MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 Lí do chọn đề tài 2 Mục đích và nhiệm vụ nghiêm cứu 3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4 Tổng quan tài liệu NỘI DUNG CHƯƠNG 1 Sự xuất hiện của phật giáo tại Việt Nam CHƯƠNG 2 Phật giáo[.]
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiêm cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 Tổng quan tài liệu
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: Sự xuất hiện của phật giáo tại Việt Nam
CHƯƠNG 2: Phật giáo trở thành quốc giáo ở thời Lý
CHƯƠNG 3: Phật giáo giữ vai trò ổn định chính trị và phát triển xã hội
CHƯƠNG 4: Tư tưởng Phật Giáo và khối đoán kết chống ngoại bang CHƯƠNG 5: Phật giáo ảnh hưởng đến nền giáo dục và văn hóa thời
Lý
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Phật giáo hay đạo Phật là một tôn giáo đồng thời là một hệ thống triết học bao gồm một loạt giáo lý, tư tưởng triết học cũng như tư tưởng tư duy về nhân sinh quan, vũ trụ quan, thế giới quan, giải thích hiện tượng hiện tượng tự nhiên, tâm linh, xã hội, bản chất của sự vật và sự việc; các phương pháp thực hành, tụ tập dựa trên lời dạy của một nhân vật lịch sử vó thật là Siddhārtha Gautama hay Tất đạt đa Cồ đàm và các truyền thống, tín ngưỡng được hình thành trong quá trình truyền bá, phát triển phật giáo Tại nước ta, Phật giáo được truyền vào từ thời Bắc thuộc, đóng vai trò ảnh hưởng rất lớn trong quá trình phát triển của thời kì phong kiến, đặc biệt tại triều đại nhà Lý kể từ vị vua đầu tiên là Lý Công Uẩn đưa lên thành quốc giáo và phát triển đạt cực thịnh
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của bài tiểu luận này mang đến cho người đọc được cái nhìn tổng quát về
sự xuất hiện, phát triển và vai trò quan trọng của Phật giáo dưới thời nhà Lý trong giai đoạn lịch sử trung đại Việt Nam và vẫn còn được coi là một trong những tôn giáo tín ngưỡng lớn tại Việt Nam ngày nay
Để đạt được mục đích đề ra của bài nghiêm cứu thì sẽ có các nhiệm vụ sau:
- Tổng quan về sự hình thành của Phật Giáo tại Việt Nam
- Phật giáo giữ một vai trò quan trọng như thế nào trong tín ngưỡng của Đại Việt thời Lý
Trang 3- Quá trình ảnh hưởng của Phật giáo ra các lĩnh vực văn hóa xã hội giáo dục.
3 Đối tượng và phạm vi nghiêm cứu
● Đối tượng nghiêm cứu: Phật giáo và vai trò của Phật Giáo trong quá trình phát triển của nhà Lý
● Phạm vi nghiêm cứu: - Về thời gian: Từ khoảng thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIII
- Về không gian: Đại Việt dưới thời Lý
4, Tổng quan tài liệu và phương pháp NCKH
Bài nghiên cứu vận dụng cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và các loại tài liệu liên quan đến Phật Giáo, các tài liệu Khảo cổ học Kết hợp với sử dụng các phương pháp: lịch sử, phân tích – tổng hợp
NỘI DUNG Chương I: Sự xuất hiện của Phật giáo ở Việt Nam
Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới và đã du nhập vào Việt Nam từ rất sớm Theo các tài liệu khảo cổ thời Lạc Việt, nước ta đã có trung tâm Phật giáo Luy Lây nổi tiếng ở vùng châu thổ sông Hồng Đó không chỉ là trung tâm tôn giáo
mà còn là trung tâm chính trị, quân sự, thương mại của Lạc Việt Khi Phật giáo du nhập
từ Phương Bắc vào Việt Nam một cách rộng rãi và tự do hơn, tư tưởng từ bi, vị tha của đạo Phật nhanh chóng được cư dân bản địa tiếp thu và trở thành tâm thức của người Việt
cổ
Dân tộc ta lúc đó đã có một nền văn minh nông nghiệp lúa nước phát triển nhưng
tổ chức nhà nước và tôn giáo còn đơn giản Trong khi đó, nước ta luôn bị kẻ thù Phương Bắc đe dọa xâm lược và đô hộ Có thể nói Phật giáo lúc này góp phần phát huy vai trò hệ
tư tưởng của người Việt chống lại Hán hóa “Trong thời kì Bắc thuộc, Phật giáo tuy chưa trở thành quốc giáo nhưng đã đống vai trò như tôn giáo dân tộc để tham gia bảo vệ văn
Trang 4hóa, chủ quyền dân tộc của người Việt” Sau khi thoát khỏi ách đô hộ của phương Bắc, từ thế kỉ thứ X, nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập tự chủ thì Phật giáo cũng không ngừng phát triển Thời Đinh – Tiền Lê, triều đình bắt động trọng dụng một số nhà sư có kiến thức uyên tâm trên nhiều lĩnh vực khác nhau Các vua dưới thời Đinh – Tiền Lê ban hành một số chính sách bảo trợ và phát triển hệ thống tăng đoán Phật giáo như một tôn giáo chính thống, nhiều chùa lớn được xây dựng ngay tại kinh thành Hoa Lư Phật giáo thời kì này bắt đầu phát huy vai trò như một lực lượng tinh thần của dân tộc trong các đường lối chiến lược xây dựng và ổn định đất nước sau một thời kỳ dài bị giặc Phương Bắc đô hộ
Chương II: Phật giáo trở thành Quốc giáo ở thời Lý
Theo dòng lịch sử, Phật giáo từ một tôn giáo ngoại bang lại trở thành một tôn giáo dân tộc, sang thời Lý, Phật giáo trở thành Quốc giao của nhà nước Đại Việt Mặc dù chỉ tồn tại có hơn 200 năm từ năm 1009 đến năm 1225 với chín đời vua, nhà Lý đã đưa Phật Giáo phát triển cực thịnh sau một khoảng thời gian du nhập vào nước ta Dấu ấn quan trọng nhất trên lĩnh vực chính trị chính là sự kiện năm 1010, sau khi lên ngôi, vua Lý Thái
Tổ đã dời đô từ Hoa Lư (nay là tỉnh Ninh Bình) ra Đại La (Hà nội ngày nay) và đổi tên thành Thăng long, kể từ đó Thăng long trở thành thủ đô văn hiến ngàn đời sau của dân tộc
Đến năm 1054, triều Lý đặt quốc hiệu mới cho nước Đại Việt và buộc nhà Tổng phải thừa nhận nước ta là một quốc gia riêng Trên lĩnh vực quân sự, triều Lý để lại dấu
ấn trên trang sử hào hùng chống ngoại xâm của dân tộc: đánh Chiêm Thành phá tân âm mưu của nhà Tống trong việc lợi dụng Chiêm Thành để xâm lược nước ta và sau đó tổ chức thẳng lợi cuộc kháng chiến chống Tống Ngoài ra, triều đình cũng chăm lo phát triển kinh tế, thúc đẩy văn hóa nên đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ Một dấu ấn quan trọng khác trên lĩnh vực văn hóa tôn giáo tín ngưỡng thời Lý là sự hung thịnh của đạo Phật Sự hung thịnh này biểu hiện rõ nhất ở các tổ chức tăng đoán Không chỉ có số lượng Phật tử đông đảo (hầu như trên cả nước từ vua, quan đến dân đều theo đạo Phật) mà tăng đoán còn có nguồn ruộng đất và tài sản rất lớn Các vua Lý đã kế thừa tổ chức tăng quan từ thời
Trang 5Đinh – Tiền Lê – đây là tổ chức có tính tôn giáo liên quan chặt chẽ với hệ tống nhà nước phong kiến thời điểm đó Tăng quan triều Lý là những người giúp cho nhà nước quản lý các tín đồ phật tử về mặt hành chính, đồng thời trên thực tế cũng là những người bảo vệ quyền lợi của Phật giáo Một số tăng sĩ đắc đạo và có học vấn uyên bác thời kỳ này được các vua Lý hết sức trọng dụng
Dưới thời Lý, một loạt nhà sư được ban hiệu Quốc sư như Vạn Hạnh, Viên Chiếu, Thông Biện, Viên Thông, Không Lộ Vai trò chủ yếu của các Quốc sư thời Lý là những
cố vấn đắc lực giúp Vua hiểu biết về giáo lý đạo Phật, ngoài ra khi cần, các Quốc sư còn
cố vấn cho Vua về vấn đề chính trị, ngoại giao, quân sự, văn hóa, tín ngưỡng Phật giáo…
Nhà Lý đề cao Phật giáo do xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, xét về quan hệ Vua – tôi, vị hoàng đế đầu tiên của nhà Lý (Lý Công Uẩn) có mối quan hệ đặc biệt với các nhà sư đương thời, thưở nhỏ từng là con nuôi của sư Lý Khanh Vân và là đệ
tử thụ giáo của sư Vạn Hạnh Xét về niềm tin tôn giáo, các Vua thời Lý rất sùng đạo, bản thân một số nhà Vua còn được tôn là tổ của các phái thiền Vua Lý Thái Tông là vị Tổ thuộc thế hệ thứ bảy phái Thiền Vô Ngôn Thông Vua Lý Thánh Tông là Tổ thứ hai Thiền phái Thảo Đường
Xét về chính trị, việc nhà Lý thành lập có công hậu thuẫn to lớn của thế lực Phật Giáo trong nước đứng đầu là sư Vạn Hạnh Về sau, các nhà sư lại trở thành những trợ thủ đắc lực giúp Vua xây dựng đất nước Xét về khía cạnh xã hội, triều đình phong kiến nhà Lý muốn tận dụng những ưu điểm của Phật giáo để dung hòa những mâu thuẫn đối kháng trong xã hội Sau triều Lý thành lập, các vị Vu acai trị đất nước dựa trên hệ tư tưởng của đạo Phật nên đã dần dần xoa dịu sự bất bình của nhân dân trước sự bạo tàn, sa đọa của các Vua cuối thời Tiền Lê
Do sự đề cao Phật Giáo của nhà nước phong kiến và sự phát triển của hệ tống tăng đoán, đạo Phật đã từng bước hội nhập vào đời sống của người dân Đại Việt Sự hội nhập
ấy diễn ra không phải chỉ một giai đoạn hay một thời điểm mà là xuyên suốt chiều dài lịch
sử của triều đại nhà Lý Giáo lý đạo Phật được phổ biến rộng rãi trên toàn cõi Đại Việt Trong giai đoạn này, Phật giáo không chỉ dành riêng cho giới sư sãi, phật tử mà còn ảnh hưởng chung toàn xã hội Chùa không chỉ đơn thuần là nơi thờ tự, lễ hội mà còn là nơi
Trang 6học tập, trau dồi đạo đức, văn hóa của người dân Đại Việt, nổi bật nhất là môn phái thiền học được áp dụng một cách rộng rãi trong các tầng lớp dân chúng Đạo Phật đã ăn sâu vào đời sống tinh thần của nhân dân đúng như sau này Hòa thượng Thích Mãn Giác đã viết:
“Mái chùa che chở hồn dân
Nếp sống muôn đời của tổ tông”
Trở thành Quốc giáo hơn 200 năm tồn tại của triều đại nhà Lý, Phật Giáo giữ vai trò quan trọng ảnh hưởng đến sự hình thành và bước đầu phát triền của quốc gia Đại Việt ở tất cá các hoạt động từ chính trị xã hội, quân sự, ngoại giao đến văn hóa, giáo dục
Chương III: Phật giáo giữ vai trò ổn định chính trị và phát triển xã hội
Nước ta vừa mới thoát khỏi thời kỳ đô hộ kéo dài nhưng ngay sau khi độc lập, các Vua Đinh – Tiền Lê phần nhiều là những kẻ vũ biền Nhứng cực hình như ôm cột đồng đốt nóng, thả vạc dầu đun sôi, nhốt vũi ngâm sông, giam vào chuồng hổ báo… để trừng phạt kẻ tội phản do các Vua ban hành để làm mất thiện chí của dân chúng và phản ánh tình trạng xã hội còn lạc hậu Thời kỳ này Phật Giáo mới bắt đầu được chú trọng, các vua Đinh – Tiền Lê chưa thực sự áp dụng việc trị nước dựa vào tư tưởng từ bi, hỷ xả của đạo Phật Sang đến thời kì nhà Lý, nhận thấy tư tưởng và giáo lý của đạo Phật có nhiều điểm phù hợp với việc trị quốc trong thời bình nên các nhà Vua nhà Lý coi trọng tăng đoán đạo Phật – một phần vì mến đạo nhưng cũng một phần vì lí do chính trị Nhờ vào học vấn và tài lực của chư tăng phật tử mà Đại Việt ổn định về chính trị và phát triển hơn các thời kì trước về văn hóa xã hội Giáo sư Nguyễn Đổng Chi viết trong cuốn sách “Việt Nam cổ
văn học sử” có trích dịch một đoạn lời Quôc sư Viên Thông như sau: “Thiên hạ cũng như
một đồ vật, để nó vào nơi yên thì yên vào nơi nguy thì nguy, cốt trong ở chỗ sở hành của nhà Vua; nếu có cái đức hiếu sinh thấm vào lòng dân thì dân yêu như cha mẹ Trị và loạn ở tại tram quan, được người thì trị mà không được người thì loạn… Bậc Vua chúa không làm hung hay vong liền mà dần dần ở sự thiện hay ác Bậc thánh vương xưa biết như thế nên mới bắt chước để yên người… Yên dân là kinh kẻ dưới, hãi hùng như cưỡi ngựa nắm dây cương mục Theo lối đó thì hung mà trái lại thì vong Sự hung vong là dần dần sinh ra thôi” Với những lời trên, quả thật các Quốc sư thời Lý xứng đáng là những
Trang 7nhà cố vấn vững vàng về chính trị Đó là một bài học chính trị thấm nhuần tinh thần Phật giáo
Không chỉ giữ vai trò ổn định hệ thống chính trị, Phật giáo thời Lý còn tác động không nhỏ đến tình trạng phát triển kinh tế xã hội Do sự phát triển của đạo Phật nên các chùa thời này đều có cơ sở vật chất rất lớn, bao gồm rất nhiều ruộng đất và tài sản Một điều đáng quý là nguồn tài sản của các chùa hầu hết để cấu cứu dân nghèo vào những năm mất mùa Cửa chùa cũng chính là nơi cưu mang những người hoạn nạn Các thư tịnh cũ
như Thiền Uyển Tập Anh chép rằng “vua và các tín chủ giàu có thường cúng dường của
cải để chư tăng bố thí cho dân nghèo hay dùng vào các công việc cứu trợ công đức khác”.
Tư tưởng từ bi, cứu thế của đạo Phật còn ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội, Xã hội thời đó thuần hậu hơn so với các triều đại trước Phần lớn các vua Lý đều có lòng khoang dung, nhân từ do ảnh hưởng của đạo Phật Điển hình như các vua Lý Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông luận chỉ đạo quần thần phải chăm lo cho đời sống nhân dân ấm no, hạnh phúc chính là bảo vệ sự độc lập của nhà nước Ở triều đại trước, các vua Đinh – Tiền
Lê chưa thực sự thấm nhuần triết lý sống của đạo Phật mặc dù Phật giáo đã phát triển Vua sẽ là gương sáng chod ân chúng noi theo nhưng có lẽ tư tưởng và cách ứng xử của các Vua Đinh – Tiền Lê chưa phù hợp lòng dân Ngược lại, các vua nhà Lý từ chỗ thấm nhuần đạo lý đạo Phật đã cai trị đất nước trên hệ tư tưởng đúng như lời dạy của Pháp Thuật Thiền sư:
“Quốc lộ như đằng lạc
Nam thiên lý thái bình
Vô vi cưc điện các
Xứ xứ tức đao binh”
Thực tế lịch sử đã chứng minh, bản thân các vua Thiền sư thời Lý đã tự trau đồi đạo đức
vô ngã, triết lý sống nhập thế trên cơ sở tinh thần từ bi, hỷ xả, vô ngã của đạo Phật Các vua nhà Lý trở thành tấm gương cho dân chúng noi theo Điều này tạo nên một đời sống tinh thần tốt đẹp ngay trong đời sống hiện tại Nền kinh tế - xã hội nước ta thời ấy nhờ vậy cũng tiến bộ và phát triển hơn các triều đại trước
Trang 8Chương IV: Tư tưởng Phật giáo và khối đoán kết toan dân chống ngoại bang
Ngay từ khi Phật giáo du nhập vào nước ta khoảng đầu Công nguyên đã đem theo
tư tưởng bình đẳng và tư bì rất thích hợp với khối đại đoán kết toan dân và mở rộng tình yêu thương đùm bọc lẫn nhau của dân tộc ta Tinh thần vô ngã, vị tha Phật đà ấy ở thời Lý
đã thấm sâu vào tiềm thức của cư dân Đại Việt và tạo nên mối đoán kết dân tộc sâu sắc giữa Vua – quan với người dân, giữa tướng lĩnh với binh lính
Sách Đại Việt Sử ký toan thư có dẫn: “Năm 1038, vua Lý Thái Tông ngự ra bố hải
khẩu (Thái Bình) cày ruộng tịch điền Vua sai hữu ti quét đất lập đàn, thân tế thần nông, sau đó cầm cày toan làm lễ cày ruộng Tả hữu can rằng, đó là việc của bọn nông phu, bệ
hạ làm việc ấy làm gì? Vua nói: Trẫm không tự cày thì lấy xôi đâu mà tế, lại lấy gì nêu gương cho thiên hạ Vua đẩy cày ba lần rồi ngừng Nhà vua tự thân cày tịch điền đầu năm Là làm kiểu mẫu cho dân của nhà Lý” Đấy chính là một minh chứng biểu hiện tinh
thần dân chủ và đoán kết giữa vua tôi Đại Việt
Giáo lý về “tất cả chúng sinh đều có Phật tính” đều có sẵn mầm giác ngộ để lượng lai thành Phật là một chủ thuyết thực sự bình đẳng, hạn chế phân biệt ranh giới đẳng cấp phong kiến thời Lý Đối với các Vua kiêm Thiền sư như Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông thì chủ quyết bình đẳng đó không phải là khẩu hiệu mà thể hiện bằng đường lối chính sách cai trị và cả trong cung cách cư sử hằng ngày của các Vua Chính tinh thần dân chủ và tinh thần đoán kết toàn dân do ảnh hưởng hệ tư tưởng đạo Phật đã giúp Đại Việt giành được kỳ tích trong trang sử hào hùng chống ngoại xâm của dân tộc Đó là sự kiện đạp tan cuộc xâm lược quy mô với hơn 30 vạn quân của nhà Tống Để giành được chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống Tống ở thế kỉ XI, bản thân những người đứng
Trang 9đầu nhà nước Đại Việt bấy giờ phải hội tụ nhiều yếu tốt: lòng yêu nước, trí tuệ, tinh thần
vô ngã, bình đẳng giữa quân dân và cả sự khoan dung độ lượng khi kẻ thù thất bại Tinh thần Phật đà thể hiện trong cuộc kháng chiến chống Tống ở triều đại nhà Lý được soi rọi
rõ nhất qua tấm gương lành đạo cao nhất của quân đội Đại Việt lúc bấy giờ là Thái uy Lý Thường Kiệt Vào giai đoạn gần cuối cuộc kháng chiến, Lý Thường Kiệt sử dụng trí tuệ về nghệ thuật quân sự một cách thành công Từ chỗ nắm rõ tinh thần và sự suy yếu của lực lượng địch, đồng thời muốn khích lệ tinh thần của quân dân Đại Việt, ông đã
cho đọc bài thơ thần nổi tiếng “Nam quốc sơn hà” Chính bài thơ thần này đã khơi
dậy tinh thần yêu nước thành sức mạnh chiến đấu trực tiếp diệt thù của người dân Việt Cũng chính bài thơ thần này trở thành bản tuyên ngôn đầu tiên của dân tộc khẳng định
Cuối cùng, để kết thúc chiến tranh khi quân giặc đã bị đè bẹp ý chí hoàn toàn, Lý Thường
Kiệt sử dụng chính sách quân sự mềm dẻo và nhân từ: “dùng biện sĩ bàn hòa, không nhọc
tướng sĩ, khỏi tốn xương máu mà bảo toàn được tôn miếu”.
Từ một nền Phật giáo thuần túy, do nhu cầu của lịch sử, Phật giáo thời Lý biến thành một nền Phật giáo chống ngoại xâm Đây là một trong những vai trò và cũng là dóng góp có ý nghĩa nhất của Phật giáo giai đoạn này Phật giáo thời Lý đã đóng góp vào phong trao vận động độc lập với một lý luận hết sức rõ nét Dưới sự ảnh hưởng của hệ tư tưởng bình đẳng, vô ngã, người dân Đại Việt không kể xuất gia hay tại gia, từ vua quan đến thường dân cùng nhau đoán kết chống ngoại bang bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và độc lập dân tộc Chính những người ủng hộ Phật giáo giai đoạn này – đứng đầu là vua quan – xuất phát từ thực tiễn của dân tộc đã sáng tạo ra lý luận chống ngoại xâm của mình Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam bấy giờ được thể hiện bằng tư tưởng địa linh, một tư tưởng xác định đất nước Việt Nam sẽ sản sinh ra những người dân làm chủ Vì vậy chủ quyền dân tộc là bất khả xâm phạm và bằng mọi giá phải bảo vệ nền độc lập ấy trên nền tảng là sức mạnh đoán kết dân tộc Đây là một bước tiến mới của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và
nó cũng tạo cho hệ tư tưởng Phật giáo một diện mạo mới mang tính đặc thù cho thời đại
và cho dân tộc Việt Nam
Trang 10Chương V: Phật giáo ảnh hưởng đến nền giáo dục và văn hóa thời Lý
Một đặc điểm phổ biến của hệ thống giáo dục Việt Nam, đặc biệt dưới thời Lý, chùa chiền giống như một trường học Mỗi ngôi chùa thời ấy là một diễn đàn, một chốn học đường với tầng lớp người theo học không chỉ có thường dân mà cả bộ phận quý tộc
Sự học hỏi giữa mọi người diễn ra bình đẳng không phân biệt sang hèn Ở thời Lý, các bậc danh thần như Thái úy Tô Hiến Thành hay Thái bảo Ngô Hòa Nghĩa từng thụ giáo học với Thiền sư núi Cao Dã ròng rã trong mười năm mới được biết mặt thầy Nhiều ngôi chùa trở thành thiền viện nổi tiếng, không chỉ phổ biến kinh sách đạo Phật mà còn là diễn đàn của các nhà thơ và tầng lớp tri thức Nho giáo thời bấy giờ Tiêu biểu nhất có lẽ là ngôi chùa Quỳnh Lâm
Chùa Quỳnh Lâm
Chùa Quỳnh Lâm là một trung tâm Phật giáo có vị trí quan trọng vào hàng nhất nhì ở thời
Lý và cả thời Trần sau này Tương truyền người có công khởi dựng chùa Quỳnh Lâm đầu