 71,5 (năm 2005), chính trị và xã hội ổn định(6) So với thời kỳ trước đổi mới, Việt Nam đã tiến được một bước dài trên con đường thực hiện và đi tới mục tiêu công bằng xã hội
2 Một số thiếu sót trong việc bảo đảm công bằng xã hội hiện nay
Bên cạnh những thành công đó, Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với nhiều vấn đề
xã hội nan giải, trong đó có vấn đề bảo đảm công bằng xã hội Trong những năm gần đây, nhiều người giàu lên nhanh chóng Một số người giàu lên bằng sự kinh doanh chính đáng, hợp pháp Một số người khác giàu lên bằng việc lợi dụng sơ hở của hệ thống pháp luật để làm ăn một cách phi pháp Nếu trong thời kỳ bao cấp tình trạng bất công bằng xã hội xuất hiện do sự phân phối cào bằng, thì ngày nay nguyên nhân hàng đầu gây ra tình trạng bất công là sự làm giàu bất hợp pháp, đặc biệt là tham nhũng(7) Tham nhũng đang là quốc nạn ở Việt Nam, là mầm mống gây ra sự bất ổn định xã hội, là một nguyên nhân kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế
Cơ chế thị trường không phải là nguyên nhân gây ra tham nhũng Nếu có một hệ thống pháp luật phù hợp và sự thực thi pháp luật nghiêm minh thì tham nhũng không thể tồn tại trong cơ chế thị trường Như vậy, để xoá bỏ bất công thì phải xoá bỏ sự làm giàu bất hợp pháp của một số người, nhưng muốn làm được điều đó thì phải xây dựng được một hệ thống pháp luật phù hợp và phải thực thi pháp luật một cách nghiêm minh
Một nguyên nhân quan trọng khác gây ra tình trạng bất công bằng là sự bất hợp lý trong phân phối của cải và cơ hội phát triển Vì sự bất hợp lý đó mà có tình trạng một số người có thu nhập cao hơn nhiều so với một số người khác mặc dù họ cùng làm một công việc và với cường độ như nhau Một số người giàu lên rất nhanh nhờ lợi dụng được sự bất hợp lý trong chính sách của Nhà nước Một số người vẫn phải sống trong cảnh quá nghèo khổ trong khi thu nhập bình quân một người một
Trang 7
năm ở Việt Nam đã đạt khoảng 1000 USD(8) Trong số những người nghèo, nhiều người không đáng phải chịu cảnh nghèo vì nguyên nhân gây ra sự nghèo là khách quan chứ không phải do họ lười biếng
Trong thời kỳ trước đổi mới, Việt Nam có một hệ thống giáo dục và y tế không mất tiền, vì được nhà nước bao cấp Còn hiện nay? Bên cạnh các cơ sở giáo dục
và y tế công lập, còn có các cơ sở giáo dục và y tế tư nhân Các cơ sở giáo dục và
y tế tư nhân thì hoạt động theo cơ chế thị trường: người bỏ vốn ra kinh doanh có mục đích thu lợi nhuận từ nguồn học phí của người học và viện phí của người bệnh Đó là điều bình thường Các cơ sở giáo dục và y tế công lập, ngoài kinh phí
do nhà nước cấp, còn thu thêm học phí và viện phí Điều này dẫn đến tình trạng là chỉ những người có tiền đóng học phí và viện phí mới được hưởng dịch vụ giáo dục và chữa bệnh từ các cơ sở giáo dục và y tế công lập Các cơ sở giáo dục và y
tế công lập là tài sản thuộc sở hữu toàn dân Mọi người đều có quyền được hưởng một phần dịch vụ giáo dục và y tế từ các cơ sở giáo dục và y tế này Nhưng trên thực tế, nhiều người có nhu cầu học tập hoặc chữa bệnh đã không được hưởng quyền lợi từ các cơ sở giáo dục và y tế công lập do không có tiền đóng học phí và viện phí Đây là một biểu hiện của tình trạng bất công còn tồn tại ở Việt Nam
Nhận diện sự bất công hợp pháp thường phức tạp hơn nhận diện sự bất công phi pháp Trong thời kỳ trước đổi mới, khi thực hiện sự phân phối bình quân để xoá
bỏ khoảng cách giàu nghèo giữa các bộ phận dân cư, chúng ta tưởng rằng như thế
là xoá bỏ được bất công nhưng thực ra lại là tạo ra sự bất công Còn trong thời kỳ đổi mới, tuy đã xoá bỏ sự phân phối bình quân, nhưng trên thực tế chúng ta vẫn chưa thực hiện được sự công bằng vì sự bất hợp pháp và sự bất hợp lý trong phân phối của cải và cơ hội phát triển Khắc phục sự bất công này trước hết là trách nhiệm của nhà nước
Chúng ta không thể xoá bỏ kinh tế thị trường vì điều đó triệt tiêu động lực của sự tăng trưởng kinh tế Chúng ta cũng không thể để cho kinh tế thị trường hoạt động
tự phát mà không có sự điều tiết của nhà nước Nhưng, điều tiết như thế nào để có
sự hợp lý trong phân phối của cải và cơ hội phát triển cho mọi người? Về vấn đề này, Văn kiện Đại hội X của Đảng đã viết: “Lý luận chưa giải đáp được một số
Trang 8
vấn đề của thực tiễn đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đặc biệt là trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và chất lượng phát triển; giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa đổi mới với ổn định và phát triển; giữa độc lập
tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”(9) Do lý luận chưa giải đáp được vấn đề nói trên, nên chúng ta vẫn chưa có những chính sách hợp lý để khắc phục hoàn toàn sự bất công bằng đang tồn tại
Kết luận
So với thời kỳ bao cấp, Việt Nam về cơ bản đã khắc phục được sự bất công do phân phối bình quân Tuy nhiên, tình trạng bất công ở Việt Nam hiện nay vẫn còn khá nhức nhối Để bảo đảm công bằng xã hội trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và còn thiếu thốn như hiện nay, điều quan trọng đầu tiên là cần phải xoá bỏ được tình trạng nghèo khổ của một bộ phận dân cư do những nguyên nhân khách quan Nếu không làm được điều này thì đất nước ta sẽ chưa thể có sự phát triển
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.77-78
(3) Hồ Chí Minh Toàn tập, t.12 Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.185 (4) Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.88
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.77-78
(6) Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
Trang 9(điểm 10) Nguồn: Vietnamnet ngày 5/12/2004
(8) Khoảng cách giàu nghèo gia tăng giữa các bộ phận dân cư và tỷ lệ nghèo phần nào nói lên tình trạng bất công của xã hội Nếu xét theo nhóm dân cư, khoảng cách giàu nghèo giữa nhóm có thu nhập thấp nhất và cao nhất ở Việt Nam đang ngày một cách biệt Khoảng cách này năm 1996 là 7,31 lần; năm 2001 - 2002 là 8,10 lần, năm 2003-2004 là 8,34 lần, còn bộ ba con số này giữa vùng Đông Nam
Bộ giàu nhất và vùng Tây Bắc Bộ nghèo nhất là 2,18 lần; 3,15 lần và 3,14 lần Ở thời điểm hiện nay, cùng với việc gia nhập WTO và động thái của thị trường thế giới sắp tới, khoảng cách giàu nghèo có thể còn tiếp tục nới rộng ra nhanh hơn nữa Theo tiêu chí giai đoạn 2006 - 2010, hộ có thu nhập dưới 230.000 đồng/người/tháng ở thành thị và 200.000 đồng/tháng ở nông thôn là thuộc hộ nghèo Ở thời điểm cuối năm 2007, cả nước còn 14,8% hộ nghèo Xu thế giảm nghèo tuy rõ rệt ở tất cả các vùng, các đối tượng, song tỷ lệ nghèo và tốc độ giảm nghèo có sự khác nhau khá rõ giữa các vùng miền Đến cuối năm 2006, cả nước còn 58 huyện có tỷ lệ nghèo trên 50% Trong đó có 27 huyện có tỷ lệ hộ nghèo trên 60%, 10 huyện trên 70% và 1 huyện có tỷ lệ hộ nghèo trên 80% Nguồn:
Báo: Người lao động, ngày 13-1-2008
(9) Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X Sđd., tr.69
Trang 10
DIỄN VĂN CỦA CHỦ TỊCH VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM CHÀO MỪNG HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC TẾ
“TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG”
GS.TS.Đỗ Hoài Nam, Uỷ viên Trung ương Đảng,
Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam Kính thưa: GS.Sayer, Tổng Giám đốc MISEREOR
Kính thưa các quý vị đại biểu
Kính thưa các học giả Việt Nam và quốc tế thân mến!
Trước hết, xin cho phép tôi được thay mặt Viện Khoa học xã hội Việt Nam nhiệt liệt chào mừng các quý vị đại biểu, các học giả của các nước đến tham dự Hội thảo khoa
học quốc tế tổ chức tại Quận Đồ Sơn, Thành phố Hải Phòng với chủ đề “Trách
nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường” - một chủ đề có ý nghĩa lý luận quan
trọng và giá trị thực tiễn đặc biệt to lớn Có thể khẳng định rằng, trong bối cảnh hiện nay, vấn đề trách nhiệm xã hội là một trong những mối quan tâm hàng đầu không chỉ của những nhà hoạt động chính trị, những nhà khoa học, mà của toàn nhân loại, của tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới
Kính thưa các quý vị đại biểu
Kính thưa các học giả!
Cách đây hơn 1 năm, tại Hà Nội, Viện Khoa học xã hội Việt Nam đã phối hợp với
MISEREOR lần đầu tiên đồng tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế về chủ đề “Công
bằng xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội” với sự tham dự của đông đảo các
học giả trong nước và quốc tế Để tiếp tục thúc đẩy sự phát triển quan hệ hợp tác trên lĩnh vực khoa học nhằm trao đổi các kết quả nghiên cứu cũng như chia sẻ những kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn của mỗi bên, hôm nay, chúng ta lại cùng tổ chức một diễn đàn khoa học mới đề cập tới một vấn đề cụ thể, mang tính chuyên sâu
hơn, có tính thực tiễn hơn - đó là trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị
trường
Như chúng ta đã biết, sự phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, đã làm cho sức mạnh của con người được nhân lên gấp bội Biết bao phát minh, thành tựu to lớn của khoa học công nghệ trong thế kỷ XX đã thể hiện năng lực sáng tạo phi thường của con người,
Trang 11
giúp con người biến những điều trước đây là không thể trở thành cái có thể, biến ước
mơ thành hiện thực Phải thừa nhận rằng, khoa học và công nghệ hiện đại đã và đang
là công cụ đắc lực để con người xây dựng một cuộc sống ngày càng giàu có, tiến bộ
và văn minh hơn Song, cũng có một thực tế không thể phủ nhận được là, đi ngược lại với xu thế phát triển tích cực của nhân loại, vẫn có những toan tính lợi dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ cho mục tiêu phi nhân tính và trái với lợi ích chung Chẳng hạn, thay vì sử dụng với mục đích phát triển và hoà bình, năng lượng hạt nhân đang bị lạm dụng trong cuộc chạy đua vũ trang giữa các cường quốc, biến thành công cụ “răn đe” nước khác Tương lai của thế giới, của loài người sẽ ra sao nếu chiến tranh hạt nhân - cuộc chiến mang tính huỷ diệt xảy ra? Đây chỉ là một trong
số rất nhiều vấn đề buộc chúng ta phải suy nghĩ một cách nghiêm túc
Bên cạnh đó, xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đang ngày càng lan rộng với quy mô, tính chất và cường độ ngày càng lớn Chúng ta đã nhận thấy từ quá trình đó
cả những cơ hội lẫn thách thức, cả những thuận lợi lẫn khó khăn đối với sự tồn tại, phát triển của tất cả các quốc gia, dân tộc trên toàn cầu Đứng trước làn sóng này, số phận của các quốc gia dân tộc, đặc biệt là các nước nghèo và chậm phát triển sẽ như thế nào?
Hiện nay, nền kinh tế thị trường đang được phát triển ở hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên khắp các châu lục Kinh tế thị trường với các quy luật của nó đang có những tác động đa chiều, cả tích cực lẫn tiêu cực, đến sự phát triển của các quốc gia
và đời sống của con người Ngoài những ưu điểm, như tạo nên sự năng động cao và tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, cũng không thể không thấy rằng, dường như kinh
tế thị trường đang làm cho quan hệ giữa con người với con người, không chỉ ngoài
xã hội mà cả trong gia đình, ngày càng trở lên lạnh lùng hơn Sức mạnh của đồng tiền trong điều kiện kinh tế thị trường đang làm tha hoá con người, xói mòn những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp, làm thực dụng hoá những mối quan hệ vốn mang tính nhân bản, nhân văn trong đời sống xã hội Có thể nói, chưa bao giờ tính hai mặt của kinh tế thị trường lại bộc lộ rõ rệt đến như vậy Đó thực sự là những tiếng chuông cảnh tỉnh nếu con nguời không muốn thương mại hoá cuộc sống, không muốn làm cho mọi mối quan hệ trở nên xơ cứng và thực dụng
Phải chăng, sự bất bình đẳng giữa các quốc gia, giữa con người với con người, nguy
Trang 12Trách nhiệm xã hội là ý thức của mọi chủ thể về nghĩa vụ, bổn phận của mình đối với xã hội, với cộng đồng và với người khác; được biểu hiện qua nhận thức và hành động cụ thể trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên Về thực chất, trách nhiệm xã hội được hình thành từ quyền và nghĩa vụ của cá nhân đối với xã hội cũng như của xã hội đối với cá nhân Cơ sở của trách nhiệm chính là lợi ích Do vậy, việc coi trọng và giải quyết một cách thoả đáng, hợp lý quan
hệ lợi ích, trước hết là lợi ích kinh tế giữa các chủ thể (cá nhân, cộng đồng và xã hội) không chỉ tạo nên động lực thúc đẩy các chủ thể trong quá trình thực hiện lợi ích của mình, mà còn làm tăng sự quan tâm của họ tới lợi ích của người khác, của xã hội, nghĩa là gia tăng trách nhiệm xã hội của các chủ thể Nói cách khác, trách nhiệm xã hội được coi là chìa khoá của sự phát triển xã hội trong bối cảnh hiện nay
Trách nhiệm phản ánh mối quan hệ qua lại giữa cá nhân với cộng đồng (nhóm, tập thể) và xã hội Mỗi cá nhân, bên cạnh những quyền được thừa nhận và bảo đảm bằng pháp luật, còn phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội; ngược lại, cộng đồng
và xã hội cũng phải có trách nhiệm đối với các thành viên của mình Chỉ có như vậy
Trang 13
mới tạo nên sự đồng thuận, phát triển hài hoà và bền vững của xã hội với tư cách một chỉnh thể thống nhất Sự phát triển trách nhiệm của con người không chỉ là một tiêu chí quan trọng thể hiện trình độ phát triển của xã hội, mà hơn thế, còn là nền tảng, là
cơ sở và động lực của sự phát triển xã hội
Vấn đề đặt ra không chỉ là nhận diện trách nhiệm xã hội và luận giải thấu đáo các nội dung đa dạng của nó, mà quan trọng hơn là, từ những nghiên cứu lý luận và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của mỗi nước, cần phải làm thế nào để phát huy được trách nhiệm xã hội, nhất là trong bối cảnh kinh tế thị trường, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế? Đó cũng chính là mục tiêu cơ bản nhất mà cuộc Hội thảo của chúng ta hôm nay hướng đến
Kính thưa các quý vị đại biểu
Kính thưa các học giả!
Hôm nay, tại diễn đàn khoa học này, tôi rất vinh dự được thay mặt Viện Khoa học xã hội Việt Nam phát biểu chào mừng các quý vị và khai mạc Hội thảo quốc tế của chúng ta Với tinh thần khoa học, đoàn kết và hợp tác vì sự phát triển chung, chúng
ta hy vọng sẽ nhận được những ý kiến tâm huyết và đầy chất trí tuệ của các nhà khoa học trong nước và quốc tế Chúng tôi tin tưởng rằng, tại Hội thảo này, các quý vị đại biểu và các học giả sẽ có những nghiên cứu sáng tạo trong việc nhận diện, định vị và
lý giải những vấn đề liên quan đến trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường với tư cách một vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng hàng đầu của thế giới đương đại trong những năm đầu thế kỷ XXI nhằm góp vào việc xây dựng một thế giới ngày càng phát triển, tiến bộ và mang đậm tính nhân văn vì mục tiêu là phát triển con người Tôi mong rằng, tất cả chúng ta hãy thể hiện trách nhiệm xã hội của mình đối với sự phát triển của quốc gia, của khu vực và toàn cầu vừa với tư cách công dân, vừa với tư cách nhà khoa học
Chúc Hội thảo của chúng ta thành công tốt đẹp
Xin trân trọng cảm ơn!
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CẤP BÁCH
Trang 14xã hội Trên cơ sở làm rõ những lợi ích to lớn từ việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp và đánh giá khái quát tình hình thực thi trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, tác giả đã đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp
Cùng với công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, sự thành công trong việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế đang đặt ra cho đất nước nhiều vấn đề về môi trường và
xã hội bức xúc Chính những vấn đề đó đang đòi hỏi các chủ thể kinh tế, trong đó có
cả các doanh nghiệp, phải có trách nhiệm để góp phần giải quyết, nếu không bản thân sự phát triển kinh tế sẽ không bền vững và sẽ phải trả giả quá đắt về môi trường
và những vấn đề xã hội
Trên thực tế, không phải đến bây giờ, vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp mới được đặt ra; mà trái lại, ngay trong thời bao cấp, người ta cũng đã nói nhiều về trách nhiệm xã hội của các xí nghiệp đối với nhà nước và người lao động, cũng như đối với cộng đồng nói chung Nhưng, trong những năm gần đây, trách nhiệm xã hội được hiểu một cách rộng rãi hơn, không chỉ từ phương diện đạo đức, mà cả từ
phương diện pháp lý Những tác hại về môi trường do một số doanh nghiệp gây ra trong thời gian qua không những bị dư luận lên án về phương diện đạo đức, mà quan trọng hơn là cần phải được xử lý nghiêm khắc về phương diện pháp lý Do đó, không phải ngẫu nhiên, trong những năm gần đây, trên sách báo và nhiều diễn đàn ở Việt
Nam, thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệpđã và đang được sử dụng ngày
càng phổ biến Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp vẫn là vấn đề còn khá mới mẻ và được hiểu theo nhiều cách khác nhau Trong bài viết này, chúng tôi muốn tập trung làm rõ nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, vai trò của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và một số vấn
Trang 15
đề thực tiễn đang được đặt ra ở Việt Nam hiện nay
1 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: một số vấn đề lý luận
Thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp mới chính thức xuất hiện cách đây hơn 50 năm, khi H.R.Bowen công bố cuốn sách của mình với nhan đề “Trách nhiệm
xã hội của doanh nhân” (Social Responsibilities of the Businessmen) (1953) nhằm
mục đích tuyên truyền và kêu gọi người quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại
do các doanh nghiệp làm tổn hại cho xã hội Tuy nhiên, từ đó đến nay, thuật ngữ
trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đang được hiểu theo nhiều cách khác nhau Một
số người xác định “trách nhiệm xã hội hàm ý nâng hành vi của doanh nghiệp lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và kỳ vọng xã hội đang phổ biến” (Prakash, Sethi, 1975: 58 - 64) Một số người khác hiểu “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm sự mong đợi của xã hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất định” (Archie B Carroll, 1979), v.v
Hiện đang tồn tại hai quan điểm đối lập nhau về trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp Những người ủng hộ quan điểm thứ nhất cho rằng, doanh nghiệp không có trách nhiệm gì đối với xã hội mà chỉ có trách nhiệm với cổ đông và người lao động của doanh nghiệp, còn nhà nước phải có trách nhiệm với xã hội; doanh nghiệp đã có trách nhiệm thông qua việc nộp thuế cho nhà nước Trái lại, những người khác lại có quan điểm cho rằng, với tư cách là một trong những chủ thể của nền kinh tế thị
trường, các doanh nghiệp đã sử dụng các nguồn lực của xã hội, khai thác các nguồn lực tự nhiên và trong quá trình đó, họ gây ra những tổn hại không tốt đối với môi trường tự nhiên Vì vậy, ngoài việc đóng thuế, doanh nghiệp còn có trách nhiệm xã hội đối với môi trường, cộng đồng, người lao động, v.v
Còn ở Việt Nam, trong những năm gần đây, người ta thường sử dụng định nghĩa
của Nhóm phát triển kinh tế tư nhân của Ngân hàng thế giới về trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp Theo đó, “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate
Social Responsibility - CSR) là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã
Trang 16
hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội”(1) Nói cách khác, doanh nghiệp muốn phát triển bền vững luôn phải tuân theo những chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng về giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên và phát triển cộng đồng Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được thể hiện một cách cụ thể trên các yếu tố, các mặt, như: 1 Bảo vệ môi trường; 2 Đóng góp cho cộng đồng xã hội; 3 Thực hiện tốt trách nhiệm với nhà cung cấp; 4 Bảo đảm lợi ích và an toàn cho người tiêu dùng;
5 Quan hệ tốt với người lao động; và 6 Đảm bảo lợi ích cho cổ đông và người lao đông trong doanh nghiệp Trong đó, bốn yếu tố đầu tiên thể hiện trách nhiệm bên
ngoài của doanh nghiệp, còn hai yếu tố cuối thể hiện trách nhiệm bên trong, nội tại của doanh nghiệp Tất nhiên, sự phân chia thành trách nhiệm bên ngoài và trách nhiệm bên trong chỉ có ý nghĩa tương đối và không thể nói trách nhiệm nào quan trọng hơn trách nhiệm nào
Với những nội dung cụ thể như vậy về trách nhiệm xã hội thì việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không chỉ làm cho doanh nghiệp phát triển bền vững,
mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội nói chung
Như chúng ta đều biết, ở Việt Nam, phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu chiến lược và được đề ra từ những năm 80 của thế kỷ XX Cùng với thời gian, khái niệm phát triển bền vững đã có sự thay đổi về nội hàm và ngày càng được bổ sung thêm những nội dung mới
Xét về nguồn gốc, thuật ngữ phát triển bền vững ra đời từ những năm 70 của thế kỷ
XX và bắt đầu thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu về môi trường và phát triển
quốc tế nhờ sự ra đời của công trình Chiến lược bảo tồn thế giới(1980)(2) Sau đó, tư tưởng về phát triển bền vững được trình bày trong một loạt công trình, như Tương
lai chung của chúng ta (1987), Chăm lo cho trái đất (1991)(3) Khi nói về sự phát
triển bền vững, người ta thường sử dụng hai định nghĩa đã được nêu ra trong các
cuốn sách nói trên Trong cuốn Tương lai chung của chúng ta, phát triển bền vững
được hiểu là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến
khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai; còn trong cuốn Chăm lo cho trái
đất, phát triển bền vững được xác định là việc nâng cao chất lượng đời sống con
Trang 17
người khi đang tồn tại trong khuôn khổ bảo đảm các hệ sinh thái Nhìn chung, cả hai
định nghĩa đó đều quy phát triển bền vững về việc sử dụng một cách hợp lý tài
nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi truờng sao cho thế hệ hôm nay vẫn phát triển được
mà không làm ảnh hưởng đến tương lai của các thế hệ sau
Như vậy, nếu xét theo nguồn gốc của thuật ngữ, phát triển bền vững là một sự phát triển bảo đảm tăng trưởng kinh tế trên cơ sở sử dụng một cách hợp lý tài nguyên
thiên nhiên và bảo vệ được môi trường tự nhiên nhằm vừa có thể thỏa mãn được nhu cầu của thế hệ hôm nay, vừa không làm ảnh hưởng đến điều kiện thỏa mãn nhu cầu
và môi trường sống của các thế hệ mai sau Thực chất của sự phát triển bền vững là giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo đảm sự công bằng giữa các thế hệ trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo
vệ môi trường
Tuy nhiên, ở Việt Nam, ngoài nội dung trên đây, khái niệm phát triển bền vững còn được bổ sung thêm nhiều nội dung mới Việt Nam đang chủ trương xây dựng chiến lược phát triển bền vững phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước Nội dung cơ bản của chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam bao gồm:
Một là, phát triển nhanh phải đi đôi với tính bền vững Điều đó phải được kết hợp ở
cả tầm vĩ mô lẫn vi mô, ở cả tầm ngắn hạn lẫn dài hạn
Hai là, tăng trưởng về số lượng phải đi liền với nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức
cạnh tranh của nền kinh tế
Ba là, trong khi khai thác các yếu tố phát triển theo chiều rộng, phải đặc biệt coi
trọng các yếu tố phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức
Bốn là, phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển toàn diện con
người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo
Năm là, phải coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát
triển
Sáu là, phát triển kinh tế phải đi đôi với việc bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, coi
đây là tiền đề, điều kiện để phát triển nhanh và bền vững(4)
Trang 18
Có thể nói, đây là những nội dung cơ bản trong chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam Chiến lược đó đã thể hiện khá rõ sự kết hợp giữa quan điểm truyền thống, kinh điển và quan điểm mới, riêng của Việt Nam
Trong chiến lược phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam, chúng ta có thể nhận thấy rằng:
Thứ nhất, yếu tố ổn định chính trị - xã hội được xem là tiền đề, điều kiện để phát
triển nhanh và bền vững
Thứ hai, chiến lược phát triển nhanh, bền vững tập trung nâng cao chất lượng phát
triển, kết hợp giữa phát triển kinh tế với việc phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo, với việc coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển
Thứ ba, chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam đã đề cập một cách khá toàn
diện các khía cạnh khác nhau của sự phát triển, trong đó nổi lên việc giải quyết hài
hòa các mối quan hệ, như hài hòa giữa phát triển nhanh và bền vững, giữa tăng
trưởng về số lượng và nâng cao chất lượng, giữa phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu; hài hòa giữa phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ và cải thiện môi trường, v.v Hài hòa là một
trong những nội dung quan trọng của chiến lược phát triển bền vững
Thứ tư, vấn đề trọng tâm, mục tiêu cơ bản của chiến lược phát triển bền vững chính
là vấn đề dân sinh Điều đó được thể hiện trong nội dung của chiến lược mà chúng tôi vừa trình bày Chiến lược phát triển nhanh và bền vững đã chú trọng đến chất
lượng của sự tăng trưởng kinh tế, những mục tiêu của sự tăng trưởng hướng tới sự phát triển toàn diện của con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo, với việc coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển Rõ ràng, mục tiêu của sự tăng trưởng như vậy là nhằm giải
quyết ngày càng tốt hơn vấn đề dân sinh, bảo đảm cho mọi người dân có cuộc sống
ấm no và hạnh phúc Trên thực tế, chiến lược phát triển nhanh, bền vững là phương thức hữu hiệu bảo đảm cho sự phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
Trang 19
với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Rõ ràng là, với mục tiêu của phát triển bền vững như vậy, việc thực hiện trách nhiệm của doanh nghiệp góp phần quan trọng vào chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam
Mặt khác, khi tiếp cận trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, chúng ta cần tiếp cận cả
trên phương diện đạo đứclẫn phương diện pháp lý Chúng ta không nên chỉ hiểu
trách nhiệm của doanh nghiệp ở khía cạnh đạo đức của chủ doanh nghiệp, ở công tác
từ thiện của doanh nghiệp, mà cần hiểu cả ở khía cạnh pháp lý, tức thực thi trách
nhiệm xã hội là một yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp Việc kết hợp cả hai phương diện đạo đức và pháp lý là cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
2 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: một số vấn đề thực tiễn của Việt Nam
Trên thế giới, đối với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, trách nhiệm xã hội không còn là vấn đề xa lạ Các doanh nghiệp nếu thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của mình sẽ đạt được một chứng chỉ quốc tế hoặc áp dụng những bộ Qui tắc ứng xử (Code of Conduct hay gọi tắt là CoC) Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, những người tiêu dùng, nhà đầu tư, nhà hoạch định chính sách và các tổ chức phi chính phủ trên toàn cầu ngày càng quan tâm hơn tới ảnh hưởng của việc toàn cầu hoá đối với quyền của người lao động, môi trường và phúc lợi cộng đồng Những doanh nghiệp không thực hiện trách nhiệm xã hội có thể sẽ không còn cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế
Thực tế trên thế giới đã chỉ ra rằng, doanh nghiệp nào thực hiện tốt trách nhiệm xã hội thì lợi ích của họ không những không giảm đi mà còn tăng thêm Những lợi ích
mà doanh nghiệp thu được khi thực hiện trách nhiệm xã hội bao gồm giảm chi phí, tăng doanh thu, tăng giá trị thương hiệu, giảm tỷ lệ nhân viên thôi việc, tăng năng suất và thêm cơ hội tiếp cận những thị trường mới Chúng ta có thể dẫn ra đây một số
ví dụ về lợi ích của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Thứ nhất, thực hiện trách nhiệm xã hội góp phần giảm chi phí và tăng năng suất Một
doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí sản xuất nhờ đầu tư, lắp đặt các thiết bị
Trang 20
mới Chẳng hạn, một doanh nghiệp sản xuất bao bì lớn của Ba Lan đã tiết kiệm được
12 triệu đô la Mỹ trong vòng 5 năm nhờ việc lắp đặt thiết bị mới, nhờ đó làm giảm 7% lượng nước sử dụng, 70% lượng chất thải nước và 87% chất thải khí(5)
Chi phí sản xuất và năng suất lao động phụ thuộc chặt chẽ vào hệ thống quản lý nhân
sự Một hệ thống quản lý nhân sự hiệu quả cũng giúp doanh nghiệp cắt giảm chi phí
và tăng năng suất lao động đáng kể Chế độ lương, thưởng hợp lý, môi trường lao động sạch sẽ và an toàn, các cơ hội đào tạo và chế độ bảo hiểm y tế và giáo dục đều góp phần giảm tỷ lệ nhân viên nghỉ, bỏ việc, do đó giảm chi phí tuyển dụng và đào tạo nhân viên mới Tất cả cái đó góp phần giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động
Thứ hai, thực hiện trách nhiệm xã hội góp phần tăng doanh thu Mỗi doanh nghiệp
đều đứng trên địa bàn nhất định Do đó, việc đầu tư hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương có thể tạo ra một nguồn lao động tốt hơn, nguồn cung ứng rẻ và đáng tin cậy hơn và nhờ đó tăng doanh thu Chẳng hạn, Công ty Hindustan Lever, một chi nhánh của tập đoàn Unilever tại Ấn Độ, vào đầu những năm 70 chỉ hoạt động được với 50% công suất do thiếu nguồn cung ứng sữa bò từ địa phương và do vậy, đã bị lỗ trầm trọng Để giải quyết vấn đề này, công ty đã thiết lập một chương trình tổng thể giúp nông dân tăng sản lượng sữa bò Chương trình này bao gồm đào tạo nông dân cách chăn nuôi, cải thiện cơ sở hạ tầng cơ bản và thành lập một ủy ban điều phối những nhà cung cấp địa phương Nhờ đó, số lượng làng cung cấp sữa bò đã tăng từ 6 tới hơn 400, giúp cho công ty hoạt động hết công suất và đã trở thành một trong những chi nhánh kinh doanh lãi nhất tập đoàn(6)
Thứ ba, thực hiện trách nhiệm xã hội góp phần nâng cao giá trị thương hiệu và uy tín
của công ty Trách nhiệm xã hội có thể giúp doanh nghiệp tăng giá trị thương hiệu và
uy tín đáng kể Đến lượt nó, uy tín giúp doanh nghiệp tăng doanh thu, hấp dẫn các đối tác, nhà đầu tư và người lao động Trên thế giới, những công ty khổng lồ đang chi một khoản tiền rất lớn để trở thành hình mẫu kinh doanh lý tưởng Chẳng hạn, hãng điện tử dân dụng Best Buy đã có chương trình tái chế sản phẩm; hãng cà phê nổi tiếng Starbucks đã và đang bắt tay vào các hoạt động cộng đồng; hãng nước khoáng nổi tiếng của Pháp Evian phân phối sản phẩm của mình trong những chai
Trang 21
nước thân thiện với môi trường Những tập đoàn đa quốc gia như The Body Shop (tập đoàn của Anh chuyên sản xuất các sản phẩm dưỡng da và tóc) và IKEA (tập đoàn kinh doanh đồ dùng nội thất của Thụy Điển) là những ví dụ điển hình Cả hai công ty này đều nổi tiếng không chỉ vì các sản phẩm có chất lượng và giá cả hợp lý của mình, mà còn nổi tiếng là các doanh nghiệp có trách nhiệm đối với môi trường
và xã hội(7)
Thứ tư, thực hiện trách nhiệm xã hội góp phần thu hút nguồn lao động giỏi Nguồn
lao động giỏi, có năng lực là yếu tố quyết định năng suất và chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp Có một thực tế là, ở các nước đang phát triển, nguồn nhân lực được đào tạo có chất lượng cao không nhiều Vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp là làm thế nào thu hút, giữ chân họ và phát huy hết khả năng của họ trong hoạt động quản lý, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy, việc thu hút và giữ được nhân viên có chuyên môn tốt là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, những doanh nghiệp trả lương thỏa đáng và công bằng, tạo cho nhân viên cơ hội đào tạo, có chế độ bảo hiểm y tế và môi trường làm việc sạch sẽ có khả năng thu hút và giữ được nguồn nhân lực có chất lượng cao
Tất cả những điều nói trên là cơ sở để luận chứng cho sự cần thiết phải thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nói chung, đồng thời là những kinh nghiệm bổ ích, có giá trị tham khảo cho các doanh nghiệp Việt Nam
Trên thực tế, ở Việt Nam, vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp mặc dù là vấn
đề mới mẻ, nhưng bước đầu đã được một số bộ, ngành quan tâm, chú ý Bằng chứng
là, từ năm 2005, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Công thương cùng với các hiệp hội Da giày, Dệt may trao giải thưởng “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hướng tới sự phát triển bền vững” nhằm tôn vinh các doanh nghệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập Hiện nay, nhiều doanh nghiệp lớn ở Việt Nam đã nhận thấy rằng, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã trở thành một trong những yêu cầu không thể thiếu được đối với doanh nghiệp, bởi lẽ, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nếu doanh nghiệp không tuân thủ trách nhiệm xã hội của
Trang 22
doanh nghiệp sẽ không thể tiếp cận được với thị trường thế giới Nhiều doanh nghiệp khi thực hiện trách nhiệm xã hội đã mang lại những hiệu quả thiết thực trong sản xuất kinh doanh Kết quả khảo sát gần đây do Viện Khoa học lao động và xã hội tiến hành trên 24 doanh nghiệp thuộc hai ngành Giầy da và Dệt may cho thấy, nhờ thực hiện các chương trình trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, doanh thu của các doanh nghiệp này đã tăng 25%, năng suất lao động cũng tăng từ 34,2 triệu đồng lên 35,8 triệu đồng/1 lao động/năm; tỷ lệ hàng xuất khẩu tăng từ 94% lên 97% Bên cạnh hiệu quả kinh tế, các doanh nghiệp còn củng cố được uy tín với khách hàng, tạo được sự gắn bó và hài lòng của người lao động đối với doanh nghiệp, thu hút được lực lượng lao động có chuyên môn cao(8)
Do nhận thức được tầm quan trọng và ích lợi của việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, một số doanh nghiệp lớn của Việt Nam, ngoài trách nhiệm đóng thuế cho nhà nước, đã đăng ký thực hiện trách nhiệm
xã hội dưới dạng các cam kết đối với xã hội trong việc bảo vệ môi trường, với cộng đồng địa phương nơi doanh nghiệp đóng và với người lao động
Tuy nhiên, bên cạnh đó, phải thừa nhận rằng, trong thời gian qua ở Việt Nam, nhiều doanh nghiệp đã không thực hiện một cách nghiêm túc trách nhiệm xã hội của mình Điều đó thể hiện ở các hành vi gian lận trong kinh doanh, báo cáo tài chính, không bảo đảm an toàn lao động, sản xuất, kinh doanh hàng kém chất lượng, cố ý gây ô nhiễm môi trường Điển hình là các vụ xả nước thải không qua xử lý gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cho các dòng sông và cộng đồng dân cư của các Công ty Miwon, Công ty thuộc da Hào Dương, Công ty Giấy Việt Trì, công ty Hyundai Vinashin (Khánh Hòa), các vụ sản xuất thực phẩm chứa chất có hại cho sức khỏe con người, như nước tương có chứa chất 3-MCPD gây ung thư, bánh phở chứa phormol, thực phẩm chứa hàn the, sữa có chứa melamine Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp vi phạm các quy định pháp luật về lương bổng, chế độ bảo hiểm, vấn đề an toàn lao động cho người lao động cũng không còn là hiện tượng hiếm thấy, đã và đang gây bức xúc cho xã hội
Vấn đề đặt ra hiện nay là, cần tìm nguyên nhân của các hiện tượng và những giải pháp để khắc phục tình trạng đó
Trang 23
Hiện đang có những ý kiến khác nhau về nguyên nhân dẫn đến việc không thực hiện trách nhiệm xã hội của nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam Một số người cho rằng, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam chưa được luật hóa ở tất cả các doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp lớn có thị trường xuất khẩu, do yêu cầu của khách hàng nên buộc phải thực hiện trách nhiệm xã hội, còn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, do khó khăn về tài chính và thiếu ràng buộc về pháp lý nên nhiều doanh nghiệp chỉ hiểu trách nhiệm xã hội là “các khoản đóng góp từ thiện” Một số người khác cho rằng, việc thực hiện trách nhiệm xã hội sẽ làm tăng chi phí cho doanh nghiệp, làm giảm khả năng cạnh tranh ban đầu mà chưa thấy ngay được lợi ích trước mắt, do đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ không muốn thực hiện trách nhiệm xã hội Nói tóm lại, việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam còn
tương đối khó khăn Sở dĩ như vậy trước hết là do sự hiểu biết chưa đầy đủ của
doanh nghiệp về trách nhiệm xã hội; trách nhiệm xã hội doanh nghiệp chỉ đơn thuần
được hiểu là các khoản đóng góp từ thiện Thứ hai, việc thực hiện trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp cũng gây ra những khó khăn không nhỏ cho các doanh nghiệp do thiếu nguồn vốn và kỹ thuật để thực hiện các chuẩn mực trách nhiệm xã hội Điều này đặc biệt khó khăn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong khi đó hầu hết các doanh nghiệp ở Việt Nam là những doanh nghiệp vừa và nhỏ
Nói một cách toàn diện hơn, theo nghiên cứu năm 2002 của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam, những rào cản và thách thức lớn nhất cho việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm:
1 Nhận thức về trách nhiệm xã hội trong và giữa các doanh nghiệp Việt Nam còn có
Trang 24
đoàn
5 Sự thiếu minh bạch trong việc áp dụng trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trên thực
tế đang cản trở lợi ích thị trường tiềm năng mang lại cho doanh nghiệp
6 Mâu thuẫn trong các quy định của nhà nước khiến cho việc áp dụng bộ quy tắc ứng xử không đem lại hiệu quả mong muốn, ví dụ như mức lương, phúc lợi và các điều kiện tuyển dụng(9)
Những nguyên nhân được liệt kê ra trên đây có thể quy lại thành ba nguyên nhân
chính, đó là nguyên nhân về nhận thức,nguyên nhân kinh tế và nguyên nhân pháp lý
Do đó, để nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp, cần bám sát những nguyên nhân nói trên để đề ra những giải pháp phù hợp Cụ thể là:
Thứ nhất, cần tuyên truyền, giáo dục cho tất cả các doanh nghiệp, trước hết là các
chủ doanh nghiệp về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, phải làm cho họ hiểu rằng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không phải chỉ bó gọn trong công tác từ thiện Công tác tuyên truyền, giáo dục rất quan trọng, bởi tất cả những hành vi của con người đều thông qua ý thức của con người, đều do ý thức của họ điều khiển Do
đó, vấn đề đặt ra là, phải làm sao cho việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trở thành động cơ bên trong của các chủ doanh nghiệp Việc thực hiện trách nhiệm xã hội trước hết cần được xem là một hành vi đạo đức và được điều khiển bằng động cơ đạo đức Đây chính là giải pháp bên trong đạo đức
Thứ hai, cần xây dựng một hành lang pháp lý bắt buộc các doanh nghiệp phải thực
thi trách nhiệm xã hội một cách đầy đủ và nghiêm túc Điều này liên quan đến trách nhiệm của nhà nước trong việc tạo môi trường và khung pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động Khung pháp lý chính là biện pháp có hiệu lực nhất đối với việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; đồng thời, là giải pháp hỗ trợ đắc lực cho giải pháp về đạo đức, làm cho các động cơ đạo đức thường xuyên được củng cố và ngày càng có hiệu lực trên thực tế Cái khó khăn cho Việt Nam và các nước đang phát triển nói chung là trong bối cảnh cần phải thu hút đầu tư nước ngoài, nếu đặt nặng các mục tiêu về môi trường và xã hội thì các doanh nghiệp khó có thể thu hút đầu tư nước ngoài Nhưng, nếu không đặt mạnh vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thì những hậu quả về môi trường và xã hội sẽ không thể bù đắp được bằng
Trang 25(*) Phó giáo sư, tiến sĩ, Viện trưởng Viện Triết học, Tổng biên tập Tạp chí Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam
(1) Trích theo: ThS.Nguyễn Thị Thu Trang Trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp
Xem: http//www Doanhnhan360.com/PortletBlank.aspx/44D1988963164E
(2) Xem: IUCN World conservation strategy: Living resource conservation for
sustainable development IUCN, Gland, Switzeland, 1980
(3) Xem: World Commission on Environment and Development Our common future Oxford University Press, Oxford and New York, 1987; IUCN/UNEP/WWF Caring
for the earth: A strategy for sustainable living IUCN, Gland, Switzeland, 1991
4) Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.178 - 179
Trang 26
Dẫn luận
Mối liên hệ giữa doanh nghiệp, chính phủ và xã hội dân sự đang lan rộng ra toàn thế giới Ở phương Tây, các chương trình trách nhiệm doanh nghiệp và công dân doanh nghiệp đã xuất hiện ở nhiều doanh nghiệp dưới nhiều hình thức khác nhau Tính công bằng trong thương mại, điều kiện lao động và nền sản xuất thân thiện với môi trường đã trở thành những nội dung trọng tâm của trách nhiệm doanh nghiệp Thông qua các chương trình khác nhau, công dân doanh nghiệp (người lao động) đã được
cử tới các tổ chức xã hội hoặc tham gia vào các dự án xã hội Trong những năm gần đây, trách nhiệm doanh nghiệp và công dân doanh nghiệp được nhìn nhận như là bộ phận của quản lý bền vững với mục đích chính là đưa môi trường xã hội và môi trường sinh thái vào nội dung (của công tác) quản lý chứ không chỉ đơn thuần tính đến các chỉ số phát triển kinh tế
Trách nhiệm doanh nghiệp và công dân doanh nghiệp là những phát kiến của các doanh nghiệp có nguồn gốc từ Mỹ và được áp dụng ở đó từ hơn hai mươi năm trước Ngay từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX, những chương trình này đã có mặt ở nhiều nơi trên thế giới: không chỉ ở châu Âu, mà còn ở Nam Mỹ và ở châu Á
Xét về mặt lý thuyết, trên quan điểm xã hội học kinh tế mang tính toàn thể, trách nhiệm doanh nghiệp và công dân doanh nghiệp chủ yếu liên quan tới quá trình xóa
Trang 27Định nghĩa trách nhiệm doanh nghiệp và công dân doanh nghiệp
Trước khi đề cập đến tầm quan trọng của trách nhiệm doanh nghiệp đối với xã hội Việt Nam, chúng ta cần phải hiểu được sự khác biệt giữa khái niệm trách nhiệm doanh nghiệp và khái niệm công dân doanh nghiệp, bởi nội hàm của những thuật ngữ mới này không phải lúc nào cũng rõ ràng và thường khiến chúng ta nhầm lẫn chúng với nhau Trách nhiệm doanh nghiệp và công dân doanh nghiệp có thể được định nghĩa như sau
Trách nhiệm doanh nghiệp bao gồm cả trách nhiệm xã hội lẫn trách nhiệm với môi
trường, đề cập tới các hoạt động được tiến hành trong phạm vi kinh doanh cốt lõi (trọng tâm) của doanh nghiệp - đó là các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp, bao gồm các lĩnh vực xã hội, như công bằng thương mại, cải thiện các điều kiện làm việc, kiểm soát chuỗi giá trị gia tăng và những vấn đề như (quy trình) sản xuất thân thiện với môi trường ở các cơ sở trong và ngoài nước
Khác hẳn với trách nhiệm doanh nghiệp, công dân doanh nghiệp không liên quan đến hoạt động kinh tế, mà gắn liền và hỗ trợ môi trường xã hội và môi trường sinh thái thông qua các chương trình công dân doanh nghiệp của doanh nghiệp Công dân doanh nghiệp gắn với ý tưởng thu hút sự tham gia vào những sinh hoạt cộng đồng, thể hiện rõ trong khẩu hiệu “Hoàn trả lại cho cộng đồng” Đó là khẩu hiệu dựa trên khái niệm của người Ănglo Saxon, khi họ coi các doanh nghiệp như là những công dân, những thành viên của xã hội và do vậy, không chỉ hưởng quyền lợi mà còn phải
có nghĩa vụ với xã hội Vì thế, thông qua công dân doanh nghiệp, các doanh nghiệp phải hướng tới mục đích được xã hội nhìn nhận như là “những công dân doanh nghiệp lành mạnh”
Sơ đồ dưới đây cho thấy sự khác biệt giữa trách nhiệm doanh nghiệp (bên trong doanh nghiệp - một phần của hoạt động kinh doanh chính) và công dân doanh nghiệp (bên ngoài doanh nghiệp - phần bổ sung cho những hoạt động kinh doanh chính), cũng như với một số hình thức công dân doanh nghiệp truyền thống và hiện đại Những động cơ thúc đẩy công dân doanh nghiệp có thể thuần túy mang tính nhân đạo
Trang 28
hoặc mang tính chiến lược khi nó được xem như một nhân tố kinh doanh Nói một cách đơn giản, trách nhiệm doanh nghiệp đề cập đến trách nhiệm kinh doanh, còn
công dân doanh nghiệp là hoạt động từ thiện (Xem sơ đồ ở bản in)
Tuy nhiên, cần phải phân biệt rõ nội hàm của công dân doanh nghiệp, bởi trên thực
tế, chúng ta dường như không thể xác định được một cách hoàn toàn rõ ràng tính công dân doanh nghiệp của nhiều hoạt động doanh nhiệp Chẳng hạn, những hoạt động thuần túy từ thiện mà thường không được coi là "thực sự" mang tính công dân doanh nghiệp, bởi ở đây, trách nhiệm hay sự tham gia của cổ đông cũng như của cộng đồng không được xác định rõ ràng Các hoạt động tài trợ cho thể thao và văn hóa, nghệ thuật rõ ràng là nhằm mục tiêu quảng cáo và tiếp thị, nên chúng không mang tính công dân doanh nghiệp Những đóng góp của hoạt động chính trị và vận động hành lang cũng nằm ngoài phạm vi của công dân doanh nghiệp
Dưới đây, chúng tôi sẽ nói về trách nhiệm doanh nghiệp ở châu Á, đặc biệt là những nước được gọi là "hậu xã hội chủ nghĩa" ở châu Á
Trách nhiệm doanh nghiệp ở châu Á
Trách nhiệm doanh nghiệp phát sinh từ các nền kinh tế thị trường tự do
Sự mở rộng trên phạm vi toàn cầu đã dẫn đến những nhận thức khác nhau về trách nhiệm doanh nghiệp, thậm chí khác xa với những gì trách nhiệm doanh nghiệp được khởi xướng và áp dụng ở Mỹ hay ở châu Âu sau này Trách nhiệm doanh nghiệp chứa đựng các yếu tố lịch sử và văn hóa (cụ thể), nên nó có những nội hàm đặc thù khác nhau ở những khu vực khác nhau trên thế giới Hơn nữa, cũng nên nhớ rằng, ý
tưởng về trách nhiệm doanh nghiệp được nảy sinh từ các nền kinh tế thị trường tự
do Ngược lại trong các nền kinh tế thị trường mang tínhxã hội và thậm chí, ở các
nền kinh tế mà những thể chế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, chẳng hạn như ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hay Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, người ta có thể nhận thấy những thực tế khác hẳn nhau và do đó, có những cách hiểu rất đa dạng về việc ai là người chịu trách nhiệm về những tác động của hoạt động kinh doanh đối với xã hội và môi trường Những lý giải khác nhau trên phạm vi toàn cầu về trách nhiệm doanh nghiệp đã tạo ra những mô hình lý luận và thực tiễn áp dụng hết sức đa dạng, mang đậm sắc thái văn hóa của các nước và khu vực khác nhau, kể cả các nước
ở châu Á
Trang 29độ và phạm vi phát triển của trách nhiệm doanh nghiệp và miêu tả những "thực tiễn điển hình" của phần lớn các doanh nghiệp (nước ngoài) Trách nhiệm doanh nghiệp thường được nhận thức và đánh giá một cách có chủ ý hoặc ngầm định theo những chuẩn mực của phương Tây (Mỹ) Điều tương tự như vậy cũng có thể được nhận thấy trong các tài liệu quảng cáo về hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân
Nói chung, chúng ta có thể nhận thấy sự thiếu hụt của các công trình nghiên cứu mang tính thực nghiệm và do vậy, khó có thể hiểu rõ được vì sao và bằng cách nào
mà những ý tưởng về trách nhiệm kinh doanh và trách nhiệm giải trình đang trở thành phổ biến ở khu vực châu Á Thậm chí, cả cái được gọi là các hình thức cận - hiện đại của hành vi có trách nhiệm và mối tương quan của chúng với các khái niệm hiện đại về trách nhiệm doanh nghiệp cũng rất ít được biết đến
Mặc dù cách tiếp cận phi - lý thuyết này về trách nhiệm doanh nghiệp, nhìn chung, là khá hời hợt, nhưng trách nhiệm doanh nghiệp đã bị phê phán ở châu Á, đặc biệt là ở Nhật Bản và các nước được gọi là “con rồng Á châu” Trong những nghiên cứu như vậy, nhất thiết phải có thái độ phê phán mạnh mẽ hơn nữa để phủ nhận quan điểm thuần túy kinh doanh và đòi hỏi các công ty phải giải trình những ngầm định của họ, cũng như buộc họ phải chú ý đến những điều kiện đặc thù về văn hóa và xã hội của các nước đang phát triển, nơi mà các công ty này tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình Tuy nhiên, ngay cả cách tiếp cận phê phán này cũng vẫn còn thiếu tính
Trang 30Nói tóm lại, cách tiếp cận phổ biến ở châu Á về trách nhiệm doanh nghiệp chưa đủ khả năng để giải thích một cách đúng đắn sự xuất hiện của trách nhiệm doanh nghiệp
cả về mặt lý thuyết lẫn về mặt thực tiễn, cũng như cách thức châu Á tiếp cận với các khái niệm phương Tây về trách nhiệm doanh nghiệp và sự tác động của các chiến lược trách nhiệm doanh nghiệp được áp dụng trong bối cảnh châu Á Đặc biệt, mối liên hệ qua lại giữa các cổ đông với nhau, giữa các cổ đông với doanh nghiệp, vai trò của nhà nước và chính trị cũng không được đề cập Do vậy, điều chúng tôi quan tâm là, liệu những tranh luận mang tính hàn lâm về những vấn đề nêu trên có xuất hiện không
và liệu những cuộc tranh luận mang tính khoa học như vậy có giữ vai trò nào không đối với công chúng Thêm nữa, chúng tôi cũng quan tâm đến việc các học giả Việt Nam đã suy nghĩ như thế nào đối với những tranh luận quốc tế về vấn đề này
Để chúng ta có thể hiểu nhau hơn, chúng tôi xin đề xuất một quan điểm mang tính liên văn hóa và đa ngành về trách nhiệm doanh nghiệp như là cơ sở để chúng ta hiểu được thực tiễn Việt Nam Thêm vào đó, chúng ta cũng cần phải có một số tiền đề lý luận lấy từ các lĩnh vực, như xã hội học, khoa học quản lý, nghiên cứu kinh doanh, nghiên cứu phát triển, chính trị học và kinh tế học về sự phát triển cũng như hình thái của trách nhiệm doanh nghiệp ở Việt Nam cũng như trong khu vực Chúng tôi cho rằng, nếu dựa trên cách tiếp cận toàn thể vẫn thường được ứng dụng trong các ngành học, như đạo đức kinh doanh và xã hội học kinh tế thì chúng ta có thể có được sự lý giải một cách hợp lý nhất sự xuất hiện mang tính địa phương cũng như trên phạm vi toàn cầu của trách nhiệm doanh nghiệp
Trách nhiệm doanh nghiệp và tư nhân
Trách nhiệm xã hội, trách nhiệm với môi trường và phát triển bền vững được thảo luận rộng rãi ở các diễn đàn châu Á chủ yếu dưới hình thức các tranh luận về những
vụ tai tiếng (xì căng đan), thất bại và tội phạm Người ta thường nói về việc khai thác
và sử dụng mang tính hủy hoại đối với tài nguyên thiên nhiên, về điều kiện làm việc
Trang 31
tồi tệ, sự lạm dụng lao động trẻ em, cũng như sữa nhiễm độc, đồ chơi độc hại cho trẻ em… Thậm chí, ở những nước phát triển hơn ở châu Á, những sự vụ kiểu như vậy còn bị coi là những sự cố bi thảm và thất bại cá nhân Rất hiếm khi các phương tiện truyền thông hay công luận đề cập đến các vấn đề chung về trách nhiệm xã hội và trách nhiệm giải trình Thêm vào đó, những vấn như vậy, về thực chất, là những vấn
đề rất nguy hại đối với các nước đang hướng đến phát triển kinh tế thị trường, tư nhân hóa và tự do hóa kinh doanh Việc xác định ai là người phải chịu trách nhiệm đối với sự hủy hoại môi trường và những thiệt hại của con người thường bị bỏ qua và mâu thuẫn đang xuất hiện giữa doanh nghiệp (tư nhân) và trách nhiệm điều hành (công) cũng không được phân biệt rạch ròi Do vậy mà người dân thường cảm thấy bất an khi đề cập đến vấn đề ai là người phải chịu trách nhiệm giải trình về những tai nạn, thiệt hại và những hậu quả thảm khốc do kinh doanh (kinh tế) tư nhân đem lại Mặc dù người dân ở những nước châu Á như Việt Nam đều thừa nhận những lợi ích
do nền kinh tế thị trường đem lại, nhưng họ lại không biết bày tỏ với ai những e ngại
và lo sợ của mình đối với tiến trình đó Thông tin đại chúng, và điều này cũng đúng với trường hợp Việt Nam, đã cho thấy rõ những vấn đề này
Trong nhiều trường hợp, áp lực của công chúng, thường thể hiện qua truyền thông, là động lực chính của trách nhiệm doanh nghiệp Do vậy, điều đáng quan tâm là, ở mức
độ nào thì trách nhiệm xã hội và trách nhiệm đối với môi trường của doanh nghiệp được thừa nhận một cách công khai, được bàn luận trên báo chí và trên các phương tiện truyền thông của Việt Nam, và liệu các doanh nghiệp có cảm nhận được áp lực của công chúng buộc họ phải tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình một cách
có trách nhiệm hay không?
Đảng và Nhà nước với sự phát triển của trách nhiệm doanh nghiệp
Trách nhiệm doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là công việc kinh doanh, mà còn là mối quan tâm chính đáng của chính phủ và nhà nước, đặc biệt là ở những nước có sự lãnh đạo của Đảng hay Nhà nước như Việt Nam Ở đây, Nhà nước là người có tiếng nói quyết định đối các vấn đề liên quan đến sở hữu các doanh nghiệp, tập đoàn và do vậy, đến trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp Khi các doanh nghiệp vẫn còn là doanh nghiệp do Nhà nước quản lý (quốc doanh) thì Chính phủ (và cả Đảng) phải có trách nhiệm với các hoạt động của doanh nghiệp, chí ít thì Chính phủ cũng phải có
Trang 32
trách nhiệm giải trình về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, điều kiện làm việc và quy trình sản xuất các sản phẩm thân thiện với môi trường và xã hội Chẳng hạn như, cách thức mà Đảng và Chính phủ Việt Nam đứng về phía người lao động để giải quyết những vấn đề liên quan đến các doanh nghiệp quốc doanh hoạt động thiếu hiệu quả và không đem lại lợi nhuận là một thành công “Ngăn chặn nạn thất nghiệp quy
mô lớn” đã từng là một cam kết quan trọng trong thời kỳ đổi mới ở những năm 90 Song, hiện nay, ảnh hưởng của Đảng và Chính phủ Việt Nam đối với các doanh nghiệp tư nhân vẫn chưa thật sự rõ ràng không những đối với những vấn đề liên quan đến điều kiện sống và làm việc của người lao động, mà cả đối với môi trường sinh thái
Rõ ràng là, biên độ mà một công ty thực thi trách nhiệm doanh nghiệp là khác nhau, tương ứng với loại hình tổ chức của mình (doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp do nhà nước quản lý hay doanh nghiệp nhà nước); mỗi công ty có các bộ khung (hành lang) pháp lý khác nhau Do vậy, có lẽ chúng ta nên xem xét không những trách nhiệm doanh nghiệp đã được áp dụng như thế nào ở các doanh nghiệp của Việt Nam,
mà còn phải biết các hình thức (kiểu loại) tổ chức doanh nghiệp nói chung có ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động của các doanh nghiệp ấy
Thực ra thì Đảng và Nhà nước Việt Nam có (đầy đủ) khả năng định hướng sự phát triển của trách nhiệm doanh nghiệp thông qua các hình thức khen thưởng hay luật định Chúng tôi cũng muốn biết các chính khách Việt Nam đã nhận thức và có thái
độ ở mức độ nào đối với vấn đề này và họ đóng vai trò nào (thúc đẩy, khuyến khích) hay không đóng vai trò nào cả trong việc thúc đẩy, tạo điều kiện cho sự phát triển của trách nhiệm doanh nghiệp Do vậy, việc nghiên cứu trách nhiệm doanh nghiệp sẽ
có ý nghĩa hơn, khi nó được đặt trong một bối cảnh rộng lớn hơn của những thay đổi quan trọng đang diễn ra trong Đảng và Chính phủ và trong cả toàn bộ xã hội Việt Nam nói chung Theo chúng tôi hiểu thì Chính phủ Việt Nam, một Chính phủ cởi mở với các cải cách và đổi mới, có thể trở thành người tạo điều kiện, đóng vai trò trung gian và giám sát các cuộc thảo luận về trách nhiệm như vậy
Xã hội dân sự thì sao?
Các tác nhân không thuộc (khu vực) nhà nước (đặc biệt là các hiệp hội phi - chính phủ và phi - lợi nhuận) có thể là các nhà vận động và những người hưởng lợi từ sự
Trang 33
phát triển (hoạt động) của trách nhiệm doanh nghiệp Tuy nhiên, các tổ chức này lại thường lo ngại bị lôi cuốn vào các hoạt động kinh doanh và do vậy, họ không chấp nhận trách nhiệm doanh nghiệp Các tổ chức công đoàn cũng thường tỏ thái độ hoài nghi đối với trách nhiệm doanh nghiệp Tình hình có thể khác ở những nước mà công đoàn là một tổ chức có tính nhà nước và chịu ảnh hưởng của tổ chức đảng Vấn
đề là ở chỗ, các đoàn thể (hiệp hội, tổ chức đó) tham gia tích cực như thế nào vào các cuộc tranh luận về trách nhiệm doanh nghiệp ở Việt Nam
Kết luận
Áp lực của các tổ chức quốc tế đối với các nước châu Á trong việc cổ động và tạo điều kiện để cho trách nhiệm doanh nghiệp phát triển và lan rộng ngày một tăng Tuy nhiên, như chúng tôi đã đề cập ở trên, cho đến nay, tình hình nghiên cứu thực tiễn (phát triển) của trách nhiệm doanh nghiệp ở châu Á vẫn là một bức tranh chưa đầy
đủ Để có thể nhận thức đầy đủ về thực tế này thì cách tiếp cận mang tính toàn thể là điều cần phải có Cách tiếp cận như vậy sẽ trực tiếp đương đầu (giải quyết) đối với các vấn đề về trách nhiệm xã hội và trách nhiệm giải trình Do vậy, cần phải có một cuộc thảo luận với sự tham gia của các tổ chức chính trị Để có thể hiểu được sự phát triển của trách nhiệm doanh nghiệp ở Việt Nam, cần phải đề cập đến một số vấn đề
quan trọng, như: Thứ nhất, liệu chúng ta có thể xác định rõ những nhóm tạo áp lực (pressure groups) ở Việt Nam là ai không?Thứ hai, tầm ảnh hưởng của xã hội dân sự
ở Việt Nam mạnh đến mức độ nào? Và, cuối cùng, về mặt xã hội, cần phải có cái gì
để có thể tạo dựng được những đối thoại giữa các cổ đông, sự hợp tác (đối tác thực sự) giữa doanh nghiệp với các tổ chức phi - chính phủ hoặc những công dân năng động, tích cực (hoặc là những đối tác bên ngoài, bao gồm cả sự có mặt của (các cơ quan) nhà nước)?r
Người dịch: ThS.VŨ MẠNH TOÀN (Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt
Nam)
(*) Giáo sư Kinh tế và Chính sách xã hội, Đại học Khoa học ứng dụng Munich, Cộng hoà Liên bang Đức, Giáo sư Chính sách xã hội, Đại học Bozen (Italy)
Trang 34Thuật ngữ “hài hoà” xuất hiện từ rất sớm trong các hệ thống triết học thời cổ đại, cả
ở phương Đông lẫn ở phương Tây Tuy nhiên, thuật ngữ này chỉ mới được sử dụng trong lĩnh vực xây dựng và phát triển xã hội trong thời gian gần đây Trong bài viết này, chúng tôi xin được trao đổi một số suy nghĩ của mình về lý luận xây dựng xã hội hài hoà của Trung Quốc và một số điểm tương đồng của nó với đường lối đổi mới ở Việt Nam hiện nay
1 Về tư tưởng hài hoà và lý luận xây dựng xã hội hài hoà
Ngay từ thời cổ đại, cùng với những khái niệm cơ bản của triết học như “biện
chứng”, “mâu thuẫn” , khái niệm “hài hoà” cũng đã xuất hiện dưới các mô thức
khác nhau Chẳng hạn, trong hệ thống triết học của trường phái Pitago, một mặt, hài hoà là quy tắc cơ bản của số; mặt khác, số lại là nguồn gốc của các sự vật trong thế
giới Tương đồng với vế thứ hai của luận điểm này, Platôn cho rằng, quy tắc của số
là hài hòa, các con số là một bản chất của các sự vật cảm tính Như vậy, từ chỗ xem hài hoà là thuộc tính (quy tắc) cơ bản của các con số, các trường phái triết học này
đã đi đến quan niệm coi mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều là hài hoà
Nhà biện chứng Hêraclít, từ chỗ quan niệm vận động và đứng im là một sự thống
nhất của các mặt đối lập đã đi đến kết luận cho rằng, đấu tranh và hài hoà thống nhất với nhau, chúng tồn tại không thể thiếu nhau và chúng được thể hiện ra thông
Trang 35
qua nhau Ông khẳng định dòng sông luôn chảy, đồng thời nhấn mạnh rằng không
có gì ổn định và bất biến hơn dòng sông luôn chảy; nói cách khác, tính biến đổi của dòng sông không loại trừ sự đứng im của nó và tính xác định của dòng sông không loại trừ sự vận động của nó Ông còn khẳng định: “khi biến đổi, nó đứng im” Rõ ràng, với những quan niệm trên đây, chúng ta có thể thấy Hêraclít đã đề cập đến cái hài hoà trong đấu tranh, thống nhất trong phân đôi, đồng nhất trong khác biệt Trong lý luận về logos, ông khẳng định logos là sự thống nhất của mọi hiện hữu
Như vậy, sự thống nhất ở đây là sự đồng nhất của những cái đa dạng, là sự hài hoà
giữa các mặt đối lập Ông cho rằng, ngày và đêm, thiện và ác không phải là một,
nhưng chúng là những đối lập nối tiếp nhau tạo ra tính chu kỳ, tính lặp lại Bản thân tính chu kỳ và sự lặp lại đó được quy định bởi sự thống nhất, sự hài hoà giữa các mặt đối lập Từ những phân tích trên đây có thể thấy, ở phương Tây, khái niệm “hài hoà” ra đời từ rất sớm và nó đã thực sự là một khái niệm quan trọng trong tư tưởng triết học phương Tây cổ đại
Trong lịch sử tư tưởng phương Đông, các nhà tư tưởng Trung Quốc cũng có những quan niệm khá đặc sắc về “hài hoà” Tư tưởng “thiên nhân hợp nhất” thể hiện đậm nét quan niệm về sự hài hoà giữa con người và tự nhiên Quan niệm này nhấn mạnh
con người phải hoà nhập với thiên nhiên, tôn trọng và bảo vệ tự nhiên, phải sống
hài hoà với tự nhiên Quan niệm này tồn tại và phát triển xuyên suốt lịch sử tư
tưởng Trung Quốc cổ đại
Bên cạnh quan niệm về sự hài hoà giữa con người và tự nhiên, các nhà tư tưởng
Trung Quốc cũng rất quan tâm đếnsự hài hoà giữa con người và con người, giữa
con người và xã hội Họ đã đưa ra nhiều tư tưởng về duy trì sự đoàn kết và sự ổn
định xã hội, đó là các tư tưởng về “xã hội đại đồng”, “thái bình thịnh trị”; về tình bằng hữu: “bốn biển đều là anh em”, Nhìn chung, theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, khái niệm hài hoà là một trong những khái niệm quan trọng trong lịch
sử tư tưởng Trung Quốc cổ, trung đại và nó ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của đất nước Trung Quốc Trong di sản của các nhà tư tưởng cổ đại Trung Quốc, chúng tôi nhận thấy tư tưởng biện chứng của Lão Tử có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với lý luận xây dựng xã hội hài hòa Tư tưởng biện chứng của ông xem trọng tính thống nhất (hài hòa) giữa các mặt đối lập, coi trọng mối quan hệ tương tác,
Trang 36
tương sinh mà không bàn đến mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn (đấu tranh và đấu
tranh để giải quyết mâu thuẫn) Ông coi quy luật bình quânlà cơ sở cho sự phát
triển của mọi sự vật, hiện tượng nói chung, của xã hội nói riêng Chúng ta có cơ sở
để khẳng định rằng, trong lịch sử Trung Quốc, một xã hội “thái bình, thịnh trị” chính là biểu hiện sơ khai của một xã hội hài hoà
Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, quan niệm hài hoà cũng đã được đề cập đến Chẳng hạn, trong lịch sử, cũng có thời kỳ người Việt Nam lấy Phật giáo, hoặc Nho giáo làm tư tưởng chủ đạo, song trên tổng thể xã hội mà nói, tam giáo dung hoà luôn là xu hướng được chú ý Chính vì lẽ đó đã hình thành tư tưởng “tam giáo đồng nguyên” Thậm chí, xu hướng này còn đậm nét hơn cả ở Trung Quốc Trong lịch
sử dựng nước và giữ nước, tư tưởng hoà hợp luôn được người Việt Nam đề cao Chẳng hạn, các tư tưởng như “hòa hợp”, “đồng tâm hiệp lực”, “trên dưới đồng lòng”, “hòa hợp dân tộc”, “đại đoàn kết dân tộc” Có thể nói, sự hài hoà cũng là một nhân tố tạo nên sức mạnh truyền thống của người Việt Nam
Chủ nghĩa Mác ra đời khi chủ nghĩa tư bản đã phát triển khá mạnh ở các nước phương Tây, đưa phương Tây trở thành trung tâm của văn minh nhân loại Tuy nhiên, cùng với những tiến bộ đã đạt được, chủ nghĩa tư bản cũng để lại nhiều hậu quả về xã hội, đặc biệt là tạo ra nhiều mâu thuẫn gay gắt trong lòng xã hội Phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản nhằm xây dựng một xã hội mới ngày càng mạnh
mẽ và sâu rộng Chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng trở thành vũ khí tinh thần, cơ sở lý luận cho công cuộc cải tạo xã hội ấy
Triết học Mác xem lý luận phát triển là trọng tâm và học thuyết mâu thuẫn - đấu tranh và thống nhất của các mặt đối lập - là hạt nhân của nó Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập phản ánh một cách sâu sắc lôgíc nội tại của sự tồn tại
và phát triển xã hội loài người Chúng tôi thiết nghĩ, ý nghĩa thực tiễn sâu xa của quy luật này phải chăng là: tuỳ điều kiện thực tế mà vận dụng hoặc đề cao sự đấu tranh giữa các mặt đối lập, hoặc đề cao sựthống nhất - hài hoà giữa các mặt đối lập, trong đó phải tính đến sự phát triển trong sự hài hoà giữa các mặt đối lập Trong bối cảnh hiện tại, khi xã hội hướng tới sự ổn định để phát triển thì việc đề cao sự phát triển trong sự hài hòa giữa các mặt đối lập là cần thiết Và đó chính là cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng xã hội hài hòa Đây thực sự là một vấn đề lớn cần được đi sâu nghiên
Trang 37
cứu để có những kiến giải cụ thể hơn
Kế thừa các tư tưởng về hài hoà trong lịch sử, vận dụng sáng tạo lý luận phát triển của chủ nghĩa Mác, trong quá trình cải cách và mở cửa, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã dần dần xây dựng lý luận về chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc
mà đỉnh cao là lý luận “xây dựng xã hội hài hoà” Ngày 19 - 9 - 2004, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 4, khóa XVI, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chính thức đề ra mục tiêu chiến lược: “Xây dựng xã hội hài hòa” Nội dung cơ bản của lý luận xã hội
hài hoà là dân chủ pháp trị, công bằng chính nghĩa, trật tự ổn định, thành tín hữu
ái, tràn đầy sức sống, con người và tự nhiên có mối quan hệ hài hoà(1)
Từ đó đến nay, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tập trung mọi nỗ lực lãnh đạo nhân
dân xây dựng xã hội hài hoà xã hội chủ nghĩa Bên cạnh đó, cũng diễn ra nhiều
cuộc thảo luận góp phần làm rõ nhiều nội dung của lý luận xây dựng xã hội hài hoà Nói một cách khái quát nhất, chúng ta có cơ sở để khẳng định rằng, xét từ khía cạnh
triết học, xã hội hài hoà là xã hội ở trạng thái tồn tại và phát triển cân đối, điều hòa
giữa các mặt của đời sống xã hội, giữa các cộng đồng dân cư, giữa con người với tự nhiên, là giai đoạn lý tưởng và hình thức hoàn mỹ của sự phát triển trong sự thống nhất của các mặt đối lập Thực tiễn công tác lý luận những năm qua ở Trung Quốc đã
chứng tỏ sức sống của lý luận này và chúng ta hoàn toàn có thể xem xây dựng xã hội hài hoà chính là mục tiêu nhất quán của Trung Quốc trong thời gian tới
Ở Việt Nam, dư âm của lý luận xây dựng xã hội hài hoà cũng không nhỏ Gần đây, nhiều nhà lý luận, nhiều nhà khoa học rất chú ý tới lý luận này và cố gắng liên hệ
nó với thực tiễn phát triển của xã hội Việt Nam Từ quan điểm cá nhân, chúng tôi nghĩ rằng, xét trên khía cạnh văn hoá truyền thống cũng như con đường phát triển hiện nay, hai nước chúng ta có những điểm tương đồng sâu sắc Vì vậy, việc tham khảo những thành quả lý luận và thực tiễn của mỗi nước là việc làm cần thiết Tất nhiên, sức sống của một lý luận - xây dựng xã hội hài hoà - rồi đây sẽ được thực tiễn kiểm nghiệm, song việc tìm hiểu và thảo luận về nó luôn là cần thiết Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Việt Nam cũng đang từng bước xây dựng lý thuyết phát triển của riêng mình Dưới đây, chúng tôi xin đề cập đến những nét tương đồng giữa lý luận xây dựng xã hội hài hoà ở Trung Quốc với những mục tiêu
cơ bản mà công cuộc đổi mới ở Việt Nam đang đặt ra
Trang 38
2 Về một số điểm tương đồng giữa lý luận xây dựng xã hội hài hoà và đường lối
đổi mới ở Việt Nam hiện nay
Từ mục tiêu xây dựng xã hội hài hoà được Đảng Cộng sản và Nhà nước Trung Quốc xác định, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã đi sâu phân tích, làm rõ những nội dung cơ bản của xã hội hài hoà trên những khía cạnh khác nhau Một số những nghiên cứu ấy đã được chuyển tải vào Việt Nam thông qua trao đổi sách báo, Hội thảo khoa học và thông tin đại chúng Từ mục tiêu và những nội dung ấy, chúng ta thấy có những tương đồng đáng ghi nhận giữa lý luận xây dựng xã hội hài hoà với
lý luận về đổi mới ở Việt Nam hiện nay
Trước hết, về nội hàm của khái niệm hài hoà Có tác giả cho rằng, hài hoà ở đây là
chỉ các sự vật khác nhau, các bộ phận khác nhau của sự vật, các thành phần khác nhau cùng tồn tại cộng sinh bên cạnh nhau một cách hoà bình, nhịp nhàng(2) Khi phân tích về xã hội hài hoà, tác giả Trung Quốc Dương Quốc Học đã viết: ““Hài hoà” trong xã hội hài hoà là sự phát triển kết hợp của nhiều nhân tố xã hội, nó biểu hiện ở kinh tế, chính trị, văn hoá, Xã hội hài hoà là xã hội ổn định có trật tự Nhưng ổn định ở đây là một loại ổn định tương đối và một loại ổn định không ngừng phát triển”(3) Như vậy, hài hoà trước hết là sự ổn định, song không phải là
sự ổn định chết cứng mà là ổn định để phát triển Ở Việt Nam, khi tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam luôn đặc biệt chú ý đến vấn
đề ổn định xã hội, lấy ổn định xã hội làm cơ sở cho đổi mới, cho phát triển Về đổi mới chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn cho rằng đó là nhiệm vụ hết sức cần
thiết, tuy nhiên phải tiến hành cẩn trọng và có bước đi chắc chắncùng với đổi mới
kinh tế và các mặt khác của đời sống xã hội Sự đúng đắn và nhất quán của quan niệm này đã tránh cho Việt Nam những sai lầm không đáng có mà quá trình cải cách, cải tổ ở nhiều nước đã xảy ra Trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế, Việt Nam luôn giữ được sự ổn định - ổn định về chính trị, ổn định về xã hội Chính
sự ổn định ấy là tiền đề cho sự phát triển với nhịp điệu tương đối nhanh và ổn định trong suốt thời gian dài vừa qua Đường lối đại đoàn kết dân tộc, hoà hợp dân tộc của Việt Nam chính là sự đề cao tinh thần đoàn kết - “hài hoà” giữa các cộng đồng, giới trên lãnh thổ Việt Nam cùng nhau xây dựng và phát triển đất nước
Về mục tiêu chung Trong công cuộc đổi mới đất nước, Việt Nam đã xác định xây
Trang 39
dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” Từ mục tiêu chiến lược đó, Việt Nam đã từng bước cụ thể hoá trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội qua từng bước đi của mình Trong quá trình ấy, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đã xây dựng những định hướng cơ bản để thực hiện mục tiêu chiến lược trên
Trong báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ X đã chỉ rõ: “Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi
và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ và bền vững hơn cho phát triển kinh tế - xã hội”(4) Trong định hướng chiến lược trên, “sự phát triển hài hoà” giữa các mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu
xã hội, đã được hết sức chú ý, thậm chí trong sự hài hoà này, các mặt tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội gắn liền thành một chỉnh thể hữu cơ Với mục tiêu lâu dài
và cụ thể trên, chúng ta thấy có sự tương đồng rất rõ với nội dung của lý luận xây dựng xã hội hài hoà của Trung Quốc
Nội dung xây dựng xã hội hài hoà (đã nhắc ở trên) của Đảng Cộng sản Trung Quốc
đã bộc lộ một cách rõ ràng sự phát triển hài hoà giữa các mặt của đời sống xã hội
“kiên trì lấy con người làm gốc, chỉnh đốn toàn diện, điều chỉnh thúc đẩy sự phát triển toàn diện của con người và kinh tế xã hội” Nhiều nhà khoa học Trung Quốc
đã đi sâu phân tích, làm rõ mục tiêu, nội dung cơ bản của lý luận xây dựng xã hội hài hoà: “Nội hàm của xã hội hài hoà rất phong phú, không chỉ là sự tăng trưởng kinh tế, mà còn bao gồm sự tiến bộ của khoa học, giáo dục, thiết lập pháp chế, xã hội dân chủ và nhân văn, tạo thuận lợi cho sự giàu có của toàn xã hội, con người
và tự nhiên cùng phát triển cộng sinh”(5)
Trong lĩnh vực kinh tế, cùng với công cuộc cải cách, đổi mới, Trung Quốc đã xác
định rõ phải xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa Đại hội lần thứ XV của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chỉ rõ: “Kiên trì và hoàn thiện chế độ công hữu
xã hội chủ nghĩa, duy trì nền kinh tế bao gồm nhiều thành phần sở hữu cùng phát triển, kiên trì và hoàn thiện nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa”(6) Có thể nói, xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa là mô thức cải cách thể chế kinh tế
Trang 40và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”(7)
Về cơ sở lý luận Lý luận xây dựng xã hội hài hoà của Trung Quốc và lý luận đổi
mới của Việt Nam đều dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, lấy lý luận phát triển làm nền tảng Trong quá trình cải cách, đổi mới và xây dựng lý luận xã hội hài hoà ở Trung Quốc, cũng như trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam, hai nước luôn kiên trì các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về sự vận động của lịch sử, dựa trên quan điểm phát triển khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, xem đó như nền tảng lý luận để xây dựng chủ trương, đường lối, chính sách của mỗi nước Đây là điểm tương đồng lớn nhất
Công cuộc cải cách, đổi mới ở Trung Quốc và Việt Nam đã thu được những thành
tựu hết sức to lớn Để tiếp tục con đường phát triển đã đặt ra, thiết nghĩ, một mặt,
chúng ta cần tăng cường sự hợp tác cả về lý luận và thực tiễn Trong công tác lý luận, việc tìm hiểu lý luận xây dựng xã hội sự hài hoà của Trung Quốc cũng như
đường lối đổi mới của Việt Nam sẽ hết sức bổ ích cho cả hai nước Mặt khác, có thể
thấy, từ lý luận phát triển của chủ nghĩa Mác mà hạt nhân là lý luận về sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, chúng ta cần phải có cái nhìn thực tế, phải xuất phát từ thực tế khách quan để xây dựng lý luận đổi mới và phát triển của mỗi nước cho phù hợp với thực tiễn cách mạng trong mỗi giai đoạn cụ thể Trong điều kiện hiện nay, phải chăng cần nhấn mạnh khía cạnh thống nhất - sự hài hoà giữa các mặt đối lập - để xây dựng một xã hội phát triển hài hoà và bền vững
Thấm nhuần tinh thần “lấy dân làm gốc”, “hoà hợp dân tộc” và sự chọn lựa con đường phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đang nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới Tuy chưa có lý luận về xây dựng xã hội hài hoà song với tinh thần trên, công cuộc đổi