1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Quản lý di tích lịch sử văn hóa đền đức đệ nhị ở xã khánh an, huyện yên khánh, tỉnh ninh bình

149 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý di tích lịch sử văn hóa đền Đức Đệ Nhị ở xã Khánh An, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
Tác giả Phạm Thị Thu
Người hướng dẫn Nguyễn Thị Phương Thảo
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Nghệ Thuật Trung Ương
Chuyên ngành Quản lý văn hóa
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 3,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Kháiquátvề quản lýditích lịchsử,văn hóa (13)
    • 1.1.1. Một sốkháiniệmcơ bản (13)
    • 1.1.2. VănbảncủaĐảngvànhànướcvềcông tácquản lýdi tíchlịch sử vănhóa (19)
    • 1.1.3. Những nội dung cơbản củaquảnlýnhànướcvềditích lịch sử vănhóa (24)
  • 1.2. TổngquanvềđềnĐứcĐệNhị,xãKhánhAn,huyệnYênKhánh, tỉnh NinhBình (26)
    • 1.2.1. Diện mạo đềnĐứcĐệNhị,x ã Khánh An,huyện Yên Khánh (26)
    • 1.2.2. Giátrịcủa ditíchđền Đức Đệ Nhị (30)
    • 1.2.3. Vai trò của đềnĐức ĐệNhịtrong đờisống cộngđồng (42)
  • Chương 2:THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH ĐỀNĐỨCĐỆNHỊỞXÃKHÁNHAN,HUYỆNYÊNKHÁNH,TỈNH NINHBÌNH (0)
    • 2.1. Chủthể và cơ chế quảnlý (45)
      • 2.1.1. SởVănhóa vàThểthaotỉnhNinhBình (45)
      • 2.1.2. Phòng Vănhóavà Thông tinhuyện YênKhánh (47)
      • 2.1.3. Tổchức,bộmáycấp xã (49)
      • 2.1.4. Tiểubanquảnlýditích (52)
      • 2.1.5. Cơchế quảnlý (53)
    • 2.2. Hoạtđộngquảnlý ditíchđền Đức Đệ Nhị (56)
      • 2.2.1. Thựchiện quyhoạch,kế hoạchbảotồnvàphát huygiátrịdi tích (56)
      • 2.2.2. Tuyêntruyền,phổbiếntrongnhân dânvềphápluậtbảovệditích lịch sửvănhóa (57)
      • 2.2.3. Tu bổvà tôntạoditích (59)
      • 2.2.4. Bảovệvà pháthuygiátrịditích (64)
      • 2.2.5. Đào tạo,bồidưỡngcánbộ (70)
      • 2.2.6. Côngtácthanhtra, kiểmtra vàthiđua khenthưởng (73)
    • 2.3. Vaitrò củacộng đồngtrong côngtácquảnlý ditích vàlễ hội (76)
    • 2.4. Đánhgiá chung (79)
      • 2.4.1. Những mặttíchcực (79)
      • 2.4.2. Những mặthạnchế (80)
    • 3.1. Nhữngnhântốtác độngđếnquảnlýditíchđềnĐứcĐệ Nhị (85)
      • 3.1.1. Tácđộngtíchcực (85)
      • 3.1.2. Tácđộngtiêucực (86)
      • 3.1.3. Đền ĐứcĐệNhịtrong bối cảnhchung củatỉnhNinh Bình (87)
    • 3.2. Cácnhómgiảipháp nhằmnâng caohiệuquả công tácquảnlýdi tíchđềnĐức Đệ Nhị (89)
      • 3.2.1. Nâng caonhận thứctrongquản lýditíchvà lễhội (89)
      • 3.2.2. Tăngcườngquản lý nhànướcvềquản lý ditích lịch sửvăn hóavà tổ chức lễ hội (92)
      • 3.2.3. Phát huyvaitrò củacộng đồngvềquản lýdi tích vàlễhội (104)

Nội dung

Tuy nhiêncôngtác quản lý di tích lịch sử văn hóa vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế nhưviệcchống xuống cấp, xử lý lấn chiếm đất đai, khoanh vùng bảo vệkhu ditích,các hiện vật cổ vật, di vật bị

Kháiquátvề quản lýditích lịchsử,văn hóa

Một sốkháiniệmcơ bản

TheoLuật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sungnăm

2009:DSVHbaogồmdisảnvănhóaphivậtthểvàdisảnvănhóavậtthể,l à s ả n p h ẩ m t i n h t h ầ n , v ậ t c h ấ t c ó g i á t r ị l ị c h s ử v ă n h ó a , khoah ọc,đượclưutruyềntừthếhệnàyquathếhệkhácởnướcCộnghò aX H

Cultural heritage is a material product closely related to customs, traditions, and personal identity, involving tangible and intangible elements It holds historical value through artifacts such as historical relics, scenic spots, animals, and national heritage sites These cultural assets are continually recreated and transmitted across generations through oral tradition, craftsmanship, rituals, and other methods Cultural assets include objects with historical, scientific, or aesthetic significance, such as historical relics, scenic spots, fauna, antiques, and national museums.

Di sản văn hóa vật thể bao gồm các di tích, công trình lịch sử, đền đài, cung điện, sách cổ, mẫu vật tại bảo tàng, công cụ sản xuất qua các giai đoạn lịch sử và các danh thắng Ngoài ra, DSVH vật thể còn bao gồm các loại hình văn học - nghệ thuật như âm nhạc, ca múa, sân khấu, ngôn ngữ, truyền thuyết, huyền thoại, góp phần làm phong phú kho tàng văn hóa dân gian Các hoạt động và kinh nghiệm dân gian như lễ hội, nghi lễ, phong tục tập quán, y học dân tộc, nghệ thuật nấu ăn và bí quyết sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ cũng là phần không thể thiếu của di sản văn hóa vật thể.

Sự phân loại di sản văn hóa chỉ mang tính tương đối, đặc biệt đối với di sản phi vật thể Cả di sản vật thể và phi vật thể luôn gắn kết và trở thành những thực thể sống động, góp phần giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của mỗi cộng đồng.

Di sản văn hóa phản ánh thành quả của cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của các thế hệ người Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử Nó trình bày tiến trình phát triển, thành tựu và khả năng của dân tộc, đồng thời là minh chứng sống động về sự vận động, giao thoa và phát triển của đời sống xã hội Di sản còn phản ánh đặc trưng cơ bản giúp phân biệt dân tộc này với dân tộc khác và quốc gia này với quốc gia khác trong các môi trường, cảnh quan cụ thể của không gian và thời gian.

Di tích lịch sử văn hóa là thành phần quan trọng tạo nên di sản văn hóa (DSVH), phản ánh nét đặc trưng của nền văn minh riêng và các sự kiện lịch sử qua thời gian Theo Điều 1 của Hiến chương Venice năm 1964, di tích không chỉ đơn thuần là công trình kiến trúc mà còn bao gồm khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có giá trị lịch sử, văn hóa đặc trưng Khái niệm này mở rộng từ những công trình nghệ thuật lớn đến các công trình nhỏ đã tồn tại qua thời gian, chứa đựng ý nghĩa văn hóa và lịch sử sâu sắc Các di tích không chỉ gồm các kiến trúc như chùa Thầy, chùa Tây Phương, đình Tây Đằng mà còn gồm cảnh quan đô thị như phố Hiến, phố cổ Hội An, phố cổ Hà Nội; các bản làng cổ như Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội; và các địa danh như bản Lác, Mai Châu, Hòa Bình Ngoài ra, các công trình nhỏ hơn nhưng có giá trị lâu dài qua thời gian cũng được xem là di tích quốc gia quý giá.

DTLSVH (Di sản Văn hóa) theo quy định của Luật Di sản Văn hóa năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2009, được hiểu là các công trình xây dựng, địa điểm và các vật, cổ vật, bảo vật quốc gia có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học Danh lam thắng cảnh bao gồm cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm kết hợp giữ cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị về lịch sử, mỹ thuật, khoa học, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di sản.

Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Di sản văn hóa, trong đó Điều 11 nêu rõ rằng "Di tích là các di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân), di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ, danh lam thắng cảnh" Nghị định này xác định rằng di tích gồm 4 loại hình chính: di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ và danh lam thắng cảnh.

Các địa điểm lưu giữ giá trị văn hóa khảo cổ, ghi dấu những sự kiện lịch sử quan trọng và phản ánh quá trình hình thành, phát triển của cộng đồng dân cư đều là những Di tích Lịch sử - Văn hóa (DTLSVH) Chúng là các nơi lưu giữ các di tích về lịch sử dân tộc, địa phương, những chiến công chống xâm lược, khắc ghi các nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc và danh nhân văn hóa nổi bật Mỗi DTLSVH mang trong mình một giá trị lịch sử và văn hóa đặc biệt, phản ánh các chặng đường phát triển của xã hội qua từng thời kỳ, góp phần giữ gìn và phát huy truyền thống cách mạng, tự hào dân tộc theo Nghị quyết Trung ương 5 khóa.

Văn hoá Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động, sáng tạo và đấu tranh kiên cường của cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong công cuộc xây dựng và giữ gìn đất nước Nó còn là kết quả của sự giao lưu và tiếp thu tinh hoa văn hoá từ nhiều nền văn minh thế giới, góp phần không ngừng hoàn thiện bản sắc văn hoá Việt Nam.

1.1.1.3 Quảnlý Đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về quản lý Quan niệm truyềnthốngchorằng: Quảnlýlàquátrìnhtácđộngcóýthứccủachủthể vàomột bộ máy (đối tượng quản lý) bằng cách vạch ra mục tiêu cho bộ máy,tìm kiếm các biện pháp tác động để bộ máy đạt tới mục tiêu đã xác định.Nhưv ậ y quảnl ý c ó c á c t h à n h p h ầ n c h ủ t h ể q u ả n l ý ; đ ố i t ư ợ n g q u ả n l ý ; mục tiêu quản lý Ba thành phần này gắn bó chặt chẽ tạo nên hoạt động củabộ máy.

Trong tiếng Việt, thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu là công việc trông nom, sắp xếp công việc hoặc giữ gìn, theo dõi các hoạt động Theo nghĩa âm Hán, quản lý còn mang ý nghĩa rộng hơn, liên quan đến việc điều hành và kiểm soát các nguồn lực để đạt được mục tiêu đề ra Quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức và điều hành doanh nghiệp, đảm bảo mọi hoạt động diễn ra hiệu quả và đạt kết quả mong muốn Việc hiểu rõ khái niệm quản lý theo cả nghĩa thông thường và nghĩa Hán giúp nâng cao hiệu quả trong công tác quản trị và vận hành.

Việt thì“ Q u ả n ” là lãnh đạo một việc,“Lý”là trông nom, coi sóc Các nước phương Tây dùng từ“Management”cónghĩa là quản lý, là bàntay hoặc liênquanđ ế n h o ạ t đ ộ n g c ủ a b à n t a y Từđóchuyểnsangnghĩahànhđộngtheomộtquanđiểmtácđộngđểdẫndắt.

Quản lý là một chức năng đặc biệt của xã hội, phát sinh từ bản chất của quá trình lao động Nó xuất phát từ sự phân công và hợp tác lao động, là hoạt động khách quan cần thiết để đạt được mục tiêu chung Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức, từ nhỏ đến lớn, với trình độ xã hội càng cao, yêu cầu quản lý càng lớn, và vai trò của quản lý càng tăng.

Hiện nay, thuật ngữ quản lý ngày càng trở nên phổ biến, tuy nhiên chưa có một định nghĩa thống nhất Theo nghĩa thông thường, quản lý được hiểu là hoạt động có tổ chức và định hướng nhằm tác động vào đối tượng quản lý để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì sự ổn định và phát triển theo các mục tiêu đã đề ra.

Quản lý xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc xác định mục tiêu, lập kế hoạch hành động và tổ chức nhằm giúp cá nhân, nhóm và tổ chức đạt được mục đích đề ra, đồng thời thỏa mãn nhu cầu phát triển cá nhân và xã hội Hoạt động quản lý còn góp phần xây dựng, phát triển và thể hiện giá trị, niềm tin, động cơ, các chuẩn mực văn hóa của tổ chức và các nhóm thành viên, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành viên tiếp xúc và hợp tác với các tổ chức khác Chính nhờ quản lý xã hội tốt, các hoạt động tổ chức sẽ góp phần giải quyết các mâu thuẫn, xung đột có thể phát sinh giữa các cá nhân, nhóm xã hội và cộng đồng, từ đó thúc đẩy sự hòa hợp và phát triển bền vững.

Quản lý văn hoá là một thuật ngữ mới trong lĩnh vực nghiên cứu về văn hóa Trong khoa học, có thể tiếp cận văn hóa dưới ba bình diện: văn hóa như một nền văn hóa tổng thể, văn hóa như những phẩm chất và thuộc tính đặc trưng, và văn hóa trong mối liên hệ với các hoạt động văn hóa cụ thể Ở đây, nội dung chủ yếu tập trung nghiên cứu về khái niệm quản lý hoạt động văn hóa để nâng cao hiểu biết và phát triển lĩnh vực này.

VănbảncủaĐảngvànhànướcvềcông tácquản lýdi tíchlịch sử vănhóa

Trong quá trình quản lý di tích, cần tuân thủ đúng các đường hướng đã đề ra bởi Đảng và Nhà nước, thể hiện rõ trong các văn bản pháp lý đã ban hành Những hướng dẫn này là cơ sở pháp lý vững chắc để đảm bảo công tác quản lý di tích lịch sử, văn hóa (DTLSVH) được thực hiện một cách đúng quy trình và hiệu quả.

- Hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIIIđã thông qua Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998:”Xây dựng và pháttriển nền vănhóa ViệtNamtiêntiến,đậmđàbảnsắcdântộc”

Nghị quyết xác định DSVH là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc và là cốt lõi của bản sắc dân tộc, đóng vai trò nền tảng để sáng tạo giá trị mới và thúc đẩy giao lưu văn hóa Bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản văn hóa được xem là một trong mười nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình xây dựng và phát triển văn hóa đất nước Bản sắc dân tộc qua từng giai đoạn lịch sử được bổ sung bởi nhiều yếu tố, các giá trị văn hóa bền vững, những tinh hoa theo thời gian, luôn thể hiện rõ nét trong các di sản Chính vì lẽ đó, Nghị quyết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, bao gồm cả các hình thức văn hoá bác học, dân gian, truyền thống vật thể và phi vật thể, nhằm giữ vững bản sắc dân tộc qua các thời kỳ.

-Hội nghị lần thứ IX của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa

XIđã thông qua Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014:“Xây dựng và pháttriểnvănhóa,conngườiViệtNamđápứngyêucầupháttriểnbềnv ữngđất nước”.

Xây dựng cơ chế giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội, nhằm vừa giữ gìn những di tích lịch sử tiêu biểu, vừa phục vụ giáo dục truyền thống và thúc đẩy sự phát triển bền vững Việc bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử – văn hóa không chỉ góp phần thúc đẩy du lịch mà còn giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời phục hồi các loại hình nghệ thuật truyền thống có nguy cơ mai một Phát huy giá trị các di sản UNESCO công nhận giúp quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam ra thế giới, góp phần nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.

Những nội dung cơ bản của Luật đã bám sát và đáp ứng được nhữngnhuc ầ u t r o n g c ơ c h ế đ i ề u h à n h đ ấ t n ư ớ c t a t r o n g g i a i đ o ạ n h i ệ n n a y l à Đảnglãnhđạo,Nhànướcquảnlý,nhândânlàmchủ;toàndânsố ng,họctậpvàlàmviệc theophápluật.

Luật Di sản văn hóa được xây dựng nhằm tạo ra các cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Chương 1 của luật quy định rõ khái niệm về di sản văn hóa, di sản vật thể, di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh, giúp xác định rõ phạm vi và nội dung của di sản Chương 4 có quy định cụ thể về việc bảo vệ và phát huy giá trị của di sản vật thể, đặc biệt là các di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh Trong khi đó, Chương 5 tập trung vào quản lý nhà nước về di sản văn hóa, xác định quyền hạn và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân và chủ sở hữu, đồng thời quy định các hành vi bị cấm, cơ chế khen thưởng, xử phạt các vi phạm liên quan đến di tích Luật cũng đề cao trách nhiệm của các bên liên quan trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, đảm bảo sự bền vững của di sản quốc gia.

Bộ, ban, ngành trung ương và Ủy ban nhân dân các cấp có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn Di sản Văn hóa Những quy định của Luật Di sản Văn hóa được xây dựng theo hướng cởi mở, phù hợp thực tiễn nhằm tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng và môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế và du lịch Luật cũng thúc đẩy giao lưu văn hóa và hội nhập quốc tế, góp phần phát triển đất nước Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng luật đã bộc lộ một số hạn chế như chưa xử lý tốt mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, dẫn đến tình trạng thương mại hóa di tích Một số di tích bị biến dạng do hoạt động thương mại quá mức, thậm chí lợi dụng ngân sách địa phương để phá hủy giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học và kiến trúc của di tích.

Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 06/11/2010 của Chính phủ hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009 Văn bản này là quy phạm pháp luật dưới luật, nhằm cụ thể hóa các quy định về quản lý di sản văn hóa, đặc biệt tập trung vào công tác quản lý di tích lễ hội văn hóa Nghị định giúp hướng dẫn chi tiết các nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.

- Nghị định số 70/2012/NĐ-CP ngày 18/09/2012của Chính phủ quyđịnh thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệtquy hoạch, dự án bảoquản,tubổ,phục hồiditíchlịch sử vănhóa,danhlamthắngcảnh

Nghị định hướng dẫn cụ thể hóa pháp luật về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, dựa trên Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật này năm 2009 Chính sách này đề cập đến quy hoạch, bảo tồn, và phục hồi các di tích lịch sử, đảm bảo quy trình thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập và phê duyệt các dự án liên quan đến quản lý di sản Mục tiêu của quy định là đảm bảo việc bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử một cách hiệu quả và bền vững.

Thông tư 09/2011/TT-BVHTTDL, ban hành ngày 14 tháng 7 năm 2011, của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định rõ nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích, danh lam thắng cảnh Văn bản này nhằm hướng dẫn các cơ quan, tổ chức thu thập và trình bày đầy đủ các tài liệu cần thiết nhằm xác lập giá trị, ý nghĩa lịch sử, văn hóa của các di tích và danh lam thắng cảnh Việc tuân thủ các tiêu chí và quy trình trong thông tư giúp đảm bảo việc xếp hạng đạt tiêu chuẩn, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống Đồng thời, thông tư còn hướng dẫn cách xác lập hồ sơ khoa học phù hợp, thuận tiện cho các cơ quan chức năng trong công tác quản lý và phát huy giá trị di sản.

Thông tư hướng dẫn về nội dung hồ sơ khoa học nhằm xếp hạng các di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh cấp tỉnh, quốc gia và đặc biệt phù hợp với các công trình xây dựng, địa điểm, cảnh quan thiên nhiên, khu vực thiên nhiên thuộc danh mục di tích của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Các hồ sơ này cần đáp ứng đầy đủ tiêu chí quy định tại Điều 28 của Luật Di sản văn hóa, như đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 9 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa Việc hướng dẫn này giúp xác định rõ các điều kiện, thủ tục cần thiết để công nhận và xếp hạng di tích đúng quy định pháp luật, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa Việt Nam.

- Thông tư 18/2012/TT-BVHTTDL ngày 28/12/2012 quy định chi tiếtmột sốquyđịnhvềbảoquản,tubổ,phụchồiditích

Thông tư quy định rõ về điều kiện năng lực và điều kiện hành nghề của tổ chức, cá nhân tham gia lập quy hoạch bảo quản, tu bổ, phụchồi di tích, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích Các nội dung bao gồm báo cáo kinh tế - kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phụchồi di tích, thiết kế bản vẽ thi công bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích Ngoài ra, Thông tư còn quy định về quy trình nộp hồ sơ thiết kế tu bổ di tích, thẩm quyền thẩm định hồ sơ thiết kế, và thi công tu bổ di tích nhằm đảm bảo công tác bảo tồn di tích đạt tiêu chuẩn và hiệu quả.

- Thông tư số 17/2013/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2013 hướng dẫnxác định chi phí lập quy hoạch, dự án, báo cáo kinh tế - kỹ thuật bảo quản,tubổ,phụchồiditích.

Thông tư hướng dẫn cách xác định chi phí lập quy hoạch, dự án, báo cáo kinh tế - kỹ thuật về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử văn hóa Đặc biệt, quy định rõ các khoản chi phí này sẽ được tính khi chiếm từ 30% vốn nhà nước trở lên Nội dung này giúp các tổ chức, đơn vị trong việc lập dự toán và quản lý tài chính hiệu quả hơn theo quy định của pháp luật.

Nghị định số 61/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện kinh doanh giám định cổ vật và hành nghề bảo quản, tu bổ, phụ chổi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh Quy định này nhằm đảm bảo hoạt động bảo tồn giá trị văn hóa một cách chuyên nghiệp và hợp pháp Nghị định yêu cầu các tổ chức, cá nhân thực hiện các thủ tục đăng ký, đáp ứng điều kiện về năng lực và thiết bị phù hợp để đảm bảo chất lượng dịch vụ Việc tuân thủ quy định này góp phần bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh một cách bền vững.

Nghịđ ị n h q u y đ ị n h c á c đ i ề u k i ệ n đ ố i v ớ i t ổ c h ứ c , c á n h â n k i n h doanh trong lĩnh vực giám định cổ vật và hành nghề bảo quản, tu bổ, phụchồi ditíchlịch sử-văn hóa,danhlamthắng cảnh.

- Quyết định số 2845/QĐ-UBND ngày 17 tháng 12 năm 2007 củaUBND tỉnhNinh Bình về việc phê duyệt "Quy hoạch tổng thể phát triển dulịch tỉnh NinhBình đến năm2010,địnhhướngđếnnăm2015".

Quyết định phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình đến năm 2010, định hướng đến năm 2015 nhằm xác định các quan điểm phát triển, mục tiêu phát triển rõ ràng Các định hướng phát triển chủ yếu tập trung vào việc nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch, phát huy tiềm năng tự nhiên và văn hóa địa phương, đồng thời mở rộng thị trường trong và ngoài nước Các giải pháp thực hiện quy hoạch được đề xuất bao gồm việc xây dựng các dự án du lịch phù hợp, phát triển cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực, và tăng cường hợp tác liên ngành Sở Du lịch chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các ngành có liên quan, UBND các huyện, thành phố để công bố và tổ chức thực hiện quy hoạch một cách hiệu quả.

Nghị quyết đã đánh giá tổng thể kết quả phát triển du lịch của Ninh Bình từ năm 2001 đến nay, nhấn mạnh những thành tựu đạt được và các điểm còn hạn chế Đồng thời, nghị quyết đề ra các mục tiêu chiến lược, nhiệm vụ cụ thể và giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch bền vững, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương và nâng cao hình ảnh du lịch Ninh Bình trên thị trường quốc tế.

Năm 2020 định hướng đến năm 2030, UBND tỉnh xây dựng kế hoạch cụ thể và tiến độ thực hiện các nhiệm vụ theo nghị quyết Các ngành, cấp chính quyền phân công rõ trách nhiệm để tổ chức thực hiện hiệu quả Định kỳ mỗi 6 tháng, tổ chức tổng hợp kết quả và báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhằm đảm bảo tiến độ và đánh giá kết quả Các sở, ban, ngành, các huyện, thành phố, thị xã căn cứ vào nghị quyết và kế hoạch của UBND tỉnh để xây dựng kế hoạch cụ thể, chủ động triển khai và phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan nhằm thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả cao.

UBNDngày14/12/2015củaUBNDtỉnhNinhBìnhvềviệcbanhànhQuychếquảnlý,bảovệvàpháthuygiátrịdi tíchlịchsử- vănhóavàdanhlamthắngcảnhđãxếphạngtrênđịabàntỉnhNinhBình.

Những nội dung cơbản củaquảnlýnhànướcvềditích lịch sử vănhóa

Luật Di sản Văn hóa năm 2001 đã được sửa đổi, bổ sung qua nhiều lần để phù hợp với tình hình mới, trong đó Luật sửa đổi năm 2009 và các Nghị định hướng dẫn đã cụ thể hóa chính sách pháp luật về di sản văn hóa Các văn bản này thể hiện rõ tư duy đổi mới của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực quản lý di sản, góp phần thúc đẩy bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa quốc gia Nội dung quản lý nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước về di sản văn hóa được quy định rõ tại Điều của luật, nhằm đảm bảo quản lý hiệu quả, thống nhất và bền vững.

54 và Điều 55 của Luật Di sản văn hóa năm2001 đượcsửa đổi,bổsungnăm2009,cụthểnhưsau: Điều54:Nội dungquản lý nhànướcvềdisảnvăn hóabao gồm:

1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kếhoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trịDSVH.

2 Banhànhvàtổchứcthựchiệncácvănbảnquyphạm phápluật vềdi sảnvăn hóa.

3 Tổc h ứ c , c h ỉ đ ạ o c á c h o ạ t đ ộ n g b ả o v ệ v à p h á t h u y g i á t r ị DSVH,tuyên truyền,phổ biến,giáo dụcpháp luậtvềDSVH.

4 Tổchức,quảnlýhoạtđộngnghiêncứukhoahọc;đàotạo,bồidưỡ ngđộingũcán bộchuyênmôn về DSVH.

6 Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giátrịdisảnvănhóa.

8 Thanhtra,kiểmtraviệcchấphànhphápluật,giảiquyếtkhiếunạ i,tốcáovà xửlýviphạmphápluậtvề DSVH.

Quản lý nhà nước về di sản văn hóa đóng vai trò quan trọng trong định hướng và điều chỉnh sự phát triển của văn hóa quốc gia, qua đó thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về bảo vệ và phát huy giá trị di sản Theo Điều 55 của Luật Di sản văn hóa năm 2001, được sửa đổi, bổ sung năm 2009, các cơ quan quản lý nhà nước về di sản văn hóa có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các hoạt động bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa quốc gia và địa phương.

2 Bộ VHTT&DL chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiệnquảnlýnhà nướcvềDSVH.

3 Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có tráchnhiệm quản lý nhà nước về DSVH theo phân công của Chính phủ.Chínhphủquyđịnhcụthểtráchnhiệmcủacácbộ,cơquanngangbộ,cơ quanthuộcChínhphủtrongviệcphốihợpvớiBộVHTT&DLđể thựchiệnthốngnhấtquảnlýnhànướcvềDSVH.

Luật di sản văn hóa đã quy định rõ nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện công tác quản lý di tích lịch sử, di sản văn hóa nói chung Điều này giúp nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

TổngquanvềđềnĐứcĐệNhị,xãKhánhAn,huyệnYênKhánh, tỉnh NinhBình

Diện mạo đềnĐứcĐệNhị,x ã Khánh An,huyện Yên Khánh

Xã Khánh An nằm về phía tây tây bắc của huyện Yên Khánh, có diện tích tự nhiên rộng 740,3ha Phía bắc của xã giáp với xã Khánh Phú và sông Đáy, trong khi phía nam giáp sông Vạc, tiếp giáp với xã Khánh Thượng và Khánh Dương thuộc huyện Yên Mô Phía đông giáp xã Khánh Cư, còn phía tây tiếp giáp với xã Khánh Hòa.

Khánh An có dân số 6.316 người, mật độ dân số đạt 884 người/km², đều là người kinh Xã có hai tôn giáo chính là đạo Phật và Thiên chúa giáo, và người dân chủ yếu làm nông nghiệp với tính cần cù và chăm chỉ Địa hình xã không bằng phẳng, hình thành các dải đất cao thấp khác nhau, trong đó dải đất cát pha thịt chạy theo hướng Đông - Nam phù hợp để trồng màu và xây dựng nhà ở Những dải đất này được hình thành nhờ phù sa của sông Đáy và sự tác động của sóng biển dâng rút Khí hậu xã mang đặc điểm của tiểu khí hậu đồng bằng sông Hồng với khí hậu nhiệt đới ẩm, tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp và sinh hoạt của cộng đồng.

Xã Khánh An là vùng đất có lịch sử lâu đời gắn liền với triều đại nhà Đinh – Tiền Lê thế kỷ X, nơi cư dân nông nghiệp trồng lúa nước Người dân Khánh An mang những nét văn hóa đặc trưng của người Việt, đồng thời giữ gìn các tập tục truyền thống đã tồn tại qua nhiều thế hệ Vùng quê này không những có nét đẹp truyền thống mà còn là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa đặc sắc của cộng đồng địa phương.

Hầu hết các lễ hội diễn ra vào đầu mùa xuân, hội làng Yên Xuyên(diễnratừ ngàymùng6đếnmùng7thángGiêngtạiđìnhlàngY ê n Xuyên).

Xã Khánh An sở hữu nhiều di tích lịch sử – văn hóa phong phú, với hầu hết các làng đều có đình, chùa, đền, miếu Các công trình này chủ yếu thờ các vị danh tướng từ thời nhà Đinh, thể hiện lòng biết ơn của cộng đồng đối với những nhân vật có công lao lớn Ngoài ra, một số ít còn thờ các thần thánh, thần linh, hay các người thi cử đỗ đạt cao, góp phần duy trì giá trị truyền thống và lòng tin của người dân địa phương.

Nhân dân Khánh An từ rất sớm đã có ý thức học hành và thi cử, góp phần tạo dựng nền giáo dục vững mạnh địa phương Trong lịch sử, nhiều người đỗ đạt cao, tiêu biểu như tiến sỹ Tạ Đại Lang thời Trần và các danh nhân như Tú Toại, Quan Chủ, Tú Uẩn, Tú Tự thời Nguyễn Trong số đó, cụ Tú Uẩn nổi bật với những thành tựu và đóng góp quan trọng đối với cộng đồng.

Tú Tựthường gọi là cụ Đồ Uẩn; Đồ Tự nhà nho dạy chữ Hán, đặc biệt sau này cónhàcáchmạngyêunướcTạQuangSằn.Đólànhữngconngườiđượccoilà

“nguyênkhícủaquốcgia”,g ó p p h ầ n l à m n ê n d i ệ n m ạ o v ă n h ó a , l ị c h sửc ủ a đ ấ t n ư ớ c Đ ó c ũ n g l à n i ề m t ự h à o c ủ a n h â n d â n K h á n h A n v ề vùngđất“địalinhnhânkiệt”nổitiếngmộtthời.

Nhân dân Khánh An, từ khi hình thành làng xã đến nay, luôn gắn bó bền chặt với mảnh đất và cộng đồng Người dân sống hiền hòa, thủy chung, đoàn kết, yêu thương nhau và đề cao tinh thần đùm bọc trong khó khăn Họ có nhiều kinh nghiệm trong việc đấu tranh chống thiên nhiên, như khoanh vùng chắn nước, thau chua rửa mặn, và xây dựng làng mới khang trang Những thế hệ con người Khánh An đã góp phần gìn giữ nét đẹp văn hóa và phát triển cộng đồng bền vững qua nhiều thời kỳ.

An kếtiếpnhaupháthuy đứctínhcầncù,chịukhó,laođộngnăngđộng,sángtạobồiđắpquêhươngngàythêmgi àumạnh.

Theo số liệu kiểm kê năm 2012 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình, xã Khánh An có 12 di tích được kiểm kê Tính đến hết năm 2017, toàn xã Khánh An có tổng cộng 24 di tích và cơ sở thờ tự (chưa tính các nhà thờ công giáo), trong đó có 8 di tích được Nhà nước xếp hạng, gồm 3 di tích cấp Quốc gia (một đình, hai đền) và 5 di tích cấp tỉnh (bốn đền, một nhà thờ họ).

DitíchởxãKhánhAnchủyếulà2loạihình:ditíchlịchsửvàditíchk iến trúcnghệthuật(sựphân chianàychỉmang tínhchất tương đối).

Theo thống kê của Sở VH&TT tỉnh Ninh Bình, xã Khánh An hiện có 12 di tích tổ chức lễ hội, gồm 1 đình, 8 đền và 2 chùa, hầu hết lễ hội diễn ra quy mô thôn, làng Trong đó, lễ hội làng Yên Xuyên và lễ hội làng Yên Phú là hai lễ hội được tổ chức thường xuyên Đền Đức Đệ Nhị xây dựng trên diện tích 625m², tọa lạc trong không gian yên bình, đậm nét văn hóa làng quê, với hướng Đông Nam quay ra phía khu dân cư Đền thờ Lịch Lộ Đại Vương, còn gọi là Lịch Công, là vị tướng thời nhà Đinh có công cùng Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn.

Các di tích xếp hạng cấp quốc gia trước năm 2000 vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc bảo tồn di sản văn hóa của địa phương Trong khi đó, các di tích cấp tỉnh tiếp tục được duy trì, thể hiện sự quan tâm của chính quyền địa phương đối với phát huy giá trị văn hóa truyền thống Xã Khánh An hiện có 8 di tích đã được xếp hạng, bao gồm Đền Tam Thánh, chùa Yên Lữ, đình Yên Phú, đền Văn Giáp, đền Thánh Cả, đền Đức Bà, đền Đức Đệ Nhị, đền Lăng, đền Thượng Yên Lý, và Nhà thờ họ Đoàn Yên Cống Các di tích chủ yếu là các công trình tín ngưởng, tôn giáo như đình, đền, chùa, miếu, trong đó di tích lịch sử chiếm số lượng lớn, chứa đựng hệ thống cổ vật, di vật và giá trị di sản văn hóa vô giá, phản ánh nét đẹp văn hóa và truyền thống của cộng đồng địa phương.

Di tích là các dấu vết vật chất tồn tại trong không gian và thời gian, phản ánh sự tác động của tự nhiên và xã hội Hệ thống di tích dễ bị tác động của thời tiết, khí hậu và các yếu tố xâm hại, đặc biệt là những công trình có kiến trúc cổ hoặc phần kiến trúc cổ Đây cũng chính là những di tích lưu giữ giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học quan trọng Tuy nhiên, do phần lớn các công trình di tích có cấu trúc dựa trên chất liệu gỗ, nên chúng dễ xuống cấp và cần được bảo quản, tu bổ thường xuyên để duy trì giá trị.

Nhiều di tích còn lại đều là các công trình được phục hồi hoặc kiến trúc từ những năm 1960 trở lại đây, phản ánh lịch sử và giá trị văn hóa của địa phương Tuy nhiên, vẫn còn nhiều di tích có kiến trúc dạng nhà cấp 4 tạm, đơn giản, sử dụng vật liệu kém bền vững như tường gạch, hoành, rui, xà, cột gỗ tạp, mái lợp ngói nam, gây xuống cấp và không đáp ứng được yêu cầu về kiến trúc, mỹ thuật Những di tích này hiện nay đang xuống cấp rõ rệt, làm giảm giá trị lịch sử và thẩm mỹ của các di tích, ảnh hưởng đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cộng đồng.

Hiện nay, có đến 66% các di tích cấp quốc gia đang xuống cấp, trong đó đình Yên Phú và đình Văn Giáp là những ví dụ điển hình Đối với các di tích cấp tỉnh, 20% đã rơi vào tình trạng xuống cấp, nổi bật là nhà thờ họ Đoàn Yên Cống, trong khi cũng có 20% di tích cấp tỉnh xuống cấp nghiêm trọng như đền Thượng Yên Lý Các di tích đã được Nhà nước xếp hạng thường có giá trị lịch sử, kiến trúc đặc biệt nhưng đang gặp phải tình trạng xuống cấp nặng chủ yếu ở các công trình kiến trúc gỗ như cột, xà, kẻ, bèo, tập trung tại các phần chịu lực chính Các di tích xuống cấp trung bình thường tập trung ở các phần mái, tường bao, nền và các công trình phụ trợ khác, đòi hỏi cần có các giải pháp bảo vệ và tu bổ kịp thời để giữ gìn giá trị văn hóa lịch sử.

Giátrịcủa ditíchđền Đức Đệ Nhị

Nhân vật thờ Đền Đức Đệ Nhị là Lịch Lộ Đại Vương, còn gọi là Lịch Công, một vị tướng danh tiếng trong thời nhà Đinh Ông nổi bật với công lao cùng Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn, góp phần giữ gìn bình yên cho đất nước Đền thờ Lịch Lộ Đại Vương là nơi tôn vinh những chiến công vang dội của ông trong lịch sử Việt Nam Đây là di tích linh thiêng thể hiện lòng kính trọng và biết ơn đối với những anh hùng đã góp phần bảo vệ tổ quốc.

Căn cứ theo theoLý lịch di tích tại đình Yên Phú, xã Khánh An,huyện

Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình, là nơi thờ cúng Lịch Lộ Đại Vương, được xếp hạng cấp quốc gia vào năm 2001 Theo tài liệu lưu giữ tại đền Đức Đệ Nhị, Lịch Lộ Đại Vương là con của ông Cao Điện và bà Vân Thị ở trang Yên Bạc, vùng Yên Ninh Tổ tiên của ông Cao Điện nguyên quán tại trang Đồng Thi, huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng, đạo Sơn Nam, đã di cư đến Yên Bạc và định cư lâu dài Ông kế thừa ngôi vị thủy của cha, đồng thời vẫn giữ vững đạo làm gốc và chăm chỉ làm việc thiện giúp đỡ người khác.

Vợchồnghọ C a o d u y ê n ư u p h ậ n đ ẹ p , th ườ ng g i ú p đỡ kẻ ng hè o k h ó , khô ngtiếc công sót của, hiềm một nỗi lấy nhau đã lâu mà không sinh được con.Một đêm, bầu trời trong xanh gió mát, hai vợ chồng đang nằm trong phòng,bỗng cả hai đều mơ màng, thấy một cụ già râu tóc bạc phơ từ trên trờixuống, tay cầm một lưỡi tầm sét Cụ già bảo bà Điện há miệng và bỏ lưỡitầmsétvào.BàĐiệnđónlấyvànuốtvàotrongbụng,sauđócụnói:“T acho thứ đó là điềm lành sinh con trai để ngày sau nổi danh thiên hạ” Nóixong ôngcụcưỡimâybiến mất.

Bà Điện mang thai suốt 11 tháng trước khi sinh con vào ngày 15 tháng chạp năm Bính Thân, và bé trai sinh ra có tướng mạo khôi ngô, tuấn tú Khi trưởng thành, cậu bé cao lớn, hùng dũng, trên trời bỗng nổi lên tiếng gầm rền, thể hiện sự mạnh mẽ và khí phách Đến năm 3 tuổi, cậu bé đã có dáng người tựa sắt thép, tiếng nói vang như sấm, khiến người cha đặt tên là Lịch để phản ánh khí chất đặc biệt của con trai.

Sau một thời gian, bà Điện lại mơ thấy một người mặc áo mũ chỉnh tề tự xưng là quan Hành Khiển trên trời cầu xin đầu thai làm con Câu chuyện này phản ánh niềm tin tâm linh sâu sắc của người dân về sự kết nối giữa thế giới tâm linh và cuộc sống hàng ngày Từ giấc mơ này, bà Điện bắt đầu mang thai, báo hiệu điềm lành và sự linh thiêng trong cuộc đời bà Những câu chuyện về giấc mơ linh thiêng như vậy luôn thu hút sự quan tâm và tin tưởng từ cộng đồng, góp phần làm phong phú thêm giá trị tâm linh trong đời sống người Việt.

15 tháng 8 sinh được một người con trai, màythanhmắtsáng,taitomặtvuông.ÔngĐiệnrấtvuibènđặttênconlàKhiển.

Ngay từ nhỏ, hai anh em đã thể hiện rõ sự thông minh và tài trí vượt trội, khiến cha mẹ dành nhiều thời gian tìm thầy dạy học cho họ Hằng ngày, họ chăm chỉ luyện tập cả văn hay võ giỏi, không ngừng rèn luyện trí tuệ và thể chất để trở thành những người xuất chúng Sự cố gắng và nỗ lực không ngừng của hai anh em đã giúp họ phát triển toàn diện, sẵn sàng chinh phục mọi thử thách trong cuộc sống.

Ở tuổi 22, Nămông Lịch trải qua nỗi buồn sâu sắc khi mẹ qua đời, lễ tang đoàn tụ trong suốt 3 năm, hai anh em ôm nhau than thở về công lao dưỡng dục của cha mẹ và lòng biết ơn vô hạn Những lời chia sẻ về sự hy sinh của cha mẹ và nỗi ân nghĩa thúc đẩy anh em nung nấu ý chí, quyết tâm gìn giữ đất nước, đặc biệt trong bối cảnh đất nước thời đó đang chìm trong cuộc chiến tranh các sứ quân tranh quyền, gây ra nạn cát cứ kéo dài.

Đinh Bộ Lĩnh đang mở cuộc họp tại dinh thự, thể hiện khí chất của một vị vua, khi các tướng lĩnh cũ lần lượt đến báo cáo Ông nhận thấy hai vị tướng mạo khác thường, uy phong lẫm liệt, và đã hỏi quê quán cũng như thử tài năng của họ Sau đó, Đinh Bộ Lĩnh giữ lại hai ông trong quân, giao cho chức vụ quan trọng như Tiền bộ tướng quân và Tán chỉ huy sứ, đồng thời cử họ đi chiến đấu ở vùng biên giới.

Hai ông trở về quê, lập đồn, tuyển binh, và kêu gọi hào kiệt cùng dân chúng trong vùng tham gia chống lại loạn cát cứ Trong vòng 10 ngày, chỉ huy đã thu nhận tới 30.000 quân, tổ chức lễ mổ trâu, bò để khao quân, sắp xếp đội ngũ và chỉnh đốn vũ khí Họ chuẩn bị lương thực và tập trung quân lính để về Hoa Lư hợp quân với Đinh Bộ Lĩnh, nhằm dẹp loạn hiệu quả.

Sứ quân của Đinh Bộ Lĩnh ngày càng lớn mạnh, uy thế ngày càng mở rộng Khi quân của Đỗ Cảnh Thạc tấn công tại động Đỗ Giang, chủ quân của Đinh Bộ Lĩnh bị vây, nhưng khi nghe tin ông Lịch và ông Khiển đang ở Phong Châu, hai vị đã nhanh chóng đem quân về ứng cứu Cánh quân của hai ông có hơn 5 nghìn tinh binh, trang bị khí giới tinh nhuệ, tiếng trống trận vang dội, cờ xí phấp phới Khi đến động Đỗ Giang, hai ông chỉ huy chiến đấu đánh bại quân của Đỗ Cảnh Thạc, giành thắng lợi và tiêu diệt toàn bộ quân địch.

Sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, định đô tại Hoa Lư, xây dựng nền độc lập tự chủ cho đất nước Nhà vua ban thưởng cho các công thần và chấn chỉnh bộ máy nhà nước để củng cố quyền lực Hai anh em ông Lịch và ông Khiển xin vua cho về quê hương, mong được miễn thuế và lao dịch ở trang Yên Bạc, được Đinh Tiên Hoàng chấp nhận để thể hiện sự khoan dung và tiếp nối truyền thống nhân ái của triều đình.

Về quê, hai ông chấn chỉnh lại làng xóm, cùng dân chúng trong tranglo chuyện làm ăn, xây dựng quê hương Mộthôm trời nổicơng i ô n g, đất trời mù mịt, sấm sét dữ dội vào chỗ ông Lịch ngồi, có một đám mây hồng bay lơ lửng tới chỗ ông, rồi sau đó trời quang đãng, mây tạnh, và ông Lịch Công biến mất, chỉ còn áo mũ bỏ lại Ngày đó là ngày 15 tháng 10, Đinh Tiên Hoàng nghe tin than rằng: “Thiên thần giáng thế phù trẫm mở nước, nay bốn phương đã yên, sao không cùng hưởng phú quý mà sớm về trời như vậy?”, ông bèn phong cho ông là Lịch Lộ Đạivương và ra lệnh cho Khiển Công cùng nhân dân Yên Bạc lập đền thờ ông Sau khi ngài mất, sự linh ứng của ông càng rõ ràng, mỗi khi các tướng sĩ cất quân đi dẹp loạn hoặc làm lễ tại đền, những năm hạn hán, mất mùa đều cầu đảo thì đều được mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu Trải qua các đời vua, thần vẫn được sắc phong và tôn thờ là vị thần linh thiêng mang lại phúc lộc, phù trợ cho nhân dân yên bình.

Di tích của các cổ niên được xây dựng hơn 500 năm trước, ban đầu bằng tranh nứa và sau đó được dựng bằng gỗ, vô cùng khang trang Theo tài liệu cổ nhất còn lưu giữ tại di tích là sắc phong thời Cảnh Hưng năm thứ 44 (1783), chứng tỏ di tích đã tồn tại trước thời điểm này Trải qua hàng trăm năm và những tác động của thời tiết, chiến tranh, di tích đã xuống cấp nhưng nhờ nỗ lực của chính quyền và nhân dân địa phương, nó đã được trùng tu, tôn tạo nhiều lần, như vào năm 1919, 1956, 1967, 1981, 2002, và 2006.

Năm2005,xâydựngnhàbia;Năm2007,trùngtutòaTrungđường;Năm2009,trùngtu 5gianTiềnđường;Năm2012,xâydựngcổngTamQuan.

Di tích còn lưu giữ nhiều tư liệu và hiện vật quý giá có giá trị về mặt lịch sử và văn hóa, góp phần nâng cao hiểu biết về quá khứ Trong quá trình xây dựng hồ sơ xếp hạng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã thống kê tổng cộng 95 hiện vật còn lưu giữ tại di tích, bao gồm 60 hiện vật bằng gỗ, 8 hiện vật bằng sứ, 14 hiện vật bằng đồng, 8 hiện vật bằng giấy, và 5 hiện vật bằng gốm đất nung Các hiện vật cổ, có giá trị văn hóa, lịch sử, thẩm mỹ này đều là những bằng chứng minh chứng rõ nét về quá trình phát triển của di tích qua các thời kỳ.

- 01 Khám thờ: Cao 170cm; dài 90cm; rộng 72cm; Được sơn sonthếp vàng, bên trong có long ngai đặt bài vị Lịch Lộ Đại vương, trang trí tứlinh,mặthổphù.

Ngai thờ được đặt tại ban thờ Hội đồng các quan phía trước Chính tẩm, mang kích thước cao 120cm, dài 110cm, rộng 80cm, đều được sơn son, trang trí các đề tài rồng, hồ cá, hoa cành và mặt thổ phù Bên cạnh đó, còn có 02 ngai thờ nhỏ hơn, cao 80cm, dài 50cm, rộng 40cm, đặt tại bàn thờ Lịch Lộ Đại vương Tất cả các ngai đều thể hiện sự tinh tế trong chế tác và trang trí, phù hợp với không gian thờ cúng trang nghiêm.

- 01 Bát hương đồng: Đường kính 25cm, cao 38cm, đặt trên ngaithờLịch LộĐạivương,trang trírồng chầumặt nguyệt.

- 03bát hươngđá: Đặt tại banthờHộiđồng cácquan,banthờHổ.

- 01 bát hương sứ: Đường kính 25cm, cao 10cm, đặt trên ban thờ Hộiđồng cácquan.

- 01hòm Sắc:ĐặttạibanthờLịchLộ Đạivương (kíchthướccao 20cm; dài60cm;rộng 20cm)

- 02nhangánGỗ:Đặttại banthờLịchLộ Đạivương vàbanthờHộiđồng cácquan.

Ngoàicáchiệnvật,đồthờ tựcổcógiátrị, tại ditíchcònlưugiữđược4 sắc phongcủacác triềuvuaHậuLêvàNguyễn,cụthể:

- Sắcp ho ng n g à y 26tháng 7 năm CảnhHưngt h ứ 44 (n ă m 1783) ,phong choLịchLộĐạivương;

6 ) , phong cho LịchLộ Đàithần thông minhĐại vương;

1 ) , phongcho Lịch Lộ Đài thần thôngminh trườngdưỡng chi thần;

- Sắcphongngày 25tháng7năm KhảiĐịnhthứ9(năm 1924),phongcho Lịch Lộ Đài thần thông minh trườngdưỡngtôn thần.

Vai trò của đềnĐức ĐệNhịtrong đờisống cộngđồng

Các di tích là hình ảnh đẹp và thân thương của làng quê Việt Nam, gợi nhớ về quá khứ và đất mẹ thiêng liêng Di tích lịch sử văn hóa đền Đức Đệ Nhị giữ vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng và góp phần phát triển văn hóa của người dân địa phương.

Trong xây dựng nông thôn mới, việc phát triển kinh tế và xã hội là quan trọng, nhưng nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cộng đồng đóng vai trò then chốt, đặc biệt thông qua việc bảo vệ và phát huy giá trị đền Đức Đệ Nhị Các hoạt động lễ hội truyền thống không chỉ là hoạt động tín ngưỡng tâm linh mà còn là dịp vui chơi, giải trí thể hiện tinh thần đoàn kết cộng đồng, góp phần giữ gìn nét sinh hoạt văn hóa đặc trưng của làng Yên Xuyên Lễ hội gắn bó mật thiết với cuộc sống của người dân chủ yếu làm nông nghiệp, giúp họ gắn kết qua các hoạt động chung, đặc biệt là sự tham gia nhiệt tình của các dòng họ lớn như Đinh, Nguyễn, Đỗ, thể hiện truyền thống gắn bó và trách nhiệm cộng đồng.

Trong dịp lễ hội, mọi người có cơ hội chung vui ăn uống, tham gia các hoạt động giải trí, và thể hiện lòng thành kính cũng như biết ơn đối với Đức Lịch Lộ Đại Vương Những hoạt động này góp phần tạo nên sự gắn kết chặt chẽ hơn giữa các thành viên trong làng, củng cố tinh thần đoàn kết và tình làng nghĩa xóm, góp phần xây dựng cộng đồng vững mạnh và đoàn kết.

Đền Đức Đệ Nhị là di tích linh thiêng giữ vai trò quan trọng trong việc giáo dục truyền thống, lưu giữ giá trị lịch sử và kiến trúc qua nhiều thế kỷ, góp phần xây dựng lòng tự hào dân tộc và niềm tin vào cộng đồng Ông Đỗ Ngọc Ánh, Trưởng ban Khánh tiết làng Yên Xuyên, khẳng định rằng di tích luôn là nơi thiêng liêng, hướng về cội nguồn, thúc đẩy sự đoàn kết và truyền đạt truyền thống yêu nước, ý chí lập tự cường, tôn vinh các anh hùng và nhân cách đạo đức của các thế hệ đi trước trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc và xây dựng đất nước.

Người dân trong làng nhận thức rõ trách nhiệm bảo vệ di tích đền Đức Đệ Nhị, nhằm giữ gìn giá trị lịch sử và văn hóa Đồng thời, họ cũng tích cực phát triển kinh tế địa phương theo hướng bền vững, dựa trên những nguồn thu từ di tích Các dịch vụ như trông xe, bán vàng mã, và đồ lễ đã được mở rộng, góp phần tạo thêm công ăn việc làm và thúc đẩy du lịch Sự kết hợp giữa bảo tồn giá trị văn hóa và phát triển kinh tế giúp nâng cao đời sống cộng đồng trong khu vực.

Quản lý di sản văn hóa (DTLSVH) là hoạt động quan trọng giúp cơ quan quản lý văn hóa thực hiện đúng đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước đối với lĩnh vực di sản văn hóa Để nâng cao hiệu quả của hoạt động này, cần làm rõ các khái niệm như di sản văn hóa (DSVH), di sản văn hóa phi vật thể (DTLSVH), quản lý DTLSVH, cũng như dựa trên cơ sở khoa học và pháp lý phù hợp Nội dung quản lý Nhà nước về DSVH vừa bao gồm các vấn đề chung, vừa đi sâu vào các đặc điểm và đặc thù của di sản phi vật thể, nhằm đảm bảo bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa một cách bền vững.

Khánh An là xã có truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời, với giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đặc sắc của mảnh đất này Hiện nay, xã sở hữu tổng cộng 24 di tích, trong đó có 3 di tích cấp quốc gia và 5 di tích cấp tỉnh, phân loại thành di tích lịch sử và di tích kiến trúc nghệ thuật Đền Đức Đệ Nhị, được xếp hạng di tích cấp tỉnh vào năm 2013, là tác phẩm quý giá trong kho tàng di sản văn hóa của dân tộc, phản ánh rõ nét về đặc trưng văn hóa, cội nguồn và truyền thống hào hùng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Để bảo tồn và phát huy giá trị các di tích và lễ hội lâu dài trong đời sống cộng đồng, các cơ quan quản lý cần nghiên cứu và đề xuất các giải pháp hiệu quả nhằm bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc.

TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH ĐỀNĐỨCĐỆNHỊỞXÃKHÁNHAN,HUYỆNYÊNKHÁNH,TỈNH NINHBÌNH

Chủthể và cơ chế quảnlý

Ngày 28/8/1945, Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã thành lập Bộ Thông tin để thay thế các Ty Văn hóa tại các tỉnh, với nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát huy di sản văn hóa địa phương Từ đó đến nay, ngành Văn hóa đã trải qua nhiều lần đổi tên, bao gồm Ty Thông tin, Ty Văn hóa - Thông tin, rồi đến Sở Văn hóa - Thông tin và Thể thao Ngày 03/3/2008, UBND tỉnh Ninh Bình quyết định hợp nhất Sở Văn hóa - Thông tin, Sở Du lịch, Sở Thể dục - Thể thao thành Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa và du lịch Đồng thời, ngày 6/6/2016, Hội nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Nghị quyết số 14/NQ-HĐND đã thống nhất thành lập Sở Du lịch tỉnh Ninh Bình và đổi tên Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch thành Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Ninh Bình.

Theo Quyết định số 31/2016/QĐ-UBND ngày 18/11/2016 của UBND tỉnh Ninh Bình, lĩnh vực di sản văn hóa (DSVH) và nhiệm vụ của Sở VH&TT được quy định rõ ràng, bao gồm tổ chức thực hiện quy chế, huy động và quản lý nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê di sản phi vật thể và cấp phép nghiên cứu, sưu tầm di sản phi vật thể trong địa bàn Bên cạnh đó, cơ quan này còn tổ chức hướng dẫn, kiểm kê, lập hồ sơ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, đồng thời thỏa thuận lập dự án, báo cáo kinh tế - kỹ thuật, thẩm định dự án cải tạo, xây dựng các công trình ngoài khu vực bảo vệ di tích có ảnh hưởng đến cảnh quan và môi trường Các hoạt động như tiếp nhận hồ sơ, hướng dẫn thủ tục cấp phép khai quật khảo cổ, giám sát thực hiện, thẩm định hiện vật, bảo quản và đăng ký di vật cổ vật đều thuộc trách nhiệm của Sở Ngoài ra, sở còn cấp chứng chỉ hành nghề, giấy phép sao chụp di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, và xác nhận điều kiện thành lập bảo tàng cấp tỉnh cũng như điều kiện hoạt động của các tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa địa phương.

Sở Văn hóa và Thể thao đóng vai trò quan trọng trong việc tham mưu giúp UBND tỉnh Ninh Bình quản lý các di sản làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Cơ cấu tổ chức của Sở gồm Phòng Quản lý Di sản Văn hóa, có nhiệm vụ trực tiếp hỗ trợ hoạt động quản lý di sản, nhưng với số lượng biên chế hạn chế gồm 05 người và 01 trưng tập, cộng thêm phạm vi quản lý rộng lớn và các nhiệm vụ đột xuất theo chỉ đạo của Giám đốc Sở hoặc UBND tỉnh, đã gây không ít khó khăn trong công tác quản lý.

Phòng Văn hóa & Thông tin huyện Yên Khánh là cơ quan chuyên môn giúp UBND huyện Yên Khánh tổ chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch, gia đình và thông tin truyền thông trên địa bàn huyện Theo quy định tại Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ, cơ quan này có trách nhiệm tổ chức và quản lý các hoạt động liên quan đến văn hóa, thể thao, du lịch và thông tin truyền thông phù hợp với quy định của pháp luật.

Phòng VH&TT huyện Yên Khánh hiện có 4 cán bộ (nam giới), trongđó01Trưởngphòng(53tuổi)tốtnghiệpĐạihọcchuyênngànhQuảntrịkinhdoanh;01P hóTrưởngphòng(48tuổi)tốtnghiệpchuyênngànhMỹthuật;01cán bộ tốt nghiệp Đại học Văn hóa,

01 cán bộ chuyên ngành Thể thao.

Hiệnnay,côngtácquảnlýnhànướcvềDTLSVHcủaphòngVH&TThuyệnYênKhánh giaođặctráchchomộtcánbộcónhiềukinhnghiệmnhất,theodõilĩnhvựcnày8năm.T uynhiên,dotìnhtrạngbiênchếcủaphòngVH&TTcònítvàkhốilượngcôngviệckhálớn ,tínhchấtcôngtácquảnlýditíchphụthuộcnhiềuyếutốmôitrườngtựnhiênvàxãhội,nên độingũcánbộchuyêntráchquảnlýditíchtrênđịabànhuyệncòngặpnhiềunhữngkhó khănnhấtđịnh.

Phòng Văn hóa và Thông tin có chức năng tham mưu cho UBND huyện xây dựng và triển khai kế hoạch, quy hoạch phát triển các lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch, gia đình, thông tin truyền thông trên địa bàn huyện Đây là một đơn vị quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển toàn diện của các hoạt động văn hóa và truyền thông, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho cộng đồng Phòng tích cực phối hợp với các tổ chức, doanh nghiệp để triển khai các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch phù hợp với xu hướng hiện nay Việc xây dựng các kế hoạch chiến lược giúp đảm bảo sự phát triển bền vững và thống nhất trong các lĩnh vực liên quan trên địa bàn huyện.

Phòng VH&TTchịu sự chỉđạo,quản lý về tổchức,biênchếvàcông tác của UBND huyện Yên Khánh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn,kiểmtra vềchuyênmônnghiệpvụcủaSởVH&TT,SởDulịchvàSởThôngtin- Truyềnthông.

Trong công tác quản lý di tích, Phòng VH&TT huyện có các chứcnăngsau:

- Quản lý nhà nước đối với công tác bảo tồn, bảo tàng, các DTLSVH,kiếntrúcđãđượcxếphạngtrênđịabànhuyện;thẩmđịnhđốivớ ihồsơxin xếphạng,tubổ,tôntạidi tíchtheo phâncấp.

- Quản lý và chỉ đạo công tác bảo vệ các DSVH vật thể, phi vật thểnhưcácđạosắcphong,cáctượng,cáccổvậtcổ,lễhội,cáctròchơidângian…

- Phối hợp với các cơ quan chức năng quản lý và tổ chức thực hiệncácLễ hộitruyềnthốngtrên địabànhuyện.

- Tham mưucho UBND huyện trong công tác quản lý nhà nước nóichung vềDTLSVH.

- Tổng hợp và trình UBND huyện duyệt kế hoạch quản lý hệ thốngDTLSVHcủa cácxã,đônđốc,kiểmtra việc thựchiệnkếhoạchđó.

Thường xuyên hoặc đột xuất kiểm tra việc giữ gìn, bảo quản và sử dụng các di tích trên địa bàn huyện để đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật Trong trường hợp phát hiện vi phạm về nội dung tu bổ hoặc mục đích sử dụng đã được phê duyệt, có quyền tạm thời đình chỉ công trình tu bổ và hoạt động sử dụng di tích Báo cáo ngay cho thường trực UBND huyện và Sở Văn hóa & Thể thao tỉnh Ninh Bình để xem xét và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm, đảm bảo công tác bảo tồn di tích hiệu quả.

Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về đào tạo và bồi dưỡng lực lượng làm công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa của huyện Đồng thời, chuẩn bị các văn bản cần thiết để báo cáo UBND huyện hoặc trình UBND tỉnh Ninh Bình (thông qua Sở VH&TT) để được duyệt về công tác khen thưởng hoặc xử phạt cá nhân, tập thể có thành tích hoặc vi phạm liên quan đến việc bảo vệ và sử dụng di tích.

Dưới Quyết định số 34/2015/QĐ-UBND ngày 14/12/2015 của UBND tỉnh Ninh Bình, quy định về quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh đã xếp hạng, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn được giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý di tích, thành lập ban quản lý và quy định nội quy, quy chế hoạt động Cơ quan này có trách nhiệm tiếp nhận khai báo về di tích, đề xuất xếp hạng, phối hợp xây dựng hồ sơ và tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan liên quan trước khi trình Hội đồng khoa học xét duyệt Đồng thời, địa phương phải phối hợp ngăn chặn hành vi vi phạm, tuyên truyền pháp luật về bảo tồn di tích, huy động nguồn lực để trùng tu, tôn tạo, và chỉ đạo các ban quản lý cũng như cá nhân liên quan thực hiện hoạt động theo pháp luật Báo cáo định kỳ và sau các lễ hội cũng là trách nhiệm của các cơ quan này nhằm đảm bảo công tác quản lý, bảo vệ di tích STL SSVH và di tích đã được xếp hạng, theo quy định tại Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ về trách nhiệm của UBND cấp xã trong quản lý di sản văn hóa.

Tiếp nhận và xử lý các khai báo về di tích văn hóa (DSVH) để chuyển lên cơ quan cấp trên, đảm bảo quy trình đúng quy định Đồng thời, kiến nghị việc xếp hạng di tích nhằm bảo tồn giá trị lịch sử và văn hóa của các di tích Phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời mọi hành vi làm ảnh hưởng đến sự an toàn của DSVH, đồng thời ngăn chặn và xử lý các hoạt động m Métịnh dị, gây hại theo thẩm quyền để bảo vệ giá trị di tích một cách hiệu quả.

Ban Quản lý di tích có vai trò trực tiếp hỗ trợ UBND xã trong công tác quản lý các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn, bao gồm lập kế hoạch và dự trù kinh phí, thực hiện tu bổ các di tích theo chỉ đạo của UBND huyện Họ còn triển khai công tác bảo vệ, gìn giữ các di tích để đảm bảo sự tồn tại và phát huy giá trị văn hóa Đồng thời, tổ chức các hoạt động tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức cộng đồng về việc bảo vệ và sử dụng đúng mục đích các di tích lịch sử văn hóa Ngoài ra, Ban còn chịu trách nhiệm tổ chức các dịch vụ và đảm bảo cần thiết trong việc sử dụng các di tích phù hợp với quy định của pháp luật.

Thường xuyên kiểm tra hoạt động bảo vệ di tích của các tiểu ban quản lý di tích để kịp thời hướng dẫn và hạn chế sai phạm trong công tác quản lý di tích tại xã BQL di tích xã có quyền tạm đình chỉ và phòng ngừa, ngăn chặn những hành vi vi phạm như lấn chiếm trái phép hoặc phá vỡ cảnh quan di tích Đồng thời, cơ quan này báo cáo với UBND xã để có hướng xử lý phù hợp và kịp thời, đảm bảo công tác bảo vệ di tích được thực hiện đúng quy định.

Tham mưu cho UBND xã xem xét, tặng Giấy khen hoặc đề nghịUBNDh u y ệ n k h e n t h ư ở n g c h o c á n hâ n, t ậ p t h ể c ó th àn h t í c h t r o n g vi ệc bảov ệ v à p h á t h u y g i á t r ị D T L S V H v à x ử p h ạ t t h e o q u y đ ị n h c ủ a p h á p luật các cá nhân,tập thểviphạmviệcbảovệvà sửdụng DTLSVH.

Hiện các di tích được xếp hạng, UBND xã Khánh An đã thành lập Ban quản lý di tích gồm 09 người, do Phó Chủ tịch UBND xã phụ trách văn hóa làm Trưởng ban Các thành viên còn lại là Bí thư chi bộ tại các địa điểm có di tích, cùng các đại diện của các ban ngành, đoàn thể như đại diện mặt trận tổ quốc, hội người cao tuổi, hội phụ nữ, công an, đại diện các dòng họ, nhà trù trì Theo tiêu chuẩn, cán bộ quản lý di tích cần đáp ứng yêu cầu về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tuy nhiên thực tế hầu hết cán bộ văn hóa thông tin xã còn thiếu kỹ năng sâu về ngành bảo tồn và bảo tàng, gây ra những khó khăn và hạn chế trong công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa, góp phần ảnh hưởng đến quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di tích.

2.1.4 Tiểubanquảnlýdi tích Ở mỗi di tích lại có một Tiểu Ban quản lý di tích được thành lập đểtrực tiếp quản lý di tích đó Trưởng Tiểu ban này thường do Bí thư chi bộ,Trưởng thôn đảm nhiệm, thành phần bao gồm: đại diện Chi hội người caotuổi thôn, người trông coi di tích, sư trụ trì hoặc người có uy tín tại cộngđồng đảm nhiệm và được UBND xã phê chuẩn Tiểu ban này có tráchnhiệm quản lý, chăm sóc thường xuyên và phân công người trông coi trựctiếpditích.

Tiểu ban quản lý di tích đền Đức Đệ Nhị gồm có 03 người, là đạidiện hàng giáp của 03 cửa họ, do ông Đỗ Văn Thuội làm trưởng ban. Cứ

Trong năm, các tiêu chuẩn về quản lý di tích đều cần được cập nhật và bổ sung, nhằm đảm bảo sự phù hợp trong công tác bảo tồn Hoạt động của quản lý di tích chủ yếu dựa vào nguồn kinh phí từ tiền công đức của nhân dân, các hoạt động tham quan, lễ hội truyền thống Việc sử dụng kinh phí tại di tích phải tuân thủ nguyên tắc tài chính rõ ràng, minh bạch và đúng quy định pháp luật để đảm bảo hiệu quả và sự bền vững trong công tác bảo quản di tích.

Dù số lượng cán bộ có trình độ chuyên môn từ cao đẳng, đại học trở lên chiếm trên 80%, tỷ lệ cán bộ có trình độ chuyên sâu về công tác bảo tồn và bảo tàng chỉ khoảng 10% - 15% Điều này đặt ra thách thức lớn trong việc quản lý di tích và bảo tồn giá trị văn hóa Để đảm bảo công tác quản lý di sản văn hóa đạt hiệu quả, cấp huyện và cấp xã cần triển khai công tác đào tạo nhân lực có chuyên môn về bảo tồn và bảo tàng Các cấp ủy, chính quyền địa phương cần quan tâm, chỉ đạo toàn diện trong lĩnh vực này để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và giữ gìn di tích lịch sử.

Hoạtđộngquảnlý ditíchđền Đức Đệ Nhị

Dựa trên rà soát ban đầu, xã Khánh An đã xây dựng kế hoạch và phát huy giá trị các di tích nhằm bảo tồn và phát triển bền vững Các bước thực hiện bao gồm xin chủ trương công tác lập quy hoạch di tích, tổ chức điều tra, khảo sát và đánh giá toàn diện về các vấn đề kinh tế - xã hội, bảo vệ và phát huy giá trị di tích, đồng thời đầu tư xây dựng phù hợp Cần thu thập bản đồ đo đạc địa hình, bản đồ quy hoạch xây dựng cùng các quy hoạch chuyên ngành khác còn hiệu lực liên quan đến khu vực quy hoạch di tích Đặc biệt, việc lập hồ sơ (bao gồm bản vẽ, thuyết minh) để đánh giá giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học và thẩm mỹ của di tích, di vật, cổ vật và tài sản văn hóa phi vật thể là bước quan trọng nhằm bảo tồn các giá trị đặc trưng của khu vực.

Các hạn chế chính khi thực hiện các dự án hiện nay bao gồm việc chưa có hướng dẫn chung rõ ràng, thiếu căn cứ thực tiễn và khả năng thực hiện của các đơn vị còn hạn chế Mặc dù các quy hoạch, kế hoạch, dự án có thể được phê duyệt, nhưng tiến độ thực hiện chậm và không đúng kế hoạch do các nguyên nhân như nguồn kinh phí thiếu hụt, quy trình thẩm định kéo dài, thủ tục hành chính phức tạp và đội ngũ cán bộ còn lúng túng trong hướng dẫn, thẩm định và triển khai Các quy chuẩn và tiêu chí khả thi kém đòi hỏi cán bộ quản lý phải có tầm nhìn rộng, kiến thức sâu về đất đai, tài nguyên và môi trường, cùng khả năng phân tích, dự báo chính xác, nắm vững các quy định, quy trình của Nhà nước liên quan đến quản lý, tu bổ, tôn tạo và phục hồi di tích Từ đó, cần tham mưu giúp các cấp lãnh đạo ban hành các văn bản phù hợp với thực tế, thúc đẩy tiến độ và nâng cao hiệu quả triển khai các dự án.

Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin huyện Yên Khánh cho biết, trong thời gian tới, phòng sẽ đề xuất UBND huyện phối hợp với Sở Văn hóa và Thể thao để thực hiện quy hoạch tổng thể các di tích và cụm di tích trọng điểm của huyện, đặc biệt là các di tích trên địa bàn xã Khánh An Đồng thời, phòng sẽ nhờ Sở hỗ trợ tìm kiếm đơn vị tư vấn đủ năng lực để thực hiện việc quy hoạch này dựa trên quỹ hốach, chương trình di tích của toàn huyện nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di tích trong điều kiện phù hợp.

Xã Khánh An đã xây dựng kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn để bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử tại địa phương Các kế hoạch này bao gồm nghiên cứu, khảo sát và kiểm kê di tích; lập hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích; tổ chức khảo sát hiện trạng kỹ thuật của các di tích; và thực hiện tuyên truyền, quảng bá các di tích, đặc biệt là những di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia Ngoài ra, xã còn xây dựng kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý di tích, đồng thời phối hợp làm việc với các trường học nhằm nâng cao ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử trong cộng đồng.

2.2.2 Tuyên truyền, phổ biến trong nhân dân về pháp luật bảo vệ di tíchlịchsử văn hóa

Trong thời gian qua, tỉnh Ninh Bình đã chỉ đạo Sở VH&TT tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền sâu rộng về Luật Di sản Văn hóa, Nghị định, Quy chế, Thông tư liên quan đến tổ chức lễ hội và thực hiện nếp sống văn minh thông qua các lớp tập huấn cho cán bộ chủ chốt ở cơ sở, nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng Các hình thức tuyên truyền gồm phát thanh qua hệ thống đài truyền thanh, các buổi sinh hoạt tập thể, chương trình văn nghệ địa phương, báo chí, tạp chí, internet và các chuyên mục truyền hình đã góp phần phổ biến kiến thức về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, giúp người dân hiểu rõ trách nhiệm của mình trong công tác quản lý lễ hội Đặc biệt, hệ thống loa truyền thanh tại các di tích như đền Đức Đệ Nhị được sử dụng thường xuyên để truyền đạt nội quy, giới thiệu ý nghĩa di tích, các quy định đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ, qua đó nâng cao ý thức cộng đồng về giữ gìn và bảo vệ di sản văn hóa Ngoài ra, UBND xã Khánh An phối hợp với các trường học, câu lạc bộ văn nghệ tổ chức các hoạt động truyền thông về bảo vệ di sản và lễ hội truyền thống, góp phần xây dựng ý thức cộng đồng và thúc đẩy việc thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội và đời sống hàng ngày.

Trong những năm qua, UBND xã Khánh An đã chỉ đạo Ban Quản lý di tích đền Đức Đệ Nhị tích cực tuyên truyền và phổ biến Luật Di sản Văn hóa cùng các hướng dẫn về công tác quản lý và tổ chức lễ hội Việc này nhằm bảo đảm cán bộ và nhân dân tham quan, chiêm bái hiểu rõ và thực hiện đúng quy định của địa phương cũng như quy chế do Ban Quản lý di tích đề ra Ngoài ra, hoạt động tuyên truyền về Luật Di sản Văn hóa còn được tích hợp trong các hoạt động của Hội người cao tuổi, Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội khuyết học, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn di tích lịch sử.

Vào ngày 01/10/2012, các tổ chức SVHTTDL-ĐTN-HLHPN-HKH đã phối hợp thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” Một trong những nhiệm vụ quan trọng là chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng Nhờ công tác tuyên truyền đa dạng, ý thức cộng đồng về bảo vệ di tích đã được nâng cao, thúc đẩy người dân tự nguyện tham gia vào sự nghiệp bảo vệ, gìn giữ và phát huy giá trị của di tích đền Đức Đệ Nhị nói riêng và di sản văn hóa nói chung.

2.2.3 Tubổ và tôntạo di tích

Trong những năm gần đây, hoạt động tu bổ, tôn tạo và phục hồi di tích trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đã diễn ra sôi động và rộng khắp cả ở thành phố lẫn khu vực nông thôn, nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa, tinh thần và tâm linh của người dân ngày càng nâng cao Trung bình mỗi năm, cả tỉnh có hàng trăm công trình di tích được đầu tư bằng nguồn vốn quốc gia, xã hội hóa và công đức của nhân dân, với kinh phí lên đến hàng tỷ đồng để bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa.

Các hoạt động mở rộng diện tích đất đai để đáp ứng nhu cầu tổ chức các hoạt động văn hóa và bổ sung các hạng mục phụ trợ là cần thiết để tạo không gian cảnh quan chung Tuy nhiên, việc này gặp nhiều khó khăn về thủ tục, sự quan tâm của các cấp chính quyền, cán bộ và người dân, cũng như các yếu tố như quỹ đất và bồi thường Ông Đỗ Ngọc Cường, Phó Chủ tịch UBND xã Khánh An cho biết, trong những năm gần đây, nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần của người dân tăng cao dẫn đến hoạt động tu bổ, tôn tạo di tích diễn ra sôi động Năm 2017, xã đã tu bổ 3 di tích đã xếp hạng từ nguồn vốn mục tiêu quốc gia và xã hội hóa, với tổng kinh phí hàng tỷ đồng; nhiều di tích chưa xếp hạng cũng được tu bổ với số tiền lớn Sau khi được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, đền Đức Đệ Nhị đã được đầu tư tu bổ đáng kể, nâng cao tính khang trang và bền vững.

2013, xâydựng cổng và đúc chuông với tổng kinh phí 800 triệu; Năm 2014

Năm 2015, Ban Quản lý di tích đã làm việc với UBND xã Khánh An để làm thủ tục di chuyển đất nhà Văn hóa diện tích 1.040m² và xây dựng lại nhà Văn hóa trên vị trí mới với tổng kinh phí 1,5 tỷ đồng Tiếp đó, năm 2016, Ban Quản lý di tích tiếp tục mua phần đất bãi bóng phía sau di tích và chuyển bãi bóng ra phía cạnh nhà Văn hóa mới, với kinh phí khoảng 800 triệu đồng, đồng thời xây dựng nhà sắm lễ với tổng kinh phí 200 triệu đồng (Tàiliệu phỏng vấn sâu tháng 10 năm 2017)

Công tác tu bổ, tôn tạo di tích tại đền Đức Đệ Nhị và các di tích đã được xếp hạng đều phải thực hiện theo Quyết định số 34/2015/QĐ - UBND ngày 14/12/2015 của UBND tỉnh Ninh Bình về quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng trên địa bàn tỉnh Ninh Bình Việc tu bổ, tôn tạo di tích đền Đức Đệ Nhị nói riêng và các di tích nói chung được thực hiện theo quy trình quy định, bao gồm nghiên cứu tư liệu, khảo sát hiện trạng và đánh giá toàn diện các yếu tố gốc Quá trình này còn bao gồm chụp ảnh nguyên trạng, đo vẽ, miêu tả chi tiết từng hạng mục của di tích cần được tu bổ, tôn tạo Sau đó, xây dựng dự án và thiết kế kỹ thuật trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt để đảm bảo công tác bảo tồn di tích đúng quy định.

Trong quá trình thực hiện tu bổ, tôn tạo, BQL dự án và các công ty thi công sử dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm giữ gìn các yếu tố gốc của di tích Việc thay thế nguyên vật liệu mới vào di tích được hạn chế tối đa để bảo tồn giá trị truyền thống Ưu tiên sử dụng các vật liệu có chất liệu truyền thống, đảm bảo độ bền vững và tính nguyên bản của các di tích lịch sử.

Phối hợp với các cơ quan chuyên môn để vận dụng các quy trình và kỹ thuật truyền thống trong việc tu bổ, tôn tạo di tích Việc tu bổ và tôn tạo phải đảm bảo đúng kết cấu, kiến trúc và giá trị đặc thù của từng di tích, phù hợp với từng địa điểm cụ thể.

Mặcdù đã có những kếtquả đángghinhận trong hoạt động tub ổ , tôn tạo nhưng so với thực tế xuống cấp nghiêm trọng của các di tích thì đâymới làmộtkếtquả rấtkhiêmtốn.

Kinh phí để tu bổ, tôn tạo các di tích tại Ninh Bình gặp nhiều khó khăn do nguyên nhân chính là sự chậm trễ trong quá trình đầu tư và thiếu hụt nguồn vốn Mặc dù UBND tỉnh đã quan tâm, đầu tư đúng mức và huy động nguồn lực từ nhân dân, nhưng vẫn chưa đủ để xử lý tình trạng xuống cấp nghiêm trọng của các di tích Chi phí xây dựng ngày càng tăng cao do giá nguyên vật liệu trên thị trường tăng, đặc biệt là các nguyên liệu truyền thống, có giá thành cao và khó khai thác Kỹ thuật tu bổ và tôn tạo đòi hỏi sự phù hợp và có sự tham gia của các đơn vị thi công có kinh nghiệm và chuyên môn cao để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của dự án.

Phần lớn các di tích chưa được xếp hạng thường rơi vào tình trạng xuống cấp do thiếu nguồn kinh phí cho việc tu bổ và tôn tạo, dẫn đến các cộng đồng địa phương tự động đóng góp để bảo vệ và giữ gìn di tích Việc tu bổ, tôn tạo di tích phụ thuộc nhiều vào hiểu biết, ý kiến chủ quan và khả năng của những người có trách nhiệm ở địa phương cũng như cộng đồng dân cư Đây là yếu tố quyết định đến việc bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích, đặc biệt khi nguồn lực ngân sách còn hạn chế.

Vaitrò củacộng đồngtrong côngtácquảnlý ditích vàlễ hội

Cộng đồng là tập hợp các công dân cư trú cùng một khu vực địa lý, hợp tác vì lợi ích chung và chia sẻ giá trị văn hóa Các tổ chức chính trị xã hội như Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Hội Người cao tuổi và Hội Nông dân đại diện cho cộng đồng và thúc đẩy hoạt động cộng đồng Di tích đền Đức Đệ Nhị là công trình do cộng đồng chung tay xây dựng, thể hiện sức lao động tập thể và vai trò quan trọng của cộng đồng trong sáng tạo và bảo tồn các giá trị lịch sử văn hóa.

Mỗi di tích đều có một Tiểu Ban quản lý do làng bầu chọn và được UBND xã phê chuẩn, gồm người đại diện uy tín trong cộng đồng như trưởng làng hoặc người trông coi di tích Tiểu ban quản lý di tích đền Đức Đệ Nhị gồm 3 thành viên đại diện cho các gia đình, do ông Đỗ Văn Thuội làm trưởng ban, hoạt động nhằm duy trì và điều chỉnh tổ chức phù hợp hàng năm Làng tổ chức lễ hội, bầu cử ban tổ chức, xây dựng kế hoạch, phân công nhiệm vụ cho các thành viên và báo cáo lên cấp trên để duy trì hoạt động hiệu quả trong việc quản lý và bảo vệ di tích Cộng đồng chính là người tham gia trực tiếp vào công tác quản lý, bảo vệ di tích và tổ chức lễ hội đền Đức Đệ Nhị.

Trongn h ữ n g n ă m q u a , x ã K h á n h A n đ ã c ó n h i ề u d i t í c h đ ư ợ c t u bổb ằ n g n g u ồ n đóngg ó p củacộng đồng dâncưn h ư : đềnLăng,đ ề n

Thượng Yên Lý, chùa Hựu, đình Yên Phú, đặc biệt là đền Đức Đệ Nhị đãđượcđầutưtubổ,tôntạongàycàngkhangtranghơn,vớitổngkinhph ítrên3tỷđồng.

Nhờ nguồn kinh phí do nhân dân đóng góp, nhiều di tích tại xã Khánh An và huyện Yên Khánh đã được tu bổ, tôn tạo khang trang, sạch đẹp Các công trình này nhằm đáp ứng nhu cầu tôn giáo, tín ngưỡng của người dân địa phương, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cộng đồng Việc tu bổ di tích không chỉ bảo tồn giá trị văn hóa mà còn thúc đẩy sự phát triển của địa phương, tạo niềm tự hào và gắn kết cộng đồng dân cư.

Trong tổ chức lễ hội, yếu tố văn hóa và cảm xúc đóng vai trò then chốt, khi nhân dân tự tổ chức, tham gia vừa để thể hiện bản thân vừa để thưởng thức và hòa mình vào không khí lễ hội Sự tham gia này chính là nguyên nhân tạo nên sức hút đặc biệt, giúp lễ hội phù hợp với quá trình phát triển xã hội Các nghi lễ diễn ra tại lễ hội không chỉ là hoạt động tâm linh mà còn là biểu tượng văn hóa truyền thống, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Sức mạnh tâm linh cộng đồng thể hiện qua các nghi thức hành lễ, qua đó mọi người gửi gắm niềm tin, tín ngưỡng vào nhân vật thờ cúng để cầu mong những điều tốt đẹp, may mắn trong cuộc sống.

Tại lễ hội đền Đức Đệ Nhị, nhiều hoạt động văn hóa phong phú diễn ra, góp phần thúc đẩy sự tham gia tích cực của cộng đồng Người dân địa phương có cơ hội thể hiện bản thân qua các tích dân gian, trò diễn do chính cộng đồng tổ chức và tự đánh giá, qua đó giữ gìn và phát triển nhiều trò chơi truyền thống quý giá Các hoạt động cộng đồng này không chỉ tạo sân chơi sôi động mà còn giúp người dân Khánh An gắn bó, hiểu nhau hơn, thậm chí xoa dịu các mâu thuẫn và căng thẳng hàng ngày.

Trong thời gian diễn ra lễ hội, đời sống văn hoá của nhân dân được nâng cao rõ nét, mang lại không khí vui tươi và đậm đà bản sắc truyền thống Sau những ngày lao động sản xuất vất vả, người dân có dịp thư giãn, chia sẻ và tận hưởng những giá trị tinh thần của cuộc sống Cái đẹp trong lễ hội được phát huy tối đa, trong khi những điều tiêu cực bị cộng đồng loại bỏ, giúp duy trì nền văn hóa lành mạnh Lễ hội cũng là dịp để mọi người hướng thiện, thanh lọc tâm hồn và tái tạo năng lượng tích cực cho cuộc sống hàng ngày.

Truyền thống lưu giữ các nghi thức, chương trình lễ hội đền Đức Đệ Nhị qua nhiều thế hệ đều do các người lớn tuổi và uy tín trong cộng đồng đảm nhiệm, tuy nhiên, cộng đồng luôn giám sát và điều chỉnh các nghi lễ để phù hợp, giữ gìn giá trị văn hoá truyền thống Ông Đỗ Ngọc Ánh, Trưởng ban Khánh tiết làng Yên Xuyên, nhấn mạnh vai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ di tích, khẳng định rằng nhận thức đúng về giá trị di tích khiến cộng đồng hành động hợp lý trong bảo vệ, còn nhận thức hạn chế dễ dẫn đến thờ ơ, lấn chiếm đất đai, xây dựng trái phép, gây hại cho cảnh quan và mất mát cổ vật Những vụ mất cắp cổ vật cũng xuất phát phần lớn từ sự thiếu cảnh giác và thiếu phối hợp trong công tác bảo vệ di tích của người dân.

Trong tổ chức lễ hội đền Đức Đệ Nhị, cộng đồng đã phát huy tối đa vai trò của mình như chủ thể của lễ hội, tham gia trực tiếp vào ban tổ chức và thực hiện các nghi lễ Họ tham dự, hưởng thụ các giá trị văn hóa, giám sát quá trình tổ chức lễ hội, đóng góp kinh phí tổ chức và lưu truyền nét đẹp văn hóa của quê hương cho các thế hệ.

Quản lý và sử dụng nguồn lực cho việc bảo vệ, tôn tạo, phát huy giá trị di tích LSVH được thực hiện minh bạch, công khai, với sự giám sát của chính quyền và cộng đồng Kinh phí đóng góp của nhân dân được ghi nhận qua phiếu công đức, danh sách và giá trị công đức được niêm yết tại di tích, giúp người dân dễ dàng theo dõi và giám sát Ban quản lý di tích thành lập Hội đồng xác nhận, kiểm kê tiền công đức gồm đại diện xã, hội người cao tuổi, hội cựu chiến binh, trong đó có thủ quỹ để quản lý nguồn thu Tiến hành kiểm tra, bàn giao tiền định kỳ hoặc sau các ngày lễ, tết để chi sửa sang và tu bổ di tích, đồng thời thực hiện các hoạt động kế toán, báo cáo định kỳ với cộng đồng về nguồn kinh phí này.

Đánhgiá chung

Trong công tác tuyên truyền và nâng cao ý thức cộng đồng, các cấp chính quyền đã đẩy mạnh việc phổ biến luật di sản và các văn bản liên quan thông qua nhiều hình thức như tạp chí, bản tin, lớp tập huấn và cuộc thi tìm hiểu luật, nhằm nâng cao nhận thức của nhân dân và chính quyền địa phương về việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa Các chính quyền cơ sở phối hợp chặt chẽ với các phòng ban chuyên môn, tổ chức các hoạt động truyền thông định kỳ để nâng cao nhận thức cộng đồng, qua đó thúc đẩy trách nhiệm của từng cá nhân và tập thể trong việc gìn giữ di sản Đồng thời, việc xử lý kịp thời các vụ việc liên quan đến lĩnh vực di sản văn hóa, cùng với việc ban hành các văn bản chỉ đạo phù hợp, đã góp phần bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử và văn hóa một cách hiệu quả.

Trong những năm qua, hoạt động tu bổ, tôn tạo di tích đền Đức Đệ Nhị đã diễn ra trên diện rộng với quy mô từ nhỏ đến lớn, phản ánh xu hướng chung của toàn tỉnh Nhiều di tích đã được phục hồi và nâng cấp nhờ nguồn vốn huy động lên đến hàng chục tỷ đồng, thể hiện sự chung tay của cộng đồng xã hội Những hoạt động này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử của di tích, đồng thời đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa của nhân dân địa phương và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng.

Về cơ chế phối hợp chỉ đạo, Sở VHTT&DL, UBND cấp huyện, UBND cấp xã cùng Ban Quản lý di tích từ tỉnh đến cơ sở đều thiết lập hệ thống thông tin, báo cáo và chế độ tổ chức thực hiện theo hướng xuyên suốt Ban Quản lý di tích, do Phó Chủ tịch UBND xã làm trưởng, đã thành lập các tiểu ban trực tiếp quản lý các di tích, bao gồm cả Tiểu Ban Quản lý di tích đền Đức Đệ Nhị Những Ban Quản lý và tiểu ban này đã xây dựng quy chế hoạt động rõ ràng, duy trì hoạt động thường xuyên và hiệu quả, góp phần nâng cao vai trò của UBND cấp xã trong công tác chỉ đạo, quản lý, và đầu tư tu bổ nhằm phát huy giá trị các di tích lịch sử.

Việc huy động nguồn kinh phí xã hội hóa để tu bổ và tạo lập di tích còn gặp nhiều hạn chế Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước chưa đủ để đáp ứng nhu cầu thực tế trong công tác tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử và văn hóa Chính vì vậy, cần đẩy mạnh các hình thức huy động vốn từ cộng đồng và doanh nghiệp để đảm bảo phát triển bền vững các di tích quốc gia Việc nâng cao hiệu quả xã hội hóa sẽ góp phần bảo tồn giá trị văn hóa, lịch sử và thúc đẩy ngành du lịch phát triển.

Việc quản lý và sử dụng nguồn vốn xã hội hóa hiện còn thiếu chặt chẽ và chưa đạt hiệu quả cao Chính quyền chưa thực sự quan tâm đến việc giám sát chặt chẽ nguồn vốn này của cộng đồng, gây ra những hạn chế trong phát huy tối đa tiềm năng của nguồn lực xã hội hóa.

Việc thực hiện dự án bằng nguồn vốn xã hội hóa dẫn đến dễ bỏ qua các quy trình, thủ tục theo quy định của Nhà nước Thiếu sự quản lý chặt chẽ từ các chính quyền và cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng và giá trị lịch sử, văn hóa của di tích.

Hiệnnaycòntồntạimộtsốhiệntượngxâmhạiditíchxảyratrongquátrìnhtubổ,tôntạ oditíchlàtìnhtrạngtựý thayđổi,dichuyển,haysơnmớiđồthờ,hiệnvậttrongditíchdẫnđếnnhữngviphạmvềy ếutốgốccấuthànhcủaditíchvàlàmthayđổinộidungthờtự.Nhữngviphạmnàychủyếud iễnraởcácditíchlàchùacósưtrụtrì,dẫnđếnnhữngmâuthuẫngiữanhàsưtrụtrì với nhân dân và chính quyền làm ảnh hưởng đến việc ổn định tình hìnhanninhtrậttựvàkinhtế- xãhộicủađịaphương.

Các công trình trọng điểm của Nhà nước nhận được sự đầu tư, nhưng các di tích nhỏ như đền Đức Đệ Nhị lại thiếu sự quan tâm và hỗ trợ đúng mức Khi di tích xuống cấp nghiêm trọng, mới được gia cố hoặc tu sửa nhỏ từ nguồn công đức ít ỏi của dân, dẫn đến chất lượng công việc không đảm bảo và dễ bị hư hỏng trở lại Việc tu sửa thường không đúng quy trình, ảnh hưởng xấu đến giá trị lịch sử của di tích Đến nay, đền Đức Đệ Nhị có Ban Quản lý Di tích do Phó Chủ tịch UBND làm trưởng ban, nhưng hoạt động còn yếu, thiếu phối hợp hiệu quả giữa các thành viên, chính quyền địa phương và nhân dân, gây ra vai trò và trách nhiệm mờ nhạt Hiện tượng này phần lớn do thiếu sự gắn kết với chính quyền địa phương, hệ thống chính trị cơ sở còn lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng thiếu trách nhiệm, thờ ơ, có khi còn bao che các hành vi xâm hại di tích do năng lực quản lý yếu kém hoặc sự nể nang, ngại va chạm.

Việc triển khai, tuyên truyền và phổ biến Luật Di sản Văn hóa cùng các quy định của Nhà nước còn gặp nhiều hạn chế và thiếu chủ động Phương pháp tuyên truyền hiện nay còn đơn điệu, thiếu thực tế, gây ảnh hưởng đến hiệu quả truyền đạt thông tin Một bộ phận người dân và chính quyền cơ sở chưa được tiếp cận đầy đủ nội dung các quy định, dẫn đến nhận thức sai lệch và vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ di sản văn hóa Ngoài ra, hạn chế về kinh phí ảnh hưởng đến việc tổ chức các lớp tập huấn cho người trực tiếp trông coi di tích, cán bộ văn hóa xã, phường và đại diện địa phương, khiến công tác tuyên truyền vẫn còn nhiều hạn chế.

Nhận thức hạn chế của một bộ phận người dân và nhà quản lý về nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa là nguyên nhân chính gây ra các hạn chế hiện tại, cùng với cơ chế hỗ trợ và nguồn kinh phí đầu tư cho di tích còn thấp và chưa đáp ứng nhu cầu thực tế Đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về di sản vẫn thiếu ở cả cấp phòng và cấp xã, chất lượng cán bộ chưa phù hợp với yêu cầu thực tế Tác động tiêu cực từ cơ chế thị trường và xu thế hội nhập, cùng với tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, dễ dẫn đến nguy cơ mai một, lệch lạc bản sắc văn hóa, ảnh hưởng của thời gian, chiến tranh, thiên tai, và công tác chỉ đạo từ tỉnh đến huyện chưa kịp thời triển khai, khiến các kế hoạch của địa phương chưa phù hợp và không theo đúng hướng dẫn của cấp trên trong công tác quản lý di sản văn hóa.

Kể từ khi Luật Di sản Văn hóa có hiệu lực, sự phối hợp giữa các cấp chính quyền và cơ quan quản lý ngành đã thúc đẩy nhiều chuyển biến tích cực trong công tác quản lý di tích tại Ninh Bình Việc tuyên truyền pháp luật về di tích đến cộng đồng, tổ chức các hoạt động kiểm kê, xếp hạng, nghiên cứu khoa học và bảo vệ di tích ngày càng hiệu quả Các hoạt động tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị di tích cũng được đẩy mạnh, góp phần bảo tồn và phát triển giá trị văn hóa Công tác thanh kiểm tra, xử lý vi phạm, giải quyết đơn thư khiếu nại được thực hiện nghiêm túc, còn các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn giúp nâng cao năng lực quản lý di tích Việc khen thưởng và xử lý nghiêm các sai phạm của tổ chức, cá nhân góp phần duy trì và tôn vinh giá trị di tích Đặc biệt từ năm 2015, UBND tỉnh Ninh Bình đã ban hành Quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa, được xếp hạng theo quy định, góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn di tích trên địa bàn tỉnh.

Bình, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa đã có những bước chuyển biến rõ nét, với hoạt động quản lý nhà nước và các cơ sở văn hóa được chú trọng đúng mức Hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa và việc phát huy các giá trị văn hóa luôn được đề cao, triển khai tích cực và mang lại hiệu quả rõ rệt Công tác khảo sát, kiểm kê gắn liền với hoạt động trùng tu, tôn tạo các di tích ngày càng được chú trọng, góp phần nâng cao giá trị của các di tích lịch sử, văn hóa Trong tình hình mới hiện nay, giá trị của di sản văn hóa ngày càng được nâng cao và phát huy, đặc biệt trong việc nâng cao nhận thức và giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ.

Những kết quả đạt được nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp chính quyền và nỗ lực triển khai của các cơ quan quản lý chuyên ngành như Sở VHTT&DL, Phòng Văn hoá và Thông tin huyện Vai trò của Ban Quản lý di tích, Tiểu ban Quản đất cùng ý thức trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân giữ gìn, bảo vệ và phát huy giá trị các di tích, lễ hội góp phần vào sự phát triển bền vững của cộng đồng và tăng cường giá trị văn hóa địa phương.

Dù đã đạt được nhiều kết quả, tỉnh vẫn đối mặt với các hạn chế trong công tác quy hoạch đất đai và đô thị hóa, gây ra rạn nứt trong hệ thống di tích lịch sử - văn hóa Việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích liên quan đến phát triển kinh tế vẫn chưa hiệu quả Hệ thống tổ chức bộ máy nhân sự và cơ chế phối hợp giữa các cấp còn chưa chặt chẽ, gây khó khăn trong quản lý di tích Đồng thời, việc phân cấp quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích còn nhiều vấn đề cần điều chỉnh, bổ sung phù hợp với sự phát triển của địa phương và các quy định pháp luật hiện hành.

Nhữngnhântốtác độngđếnquảnlýditíchđềnĐứcĐệ Nhị

Việc quản lý và bảo tồn di sản văn hóa đền Đức Đệ Nhị được giao cho Ban quản lý di tích, có chức năng nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn, trùng tu và tôn tạo di tích để phát huy giá trị của nó Ban quản lý trực tiếp tham mưu UBND xã Khánh An trong các công tác bảo vệ di tích, trong đó Phó Chủ tịch UBND xã làm trưởng ban và các tổ chức đoàn thể xã hội là thành viên, góp phần tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia bảo quản và tu bổ di tích theo phương hướng xã hội hóa Các hoạt động buôn bán thánh, mê tín dị đoan trong mùa lễ hội đã giảm rõ rệt, chính quyền địa phương còn kiến nghị lập hồ sơ xếp hạng di tích để tạo cơ sở pháp lý vững chắc, bảo vệ và khai thác di tích, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.

Kể từ khi đền Đức Đệ Nhị được công nhận là di tích lịch sử văn hóacấpt ỉ n h , c ô n g t á c q u ả n l ý , b ả o t ồ n , p h á t h u y g i á t r ị d i s ả n đ ã c ó n h ữ n g thành quảlớn.

Việc trùng tu, tôn tạo di tích được chính quyền địa phương và nhân dân quan tâm, ủng hộ, góp phần lớn vào thành công của quá trình bảo tồn Các công trình sau trùng tu phải đảm bảo về mỹ thuật, kiến trúc, giữ gìn nét cổ và bản sắc văn hóa dân tộc, theo quy định của Nghị định 70/2012/NĐ-CP, Thông tư 18/2012/TT-BVHTTDL và Luật Xây dựng Để bảo tồn và phát huy giá trị di tích hiệu quả, các hoạt động cần tuân thủ chính sách phát triển của trung ương, như Luật Di sản văn hóa (năm 2001, sửa đổi 2009), Nghị định 92/2002/NĐ-CP, Quyết định số 05/2003/QĐ-BVHTT và Quyết định số 34/2015/QĐ-UBND của tỉnh Ninh Bình Các quy định này đề cao việc bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh, góp phần nâng cao giá trị văn hóa của di tích trong cộng đồng.

Nhờ vào các văn bản pháp luật của Trung ương và địa phương ban hành kịp thời, đúng lúc và cụ thể, việc quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích đền Đức Đệ Nhị đã đạt hiệu quả rõ ràng Điều này cũng góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của cộng đồng trong việc giữ gìn và bảo tồn di sản văn hóa Đồng thời, các quy định pháp luật giúp điều chỉnh mối quan hệ giữa các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn di tích, đảm bảo yếu tố văn minh, lịch sử cho di tích.

Hiện tại, công tác quản lý di tích chủ yếu chỉ mang tính phân đoạn theo địa bàn, như tổ chức nhân sự, bảo vệ, chống vi phạm, quản lý quỹ công đức và tổ chức lễ hội, do đó chưa thể thực hiện quản lý toàn diện và hiệu quả Bộ máy chính quyền cấp xã còn yếu và chưa đủ mạnh để đảm nhận công tác quản lý di tích, vì cán bộ làm công tác văn hóa do địa phương chỉ định, thiếu đào tạo và nhận thức đúng về giá trị văn hóa Trình độ và kinh nghiệm quản lý còn hạn chế, dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình bảo vệ và phát huy giá trị di tích, đặc biệt là trong việc đánh giá và quyết định các vấn đề liên quan Tâm lý cảm tính, xuề xòa trong xử lý công việc, cùng với việc dựa vào nguồn kinh phí từ trên xuống và trông chờ vào ban quản lý di tích khiến công tác bảo tồn gặp nhiều hạn chế, thiếu sự chủ động và hiệu quả.

Nhận thức về việc trùng tu di sản, di tích cần phải đúng đắn, tuân thủ quy định của luật di sản văn hóa để đảm bảo giữ nguyên trạng kiến trúc cổ của các công trình Việc trùng tu phải tránh xâm hại, làm biến dạng hoặc méo mó di tích, góp phần bảo tồn giá trị lịch sử và văn hóa Hiện tại, nguồn vốn ngân sách của Nhà nước chưa dành cho công tác trùng tu đền Đức Đệ Nhị, do đó cần dựa vào nguồn vốn công, vốn xã hội hóa trong nhân dân để đảm bảo quá trình trùng tu diễn ra đúng quy trình và hiệu quả.

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

Trong những năm qua, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (nay là Sở Văn hóa và Thể thao) đã phối hợp chặt chẽ với các cấp, ngành, đoàn thể trong tỉnh để thực hiện công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa địa phương thông qua các giải pháp như kiểm kê, phân loại, xây dựng hồ sơ xếp hạng di tích, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền và hướng dẫn pháp luật về di sản văn hóa Những nỗ lực này đã tạo ra bước chuyển mạnh mẽ trong nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về vai trò, vị trí của di sản văn hóa, đặc biệt trong công tác tu bổ và tôn tạo các di tích lịch sử.

Để bảo vệ và trùng tu di tích, nhiều nguồn lực đã được huy động bao gồm nguồn vốn do Chính phủ đầu tư từ Chương trình mục tiêu quốc gia chống xuống cấp, ngân sách nhà nước hàng năm của tỉnh và sự tham gia của nhân dân trong hoạt động xã hội hóa Tính đến hết năm 2015, đã có tổng cộng 174 di tích (tương đương 256 lượt) được trùng tu và tôn tạo bằng nguồn ngân sách nhà nước, trong đó có 64 di tích cấp quốc gia (148 lượt) và 110 di tích cấp tỉnh (108 lượt), với kinh phí gần chục tỷ đồng.

Trong giai đoạn 2016-2017, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã hỗ trợ đầu tư tu sửa, tôn tạo hơn 40 di tích cấp tỉnh với nguồn ngân sách hơn 5 tỷ đồng Đặc biệt, xã Khánh An đã nhận được gần 10 tỷ đồng từ nguồn ngân sách của Chương trình mục tiêu Quốc gia về phát triển văn hóa, cùng với sự huy động vốn lớn từ cộng đồng, lên tới hàng chục tỷ đồng Phong trào xã hội hóa hoạt động tu bổ, tôn tạo di tích đã thu hút sự tham gia tích cực của các tầng lớp xã hội, trong đó, đền Đức Đệ Nhị được nhân dân đóng góp trên 3 tỷ đồng Bên cạnh đó, công tác tu bổ di tích bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước đã theo đúng quy định của pháp luật, song vẫn còn những biểu hiện tùy tiện, chưa đảm bảo tuân thủ đầy đủ các quy định của nhà nước và tỉnh trong việc quản lý và thực hiện các hoạt động này.

Để bảo tồn và phát huy giá trị di tích đền Đức Đệ Nhị, các cấp chính quyền cần tăng cường công tác quản lý, xác định rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương, tổ chức và cá nhân trong việc quản lý di tích Công tác tuyên truyền và phổ biến kiến thức về bảo tồn di sản và các quy định pháp luật liên quan đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng Vai trò của cộng đồng địa phương cần được nâng cao để tham gia tích cực vào công tác bảo tồn và quản lý di tích Đồng thời, việc huy động các nguồn lực từ ngân sách nhà nước và cộng đồng xã hội để tu bổ, tôn tạo di tích là yếu tố then chốt giúp bảo vệ và phát huy giá trị di sản lịch sử này.

Cácnhómgiảipháp nhằmnâng caohiệuquả công tácquảnlýdi tíchđềnĐức Đệ Nhị

Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền và phổ biến các quy định của nhà nước về di sản văn hóa đến các cấp chính quyền cơ sở và nhân dân nhằm nâng cao ý thức và trách nhiệm trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Việc này giúp xây dựng ý thức cộng đồng, thúc đẩy sự tham gia của cư dân trong công tác gìn giữ và phát huy các di sản văn hóa Đồng thời, các cơ quan chức năng cần tăng cường công tác giáo dục và truyền thông để nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của di sản văn hóa đối với sự phát triển bền vững của địa phương.

Các cấp chính quyền huyện Yên Khánh đã phối hợp với Ban Sở VH&TT tỉnh tổ chức các lớp tập huấn về luật và quy định trong công tác quản lý di sản văn hóa cho đối tượng liên quan Ông Tạ Quang Thao, Trưởng phòng Văn hóa – Thông tin huyện, cho biết công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quản lý di tích và tổ chức lễ hội đã được triển khai rộng rãi bằng nhiều hình thức phong phú, đảm bảo đúng quy định của Nhà nước Việc này góp phần giáo dục nhân dân địa phương và du khách chấp hành nội quy, quy chế tại di tích, nâng cao ý thức giữ gìn tôn nghiêm nơi tự, giữ gìn vệ sinh môi trường, an ninh trật tự công cộng Đồng thời, hoạt động này còn góp phần tích cực trong việc tuyên truyền, giới thiệu giá trị của di tích và lễ hội, góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.

Chính quyền và các tổ chức đoàn thể địa phương cần chịu trách nhiệm trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của cộng đồng Việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền và phổ biến nâng cao nhận thức về giá trị di sản văn hóa góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong cộng đồng Các kênh thông tin đa dạng và hình thức tuyên truyền phong phú, như báo chí, truyền hình, sân khấu hóa, cần được khai thác hiệu quả để nâng cao ý thức trách nhiệm của cộng đồng trong bảo tồn di sản Sử dụng hệ thống phát thanh cơ sở, cổng thông tin điện tử của huyện và các địa phương là giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền về giá trị di sản văn hóa.

Phối hợp đầu tư xây dựng các phim tài liệu ngắn và sách giới thiệu về di sản văn hóa (DSVH) nói chung và đền Đức Đệ Nhị nói riêng nhằm tuyên truyền và quảng bá giá trị văn hóa Các sản phẩm này được sử dụng trong các lễ hội, sự kiện văn hóa hoặc bày bán tại các điểm du lịch, nhà sách trong và ngoài tỉnh để nâng cao nhận thức và phát huy giá trị di sản.

Vớil ợ i t h ế l là một vùng đất cổ có rấ t nhiều di tích lịch sử liên quan đến thời kỳ nhà Đinh - Tiền Lê, góp phần giữ gìn di sản văn hoá của quê hương Xã Khánh An cần xây dựng các mô hình giáo dục truyền thống để giới trẻ hiểu rõ hơn về lịch sử và giá trị của các di tích này, thông qua các buổi học ngoại khoá và chương trình học lịch sử đặc thù Tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề về hệ thống di tích lịch sử, các sự kiện cách mạng gắn với quá trình phát triển của xã Khánh An, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình giúp nâng cao nhận thức cộng đồng về truyền thống và di sản Khuyến khích các đơn vị, trường học, chi bộ Đảng tổ chức các hoạt động quan trọng tại các di tích, nhằm giáo dục truyền thống và lan tỏa giá trị lịch sử đến cộng đồng Bên cạnh đó, việc tuyên truyền rộng rãi qua các phương tiện thông tin đại chúng, mạng internet và các hoạt động ngoài giờ của các trường học sẽ góp phần nâng cao nhận thức và giữ gìn di sản quốc gia, góp phần xây dựng thế hệ trẻ hiểu biết và tự hào về quê hương.

Các lễ hội truyền thống đang diễn ra với tinh thần của đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, đòi hỏi công tác chỉ đạo phải đúng nội dung, mục đích Việc xây dựng kế hoạch tài chính hàng năm cho hoạt động lễ hội là điều cần thiết, bao gồm chi cho quảng bá, tuyên truyền, tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao Đồng thời, cần thúc đẩy công tác xã hội hóa lễ hội thông qua đóng góp tự nguyện của người dân về tài chính, nhân lực, vật lực, sử dụng nguồn vốn từ dịch vụ để tái đầu tư và bảo tồn di tích Việc ngăn chặn xu hướng thương mại hóa lễ hội, giữ gìn cảnh quan môi trường, và bảo vệ phong tục tập quán truyền thống là rất quan trọng Tuyên truyền, giáo dục pháp luật và các quy định về tổ chức lễ hội giúp người dân ý thức về những điều hợp pháp, phù hợp với thuần phong mỹ tục, góp phần hướng lễ hội theo hướng đẹp, văn minh, tránh xa các tác nhân tiêu cực theo tinh thần Thông tư số 15/2015/TT-BVHTTDL ngày 22/12/2015 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Cần đổi mới công tác quản lý nhà nước về các di sản văn hóa (DSVH), đặc biệt là công tác quản lý lễ hội truyền thống Việc này nhằm phát huy vai trò tích cực của lễ hội trong đời sống tinh thần của nhân dân, đồng thời loại bỏ các biểu hiện hoạt động lệch chuẩn Trong các kỳ lễ hội, cần chú trọng giải quyết những vấn đề phát sinh để đảm bảo tính lành mạnh và ý nghĩa của hoạt động lễ hội Từ đó, có thể đề xuất các chính sách và giải pháp cụ thể, khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống.

Việc áp dụng mô hình giáo dục truyền thống có ý nghĩa to lớn trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống yêu nước, văn hóa của quê hương, giúp các thế hệ hôm nay hiểu rõ giá trị lịch sử và truyền thống dân tộc Ông Đỗ Ngọc Cường, Phó Chủ tịch UBND xã Khánh An, cho biết huyện Yên Khánh đã tích cực tuyên truyền Luật Di tích và văn bản hướng dẫn về quản lý, tổ chức lễ hội qua hệ thống đài phát thanh địa phương và trong các hoạt động cộng đồng, nhằm nâng cao ý thức của cán bộ và nhân dân trong việc gìn giữ di sản văn hóa Việc phổ biến pháp luật và các quy định này còn được lồng ghép trong các buổi sinh hoạt của Hội Người cao tuổi, Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ, Đoàn Thanh Niên, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về vai trò của di tích và lễ hội trong đời sống truyền thống.

3.2.2 Tăng cường quản lý nhà nước về quản lý di tích lịch sử văn hóa vàtổ chức lễ hội

Việc kiện toàn tổ chức bộ máy và tăng cường trách nhiệm của các cơ quan quản lý đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo phân cấp quản lý rõ ràng và triệt để đối với các di tích Điều này giúp xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm cụ thể của từng cấp, ngành, tập thể và cá nhân liên quan đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích Nhờ đó, hoạt động bảo tồn di tích sẽ được thực hiện hiệu quả hơn, góp phần giữ gìn văn hóa dân tộc một cách bền vững.

Sở VH&TT tỉnh Ninh Bình đã chỉ đạo các phòng ban chuyên môn phối hợp với phòng Văn hóa - Thông tin cấp huyện để thực hiện công tác quản lý di tích một cách đồng bộ và hiệu quả hơn Đồng thời, ban hành văn bản hướng dẫn các xã, thị trấn đẩy nhanh tiến độ khảo sát, xây dựng hồ sơ khoa học theo Thông tư số 09/2011/TT-BVHTT&DL, nhằm đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng UBND tỉnh xếp hạng các di tích có giá trị cao hoặc xây dựng bia, gắn biển kỷ niệm các sự kiện, địa điểm cách mạng trên địa bàn tỉnh Nghiên cứu xây dựng Đề án trình HĐND, UBND tỉnh ban hành cơ chế chính sách cụ thể về đầu tư kinh phí tu bổ, tôn tạo di tích bằng nguồn vốn xã hội hóa, nhằm giảm thiểu gánh nặng ngân sách nhà nước và nâng cao trách nhiệm của người trông coi di tích trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Công tác phối hợp chặt chẽ với các ngành như Tài chính, Công an, TN&MT, Công thương để đề ra các biện pháp quản lý và phát huy giá trị di tích, bao gồm quản lý di vật, cổ vật, khoanh vùng bảo vệ, cũng như đầu tư kinh phí cho công tác tu bổ, tôn tạo chống xuống cấp nhằm đảm bảo sự bền vững của các di tích lịch sử và văn hóa địa phương Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước thông qua việc triển khai các nội dung liên quan là yếu tố then chốt trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích.

Hoàn thiện cơ chế chính sách về bảo tồn di sản hoặc di tích lịch sử - văn hóa (DSVH), bao gồm đặc biệt là di tích lịch sử văn hóa (DTLSVH) và di tích lịch sử (DLTC), nhằm xây dựng các chính sách phù hợp với tình hình hiện tại và dài hạn Tham mưu với UBND tỉnh, HĐND tỉnh ban hành các văn bản pháp lý mới về quản lý, bảo vệ và sử dụng nguồn vốn trong việc bảo tồn và phát huy giá trị DSVH nói chung và DTLSVH nói riêng Đồng thời, xây dựng các văn bản cụ thể về khoanh vùng, cắm mốc giới, giải phóng mặt bằng để bảo vệ các di tích, đặc biệt là các di tích đã xếp hạng theo quy định.

Chính sách đầu tư và thu hút vốn đầu tư vào các di tích lịch sử là yếu tố then chốt để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Đồng thời, xây dựng chế độ phụ cấp đãi ngộ hợp lý cho người trực tiếp trông coi và bảo vệ di tích thường xuyên được xem là biện pháp quan trọng để đảm bảo công tác quản lý hiệu quả Những chế độ này, do cấp quốc gia và cấp tỉnh trực tiếp xác định, giúp nâng cao động lực làm việc cho đội ngũ giữ gìn di tích, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững của các di sản quốc gia và địa phương.

Đến năm 2020, tỉnh sẽ kiện toàn hệ thống quản lý nhà nước về du lịch và văn hóa, đồng thời tiêu chuẩn hóa đội ngũ làm công tác DSVH để nâng cao chất lượng dịch vụ và quản lý Bổ sung ít nhất một cán bộ làm công tác quản lý di tích lịch sử – văn hóa đúng chuyên ngành, nhằm đảm bảo hoạt động quản lý đạt hiệu quả cao hơn Ngoài ra, sẽ nâng cao chất lượng hoạt động của ban quản lý di tích bằng chế độ đãi ngộ phù hợp, góp phần phát triển bền vững ngành du lịch và văn hóa địa phương.

Thực hiện tốt việc phân cấp quản lý nhà nước về di sản văn hóa (DSVH) nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát huy giá trị di sản Chính quyền địa phương chịu trách nhiệm quản lý nhà nước đối với DSVH trên địa bàn theo quy định của Luật DSVH, đảm bảo việc thực thi công tác bảo tồn đúng pháp luật Ngành văn hóa, thể thao và du lịch đóng vai trò chuyên môn, tham mưụ và giúp UBND các cấp trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa, đồng thời thực hiện phân cấp quản lý cụ thể nhằm đảm bảo quyền lợi và trách nhiệm rõ ràng.

Sở VH&TT tỉnh đóng vai trò là cơ quan trực tiếp chỉ đạo về mặt chuyên môn trong công tác phối hợp với phòng VH-TT huyện Yên Khánh Sở này xác định và hướng dẫn các xã trên địa bàn huyện, đặc biệt là xã Khánh An, tiến hành đánh giá thực trạng đất đai và xây dựng phương án trình Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt.

Ngày đăng: 26/02/2023, 22:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Trọng Am (2002),Địa chí văn hóa Yên Khánh, Ninh Bình,Nxb Vănhóadântộc,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí văn hóa Yên Khánh
Tác giả: Đỗ Trọng Am
Nhà XB: Nxb Vănhóadântộc
Năm: 2002
2. ĐàoDuyAnh(2005),TừĐiểnHánViệt,NxbVănhóaThôngtin,HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2005
3. Hoàng Tuấn Anh (2009),Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa - cơhội mới tháchthứcmới,Tạpchí Di sảnvăn hóasố3,tr.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa - cơ hội mới thách thức mới
Tác giả: Hoàng Tuấn Anh
Nhà XB: Tạp chí Di sản văn hóa
Năm: 2009
5. Đặng Văn Bài (2001),Công tác quản lý di sản văn hóa ở Việt Nam, Tàiliệu lưutrữtạikhoaBảotàngtrườngĐạihọcVănhóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác quản lý di sản văn hóa ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Văn Bài
Nhà XB: Tàiliệu lưutrữtạikhoaBảotàngtrườngĐạihọcVănhóa Hà Nội
Năm: 2001
6. Ban chấp hành Trung ương 5 khóa VIII (1998),Nghị quyết lần thứ 5,Xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắcdântộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương 5 khóa VIII
Năm: 1998
7. Bộ Văn hóa - Thông tin (1996),50 năm bảo tồn di tích lịch sử- v ă n hóa, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học thực tiễn nhân kỷ niệm 50 năm ngàyChủ tịch Hồ ChíMinh ký sắc lệnh Bảo tồnvănhóa dântộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: 50 năm bảo tồn di tích lịch sử- văn hóa, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học thực tiễn nhân kỷ niệm 50 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh Bảo tồn văn hóa dân tộc
Tác giả: Bộ Văn hóa - Thông tin
Năm: 1996
9. BộV ă n h ó a - T h ô n g t i n ( 2 0 0 3 ) , Q u y ế t đ ị n h s ố 0 5 / 2 0 0 3 / Q Đ / B V H T T ngày 06 tháng 2 ban hành Quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi ditích lịchsử- vănhóavà danhlamthắng cảnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh
Năm: 2003
10. BộVănhóa,Thểthaovàdulịch(2009),Chỉthịsố73/2009/CT-BVHTTDL ngày 19 tháng 5 về tăng cương công tác quản lý di tích vànângcaochấtlượngcáchoạtđộngbảoquản,tubổvàphụchồiditích Sách, tạp chí
Tiêu đề: BộVănhóa,Thểthaovàdulịch
Tác giả: BộVănhóa,Thểthaovàdulịch
Năm: 2009
13. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2015),Thông tư số 15/2015/TT- BVHTTDLngày22tháng 12n ă m 2015quyđịnh vềtổ chứclễhội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 15/2015/TT-BVHTTDL
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Năm: 2015
15. Nguyễn Văn Cẩn (2011),Đ ị a c h í v ă n h ó a V i ệ t N a m , Nxb Lao động -Xãhội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chỉ văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Cẩn
Nhà XB: Nxb Lao động -Xã hội
Năm: 2011
16. Chính phủ (2002),Chỉ thị số 05/2002/CT-TTg ngày 18 tháng 02 về việctăngcường các biện pháp quảnlý, bảo vệ cổ vật trong di tíchv à ngăn chặn đàobới,trục vét trái phépdi chỉkhảo cổ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 05/2002/CT-TTg ngày 18 tháng 02 về việc tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ cổ vật trong di tích và ngăn chặn đào bới, trộm vét trái phép di chỉ khảo cổ học
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
17. Chínhphủ(2009),Nghịđịnhsố103/2009/NĐ-CPbanhànhngày06/11/2009vềtổchứchoạtđộngvănhóavàkinhdoanhdịchvụvănhóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ban hành ngày 06/11/2009 về tổ chức hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
18. Chính phủ (2009),Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06 thánh 5 phêduyệt Chiếnlượcpháttriển vănhóađếnnăm2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
19. Chínhphủ(2010),Nghịđịnhsố98/2010/NĐ-CPbanhànhngày21/9/2010Quy định chi tiết một số điều của Luật Di sản văn hóa vàluậtsửa đổi bổ sungmộtsốđiều của LuậtDisảnvănhóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ban hành ngày 21/9/2010 Quy định chi tiết một số điều của Luật Di sản văn hóa và luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
21. Chínhphủ(2013),Nghịđịnhsố158/2013/NĐ-CPbanhànhngày12/11/2013về việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa,thểthao,dulịchvàquảngcáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghịđịnhsố158/2013/NĐ-CPbanhànhngày12/11/2013về việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa,thểthao,dulịchvàquảngcáo
Tác giả: Chínhphủ
Năm: 2013
22. Cục Di sản văn hóa (2005),Một con đường tiếp cận di sản văn hóa,Nxb Thế giới,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đường tiếp cận di sản văn hóa
Tác giả: Cục Di sản văn hóa
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2005
23. Lê Ngọc Dũng (2005),Tổ chức quản lý và khai thác các di tích và danhthắng ở Việt Nam trong cơ chế thị trường,Nxb Văn hóa Thông tin,HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức quản lý và khai thác các di tích và danh thắng ở Việt Nam trong cơ chế thị trường
Tác giả: Lê Ngọc Dũng
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2005
24. Đại hội Quốc tế lần thứ hai các Kiến trúc sư và Kỹ thuật gia về Di tíchlịch sử, Venice (1964),Hiến chương Venice (Italia), Bản dịch lưu tạiCụcDisảnVănhóa,Bộ vănhóa thôngtin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến chương Venice
Nhà XB: Cục Di sản Văn hóa, Bộ Văn hóa
Năm: 1964
25. Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên), (2001),Xây dựng và phát triển nền vănhóatiêntiến,đậmđàbảnsắcdântộc,NxbChínhtrịQuốcGia,HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển nền văn hóa tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 2001
26. TrịnhThịMinhĐức,NguyễnĐăngDuy(1993),Bảotồnditíchlịch sử -văn hóa,Nxb ĐạihọcQuốcgia,HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảotồnditíchlịch sử -văn hóa
Tác giả: Trịnh Thị Minh Đức, Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Năm: 1993

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w