Untitled ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ – ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI BỘ MÔN TÂM LÝ – GIÁO DỤC MÔN PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG TI[.]
Trang 1ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ – ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
B Ộ MÔN TÂM LÝ – GIÁO DỤC MÔN PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
NH ỮNG KHÓ KHĂN TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG TIẾNG ANH
Ở CÁC TÌNH HUỐNG THỰC TẾ CỦA SINH VIÊN NĂM TƯ KHÔNG
CHUYÊN TI ẾNG ANH - ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ,
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Môn h ọc: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Gi ảng viên hướng dẫn: Nguyễn Đức Giang
Trang 3M ỤC LỤC
1.1 Khó khăn, khó khăn trong hoạt động giao tiếp, khó khăn trong hoạt
động giao tiếp tiếng Anh của sinh viên không chuyên tiếng Anh 05
Trang 41.2 Sinh viên không chuyên ti ếng Anh và các đặc điểm cơ bản của sinh
viên năm tư không chuyên tiếng Anh trường ĐH Ngoại Ngữ
06
1.2.2 Tổng quan sinh viên năm tư không chuyên tiếng Anh trường Đại
1.3.2 Hoạt động giao tiếp bằng tiếng Anh của sinh viên năm tư không
chuyên tiếng Anh ở các tình huống thực tế
11
CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
Trang 52.1 Mô t ả nghiên cứu thực tiễn 12
2.1.3 Mô tả các mẫu nghiên cứu và các bước tiến hành nghiên cứu
thực tiễn
13
Trang 6
M Ở ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài:
Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, tiếng Anh được coi là ngôn ngữ chung trên thế giới, là
một phương tiện giao tiếp thật sự cần thiết đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia Với
sự phát triển của công nghệ và khoa học hiện đại, nhu cầu học tiếng Anh tại Việt Nam ngày càng tăng lên Trong xu hướng của toàn cầu hóa và nền kinh tế hội nhập như hiện nay, Việt Nam đang và sẽ là điểm đến được lựa chọn của rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài cũng như
du khách quốc tế Do đó, các công ty đa quốc gia cũng như các công ty liên kết với doanh nghiệp nước ngoài thường yêu cầu sinh viên tốt nghiệp phải có khả năng nói và biểu đạt
tiếng Anh thành thạo để giao tiếp với đối tác, khách hàng Một ứng viên với một trình độ chuyên môn vững vàng cộng với việc sử dụng tiếng Anh lưu loát luôn tạo được ấn tượng
tốt đối với nhà tuyển dụng Kỹ năng tiếng Anh tốt giúp các ứng viên có được một ưu thế vượt trội hơn so với những người có cùng trình độ chuyên môn
Tuy nhiên, đã có nhiều bài nghiên cứu những năm trở lại đây cho thấy có một thực tế đáng
buồn là sinh viên Việt Nam mặc dù được học tiếng Anh như một môn học chính thức ở nhà trường nhưng hầu như vẫn tỏ ra rất thiếu tự tin khi giao tiếp với người nước ngoài và không
thể nói gì hơn ngoài những câu đơn giản như chào hỏi, giới thiệu bản thân Một cách khách quan mà nói thì sinh viên hiện nay chưa tìm được cho mình một phương pháp học tập đúng đắn Còn về mặt chủ quan thì sinh viên hiện nay chỉ được dạy chủ yếu về mặt ngữ pháp, còn về kỹ năng thực hành, vận dụng tiếng anh vào các tình huống giao tiếp thực tế thì kém Cho dù có thể làm bài tốt bài tập ngữ pháp và biết nhiều từ vựng tiếng Anh, sinh viên vẫn không thể ứng dụng nó vào việc nói tiếng Anh một cách tốt nhất Sinh viên học xong, mặc
dù thi đạt điểm cao, nhưng không sử dụng được ngoại ngữ vào công việc và giao tiếp thực
tế do thiếu kỹ năng Đây được xem là thực trạng chung của tất cả sinh viên học ngoại ngữ, đặc biệt là sinh viên không chuyên tiếng Anh Thông thạo kỹ năng nói không dễ dàng với sinh viên không chuyên tiếng Anh vì những khó khăn trong việc ghi nhớ và phát âm từ vựng,
sự kém tự tin vì bị ảnh hưởng của giọng địa phương Do vậy, để giải quyết được vấn đề làm
thế nào để sinh viên có thể có kỹ năng và sự tự tin trong việc giao tiếp Tiếng Anh ở tình
huống thực tế thì việc quan trọng trước tiên cần làm đó là tìm hiểu mức độ khó khăn của sinh viên không chuyên Tiếng Anh trong hoạt động nói tiếng Anh trong môi trường thực
tế
Trang 7Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Những khó khăn trong hoạt
động giao tiếp bằng tiếng Anh ở các tình huống thực tế của sinh viên năm tư không chuyên Ti ếng Anh - Đại học Ngoại Ngữ, ĐHQGHN”
2 M ục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là khảo sát và nghiên cứu một cách có hệ thống về những
khó khăn của sinh viên năm tư không chuyên tiếng Anh khi sử dụng tiếng anh đã học ở trường vào các tình huống giao tiếp thực tế Từ đó tìm ra biện pháp khắc phục và đề xuất
những phương án nhằm giúp sinh viên áp dụng những kiến thức tiếng anh đã học một cách
hiệu quả nhất trong công việc và trong giao tiếp thông thường hằng ngày
3 Câu h ỏi nghiên cứu:
Bài khảo sát này sẽ tập trung phân tích vào ba nhiệm vụ chính: Sinh viên thường sử dụng
tiếng anh để giao tiếp trong những tình huống nào? Sinh viên thường gặp phải những khó khăn gì khi sử dụng tiếng anh để giao tiếp trong những tình huống thực tế? Làm thế nào
để giúp sinh viên tự tin khi giao tiếp bằng tiếng anh trong các tình huống thực tế?
4 Khách th ể và đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Những khó khăn trong hoạt động giao tiếp bằng tiếng Anh ở các tình huống thực tế
- Khách thể nghiên cứu: Sinh viên năm tư không chuyên tiếng Anh
- Đối tượng khảo sát: 150 sinh viên năm tư không chuyên tiếng Anh trường Đại học Ngoại
Ngữ, ĐHQGHN Cụ thể như sau:
+ Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Nhật Bản: 30 sinh viên
+ Khoa Ngôn ngữ và văn hóa Nga: 30 sinh viên
+ Khoa Ngôn ngữ và văn hóa Hàn Quốc: 30 sinh viên
+ Khoa Ngôn ngữ và văn hóa Pháp: 40 sinh viên
+ Khoa Ngôn ngữ và văn hóa Đức: 20 sinh viên
Trang 8quan đến từ các bạn sinh viên đóng vai trò quyết định Đó là do sự ngại ngùng, thiếu tự tin, thiếu kiến thức, thiếu kỹ năng giao tiếp
Trên cơ sở đó, tôi có thể đề xuất các biện pháp phù hợp nhằm giúp sinh viên năm tư nâng cao khả năng giao tiếp và sử dụng ngoại ngữ trong tình huống thực tế
6 Nhi ệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài như: khó khăn, khó khăn trong hoạt động giao tiếp
bằng tiếng Anh của sinh viên năm tư không chuyên tiếng Anh, hoạt động giao tiếp bằng
tiếng Anh ở các tình huống thực tế của sinh viên năm tư không chuyên tiếng Anh
- Khảo sát thực trạng những khó khăn trong hoạt động giao tiếp bằng tiếng Anh ở các tình
huống thực tế của sinh viên năm tư không chuyên tiếng Anh trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN, cũng như xác định các nguyên nhân gây ra thực trạng này
- Đề xuất một số biện pháp giúp SV năm nhất không chuyên tiếng Anh giảm bớt được những khó khăn đó
7 Ph ạm vi nghiên cứu:
- Giới hạn về đối tượng nghiên cứu: Những khó khăn trong hoạt động giao tiếp bằng tiếng Anh ở các tình huống thực tế
- Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN
- Giới hạn về khách thể nghiên cứu: 150 sinh viên năm tư không chuyên tiếng Anh
Trên cơ sở thu hẹp phạm vi nghiên cứu, người học có thể đưa ra những đánh giá đầy đủ, toàn diện và chân thực về các vấn đề được hỏi Từ đó, kết quả nghiên cứu sẽ mang độ chính xác và tin cậy cao hơn
8 Phương pháp nghiên cứu:
Để phân tích, nghiên cứu về những khó khăn trong hoạt động giao tiếp bằng tiếng Anh ở các tình huống thực tế của sinh viên năm tư không chuyên tiếng Anh, tôi đã sử một số phương pháp như sau:
8.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Tham khảo các công trình nghiên cứu, sách, báo, tạp chí chuyên ngành về các vấn đề liên quan đến đề tài Từ đó, sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa
lý thuyết nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
8.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi, phương pháp xử lý dữ liệu:
Trang 9- Thiết kế bảng hỏi:
Bộ câu hỏi tập trung vào mục đích cung cấp câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau đây:
1 Sinh viên thường gặp những khó khăn nào khi nói Tiếng Anh?
2 Nguyên nhân gì khiến sinh viên gặp khó khăn trong hoạt động giao tiếp bằng tiếng Anh
ở các tình huống thực tế?
Câu hỏi bậc thang: Người trả lời được cho một loạt các lựa chọn diễn tả ý kiến của họ
Bộ câu hỏi tập trung vào mục đích cung cấp câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau đây:
1 Sinh viên có thường sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp hàng ngày không?
2 Sinh viên có nhiều cơ hội giao tiếp với người bản ngữ để thực hành kĩ năng nói tiếng Anh không?
3 Sinh viên có tham gia nhiều hoạt động, phong trào về giao tiếp tiếng Anh để trau dồi sự
tự tin, khả năng nói tiếng Anh không?
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Bao gồm các phương pháp tính tỉ lệ phần trăm, trung bình
cộng nhằm đảm bảo độ tin cậy của các đánh giá trong đề tài
Ngoài ra, bài báo cáo cũng sử dụng các kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu
đã được công bố liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài
9 D ự kiến cấu trúc
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài còn có hai chương: Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài; Chương 2: Cơ sở thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Trang 10CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Khó khăn, khó khăn trong hoạt động giao tiếp, khó khăn trong hoạt động giao tiếp
ti ếng Anh của sinh viên không chuyên tiếng Anh:
1.1.1 Khái ni ệm “khó khăn”:
Theo từ điển Anh-Việt, khái niệm “khó khăn” trong tiếng Anh là “Hardship” hoặc là từ
“Difficulty” đều dùng để chỉ sự khó khăn, gay go, khắc nghiệt đòi hỏi phải có nhiều nỗ lực,
cố gắng để khắc phục
Về mặt ngôn ngữ, theo “Từ điển tiếng Việt” của Viện ngôn ngữ học: “khó khăn” có nhiều
trở ngại hoặc thiếu thốn; đời sống khó khăn; khắc phục khó khăn”[2, tr78]
“Từ điển từ và ngữ tiếng Việt” của tác giả Nguyễn Lân: “khó khăn” là có nhiều trở ngại hoặc
chịu điều kiện thiếu thốn, đời sống khó khăn” [3, tr 89]
N.V Cudơmina trong “Sơ thảo tâm lý lao động của người giáo viên” đã định nghĩa “khó khăn” là trạng thái của cảm giác căng thẳng, nặng nề không thỏa mãn do các nhân tố bên ngoài và bên trong của hoạt động tạo nên và phụ thuộc vào:
- Tính chất của chính các nhân tố bên ngoài của hoạt động
- Quan hệ của con người với hoạt động
- Sự chuẩn bị về trình độ văn hóa, chuyên môn đạo đức và thể chất con người đến với hoạt động [5]
Có thể nói, trong hoạt động muôn màu muôn vẻ của mình, con người có thể gặp những khó khăn muôn màu muôn vẻ khác nhau
Như vậy, từ các định nghĩa trên có thể hiểu khi nói đến “khó khăn” có nghĩa là nói đến
những gì cản trở, trở ngại, rào cản, sự khắc nghiệt, muốn vượt qua đòi hỏi chủ thể hoạt động phải có nhiều nỗ lực và ý chí”
1.1.2 Khái ni ệm “khó khăn trong hoạt động giao tiếp”:
Qua nghiên cứu và tổng hợp các tài liệu, tôi đưa ra định nghĩa về khó khăn trong hoạt động giao tiếp như sau: “Khó khăn trong hoạt động giao tiếp là toàn bộ những yếu tố khách quan
Trang 11Khó khăn nảy sinh trong HĐ giao tiếp đó là những vấn đề chứa đựng nhiều mâu thuẫn và luôn đòi hỏi người giao tiếp phải nỗ lực vượt qua để giải quyết chung một cách hiệu quả
nhằm thích nghi với HĐ giao tiếp Khó khăn trong HĐ giao tiếp bao gồm cả những yếu tố bên ngoài (khách quan) và những yếu tố bên trong (chủ quan) Những yếu tố bên ngoài, được hiểu là những điều kiện, phương tiện hoạt động, môi trường gia đình, nhà trường, xã
hội, … là những yếu tố tác động đến quá trình giao tiếp từ phía bên ngoài, có ảnh hưởng gián tiếp tới tiến trình và kết quả hoạt động giao tiếp của người giao tiếp Còn những yếu
tố bên trong, chính là những yếu tố xuất phát từ bản thân nội tại mỗi người khi tham gia vào hoạt động giao tiếp như sự thiếu hiểu biết sâu sắc về hoạt động, vốn kinh nghiệm hạn
chế, việc thực hiện các thao tác kỹ năng giao tiếp không phù hợp trong quá trình hoạt động,
khả năng ngôn ngữ hạn chế, … Các yếu tố bên trong là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình và kết quả HĐ giao tiếp của người giao tiếp
1.1.3 Khái ni ệm “khó khăn trong hoạt động giao tiếp tiếng Anh của sinh viên năm tư không chuyên ti ếng Anh”:
Khó khăn trong hoạt động giao tiếp tiếng Anh của sinh viên năm tư không chuyên tiếng
Anh là “toàn bộ những trở ngại nảy sinh trong quá trình sinh viên năm tư không chuyên
Khó khăn trong hoạt động giao tiếp bằng tiếng Anh của sinh viên năm tư không chuyên
tiếng Anh được thể hiện ở ba mặt:
- Mặt nhận thức: Ít hiểu biết về văn hóa nước ngoài, chưa quen việc suy nghĩ trực tiếp bằng
tiếng Anh, chưa nhận thức được đúng về bản chất, vai trò của việc giao tiếp tiếng Anh
- Mặt thái độ: Thiếu tự tin trong hoạt động giao tiếp bằng tiếng Anh
- Mặt kỹ năng học tiếng Anh: Kiến thức từ vựng, phát âm tiếng Anh hạn chế, không có phương thức thực hành hoạt động giao tiếp tiếng Anh
1.2 Sinh viên không chuyên ti ếng Anh và các đặc điểm cơ bản của sinh viên năm tư không chuyên ti ếng Anh trường ĐH Ngoại Ngữ:
1.2.1 T ổng quan về sinh viên:
1.2.1.1 Khái ni ệm về sinh viên:
Thuật ngữ SV có nguồn gốc tiếng la tinh “students” có nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm khai thác tri thức Nó được dùng nghĩa tương đương với từ “etudiant”
Trang 12đang học tập và rèn luyện để lĩnh hội một trình độ chuyên môn cao Theo quy định của trường Đại học và Cao đẳng ở Việt Nam thì lứa tuổi SV hiện nay thường là từ 18 đến 23
tuổi, nghĩa là trùng với giai đoạn thứ hai của lứa tuổi thanh niên
Theo từ điển Tiếng Việt: “Sinh viên là người học ở bậc đại học” [8, tr 58]
Theo I.K Kôn thì: Sinh viên là một bộ phận của thanh niên, mặt khác lại là một bộ phận của tri thức
Theo tiến sĩ Đặng Thị Lan, “sinh viên là những người đang học tập, rèn luyện để trau dồi tri
thức, hình thành kĩ năng, kỹ xảo, phẩm chất đạo đức, lối sống, … và phát triển nhân cách toàn diện để trở thành người chuyên gia trong tương lai” [7, tr47]
Từ cách hiểu về thuật ngữ sinh viên như trên, theo tôi: Sinh viên là đại biểu của một nhóm
người đang học tập trong các trường Đại học và Cao đẳng, cả chính quy lẫn không chính quy, những người đang học tập, tiếp thu tri thức và những kỹ năng cần thiết để phát triển toàn diện, để trở thành những chuyên gia có trình độ chuyên môn cao trong một lĩnh vực nhất định có ích cho xã hội
1.2.1.2 Đặc điểm của sinh viên:
- Đặc điểm về thể chất: Sinh viên là những đối tượng đã có những phát triển nhất định về
mặt sinh lý, có đủ sức bền và dẻo dai trong các hoạt động học và làm việc Với độ tuổi hầu
hết tập trung vào khoảng 18 tới 25, tuổi lứa tuổi có sức mạnh thể chất tốt nhất trong vòng đời của một con người nên có thể nói sinh viên có sức chịu đựng cao đối với cả những công
việc đòi hỏi sự vận động của tay chân và trí óc
- Đặc điểm tinh thần: Theo B.G Nanhiev, “lứa tuổi sinh viên là thời kì tích cực nhất về mặt
tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ, là giai đoạn hình thành và ổn định tính cách, đặc biệt học có vai trò xã hội của người lớn, sinh viên có kế hoạch riêng cho hoạt động của mình, độc lập trong phán đoán và hành vi Đây là thời kì có nhiều biến đổi mạnh mẽ về động cơ, thang giá trị xã hội Họ xác định con đường sống tương lai, tích cực nắm vững nghề nghiệp và bắt đầu thể hiện mình trong mọi lĩnh vực của cuộc sống”
+ S ự phát triển trí tuệ: Sinh viên là những đối tượng đã phát triển hoàn toàn về mặt nhận
thức và năng lực trí tuệ, có năng lực giải quyết những nhiệm vụ đòi hỏi tính trí tuệ cao, có
khả năng lĩnh hội tri thức, hay ghi nhớ, hay lập luận logic chặt chẽ hơn Đặc biệt thời kì này, sinh viên đã phát triển khả năng hình thành ý trừu tượng, khả năng phán đoán, có nhu cầu
học tập, trau dồi thêm nhiều kiến thức đa dạng phong phú về xã hội, về nghề nghiệp,… Sự
Trang 13phát triển trí tuệ cộng với óc quan sát tích cực và nghiêm túc sẽ tạo ở sinh viên khả năng
tự học tập và tự nghiên cứu cao
+ S ự phát triển nhân cách: Quá trình phát triển nhân cách của sinh viên diễn ra thông qua
việc củng cố và phát triển niềm tin, xu hướng nghề nghiệp và các năng lực cần thiết; hình thành thế giới quan việc nắm vững các giá trị, tiêu chuẩn về nghề nghiệp và có ý thức nghề nghiệp; nhận thức về nghĩa vụ, trách nhiệm, nâng cao tính độc lập, cá tính và lập trường
sống; trưởng thành về mặt xã hội, tinh thần đạo đức, những phầm chất nghề nghiệp và có
sự ổn định chung về nhân cách, tự làm chủ được hành động của mình
+ Đời sống tình cảm, xúc cảm: Thời kỳ sinh viên là thời kì xuất hiện nhiều tình cảm mới về
trí tuệ, về đạo đức và thẩm mỹ Thường ở lứa tuổi này, xúc cảm đã mang tính ổn định tương đối Tuy nhiên, trong những trường hợp do hạn chế về khả năng giải quyết các mâu thuẫn đã dẫn đến những xúc cảm tình cảm tiêu cực và có những biểu hiện hành vi ứng xử chưa phù hợp với các giá trị chuẩn mực, lứa tuổi này còn đề cao “cái tôi” của mình và muốn
thể hiện tính độc lập, tự giải quyết công việc Sự phát triển về mặt nhận thức cũng như sự
tự ý thức về bản thân giúp họ phần nào biết cách thể hiện hay kiềm chế các xúc cảm, tình
cảm để phù hợp và thích nghi với hoàn cảnh
Như vậy, nói một cách khái quát, sinh viên – những người đang học tập tại các trường Đại
học hay Cao đẳng trước hết là những con người tích cực, chủ động sáng tạo trong học tập, nghiên cứu khoa học, có khả năng giải quyết các vấn đề lý luận hay thực tiễn trong cuộc
sống, đồng thời, trong quá trình này, sinh viên cũng hình thành và rèn luyện các phẩm chất, năng lực mới chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai của mình
1.2.2 T ổng quan sinh viên năm tư không chuyên tiếng Anh trường Đại học Ngoại Ngữ, ĐHQGHN:
Sinh viên năm tư không chuyên tiếng Anh nói chung đều hội tụ đủ những đặc điểm của mọi sinh viên đồng cấp, cả mặt thể chất lẫn tâm sinh lý Điều phân biệt với những sinh viên khác
là ngành học của họ SV năm nhất không chuyên ngữ trong bài nghiên cứu này là SV theo
học những chuyên ngành khác chuyên ngành Tiếng Anh tại Trường Đại học Ngoại Ngữ, ĐHQGHN Tiếng Anh chỉ là một trong số những môn ngoại ngữ hai bắt buộc trong chương trình đào tạo của SV với 14 tín chỉ
1.3 Ho ạt động giao tiếp bằng tiếng Anh ở các tình huống thực tế: