1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bài tập lớn kinh tế chính trị mác lênin đề tài thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế ở việt nam hiện nay

13 15 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Trần Trung Hiếu
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 155,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN ĐỀ TÀI THỰC TRẠNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Họ và tên Nguyễn Trần Trung Hiế[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN

ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở

VIỆT NAM HIỆN NAY

Họ và tên: Nguyễn Trần Trung Hiếu

Mã sinh viên: 11212250 Lớp: Kinh tế chính trị Mác-Lênin_04

Hà Nội, Tháng 10/2022

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Toàn cầu hóa là xu hướng phát triển kinh tế - xã hội mang tính tất yếu, có ảnh hưởng và tác động ngày càng mạnh mẽ tới hầu hết các lĩnh vực của con người trên toàn thế giới Sự hợp nhất về kinh tế giữa các quốc gia tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến nền kinh tế chính trị của các nước nói riêng và của cả thế giới nói chung

Đó là sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế thế giới với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, cơ cấu kinh tế có nhiều sự thay đổi Bởi thế, trong bối cảnh hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu đối với tất cả các quốc gia Hòa vào xu thế chung của thế giới, Việt Nam đã và đang từng bước cố gắng chủ động hội nhập Đối với các nước đang phát triển như nước ta thì hội nhập kinh tế quốc tế là con đường tốt nhất để rút ngắn sự tụt hậu so với các nước khác và có điều kiện phát huy những lợi thế so sánh của mình trong phân công lao động và hợp tác quốc tế Hội nhập kinh tế quốc tế là một chủ trương lớn của Đảng ta, là nội dung trọng tâm của hội nhập quốc tế và là một bộ phận quan trọng, xuyên suốt của công cuộc đổi mới Sau hơn 30 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật Tuy nhiên, một vấn đề bao giờ cũng có hai mặt hội nhập kinh tế quốc tế mang lại cho Việt Nam nhiều thời cơ thuận lợi nhưng đồng thời cũng không ít khó khăn thử thách Vì vậy, giữa bối cảnh hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta luôn là vấn đề lý luận và thực tiễn nóng bỏng, chưa bao giờ giảm nhiệt

Từ những nhận thức trên, em chọn đề tài: Thực trạng hội nhập kinh tế ở Việt Nam hiện nay để hoàn thành bài tập lớn của bộ môn Kinh tế chính trị Mác – Lênin

Trang 3

NỘI DUNG

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

1 Khái niệm:

Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gắn bó một cách hữu cơ nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới góp phần khai thác các nguồn lực trong và ngoài nước một cách hiệu quả

2 Nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế:

2.1 Nguyên tắc của hội nhập kinh tế quốc tế:

Bất kì một quốc gia nào khi tham gia vào các tổ chức kinh tế trong khu vực cũng như trên thế giới đều phải tuân thủ theo những nguyên tắc của các tổ chức đó nói riêng và nguyên tắc của hội nhập kinh tế quốc tế nói chung

Sau đây là một số nguyên tắc cơ bản của hội nhập:

- Không phân biệt đối xử giữa các quốc gia; tiếp cận thị trường các nước, cạnh tranh công bằng, áp dụng các hành động khẩn cấp trong trường hợp cần thiết, dành ưu đãi cho các nước đang và chậm phát triển

Đối với từng tổ chức có nguyên tắc cụ thể riêng biệt

2.2 Nội dung của hội nhập (chủ yếu là nội dung hội nhập WTO):

Nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế là mở cửa thị trường cho nhau, thực hiện thuận lợi hoá, tự do hoá thương mại và đầu tư:

- Về thương mại hàng hoá: các nước cam kết bãi bỏ hàng rào phi thuế quan như QUOTA, giấy phép xuất khẩu , biểu thuế nhập khẩu được giữ hiện hành và giảm dần theo lịch trình thoả thuận

- Về thương mại dịch vụ, các nước mở cửa thị trường cho nhau với cả bốn phương thức: cung cấp qua biên giới, sử dụng dịch vụ ngoài lãnh thổ, thông qua liên doanh, hiện diện

Trang 4

- Về thị trường đầu tư: không áp dụng đối với đầu tư nước ngoài yêu cầu về

tỉ lệ nội địa hoá, cân bằng xuất nhập khẩu và hạn chế tiếp cận nguồn ngoại tệ, khuyến khích tự do hoá đầu tư

3 Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam:

Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa hiện nay, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế đã

và đang là một trong những vẫn đề thời sự đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới Nước nào đóng cửa với thế giới là đi ngược xu thế chung của thời đại, khó tránh khỏi việc bị tụt hậu so với thế giới Trái lại, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế tuy có tiềm ân nguy cơ song đó là yêu cầu tất yếu đối với sự phát triển của mỗi đất nước Bởi vì có những tiến bộ vượt bậc trên lĩnh vực khoa học công nghệ, đặc biệt

là công nghệthông tin và vận chuyển , thì giữa các quốc gia ngày càng có mối liên kết chặt chẽ, nhất là trên lĩnh vực kinh tế Xu hướng toàn cầu hoá được thể hiện rõ

ở sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế thế giới Về thương mại: trao đổi buôn bán trên thị trường thế giới ngày càng gia tăng Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, giá trị trao đổi buôn bán trên thị trường toàn cầu đã tăng 12 lần Cơ cấu kinh tế có

sự thay đổi đáng kể Công nghiệp nhường chỗ cho dịch vụ

Về tài chính, số lượng vốn trên thị trường chứng khoán thế giới đã tang gấp 3 lần trong 10 năm qua Sự ra đời và ngày càng lớn mạnh của các tổ chức kinh tế quốc tế là một phần của quốc tế hoá Nó góp phần thúc đẩy nền kinh tế của các nước phát triển mạnh hơn nữa

Tuy nhiên trong xu thế toàn cầu hoá, các quốc gia giàu có luôn có những lợi thế về lực lượng vật chất và kinh nghiệm quản lý Còn các nước có nền kinh tế yếu kém dễ bị thua thiệt, thường phải trả giá đắt trong quá trình hội nhập Là một đang phát triển, sau mấy chục năm bị chiến tranh tàn phá, Việt Nam bắt đầu thực hiện chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, từ một nền kinh tế tự túc nghèo nàn bắt đầu mở cửa tiếp xúc với nền kinh tế thị trường rộng lớn đầy rẫy những sức ép, khó khăn Nhưng không vì thế mà chúng ta bỏ cuộc Trái lại, đứng trước xu thế phát triển tất yếu, nhận thức được những cơ hội và thách thức

mà hội nhập đem lại, Việt Nam, một bộ phận của cộng đồng quốc tế không thể khước từ hội nhập Chỉ có hội nhập Việt Nam mới khai thác hết những nội lực sẵn

có của mình để tạo ra những thuận lợi phát triển kinh tế

Trang 5

II TÁC ĐỘNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM

1 Về mặt tích cực

- Trên cơ sở các cam kết hội nhập, hệ thống pháp luật từng bước được hoàn thiện, hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo động lực thúc đẩy đổi mới thể chế kinh tế theo hướng ngày gần với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế

- Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm của các doanh nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế

- Hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra nền kinh tế mở, thúc đẩy xuất khẩu, cải thiện cán cân thương mại

- Hội nhập kinh tế quốc tế đã thúc đẩy việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đáp ứng một phần quan trọng nhu cầu vốn và công nghệ của đất nước trong giai đoạn đầu Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

- Hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm, nâng cao trình độ , kỹ năng của lực lượng lao động, góp phần giải quyết nhiều vấn đề xã hội và phát triển bền vững

2 Về mặt tiêu cực

- Hội nhập kinh tế quốc tế nhìn chung thể hiện chủ yếu trong chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước mà chưa biến thành yếu tố nội sinh trong hành động của các cấp, các ngành và doanh nghiệp

- Quá trình đổi mới ở trong nước, hoàn thiện thể chế chưa được thực hiện một cách đồng bộ, chưa gắn kết chặt chẽ với yêu cầu hội nhập và quá trình nâng cao nâng lực cạnh tranh

- Việc phối hợp hội nhập kinh tế quốc tế với hội nhập trong các lĩnh vực khác chưa chặt chẽ để phát huy tổng lực và hạn chế rủi ro, chưa tạo được sự đan xen chặt chẽ lợi ích chiến lược, lâu dài với các đối tác, nhất là các đối tác quan trọng Việc ứng phó với những biến động và xử lý những tác động từ môi trường khu vực và quốc tế còn bị động, lúng túng và chưa đồng bộ

- Nền kinh tế vẫn mang tính gia công, chưa tạo ra các thương hiệu Việt Nam

có uy tín trên thị trường thế giới Xuất khẩu tăng nhanh nhưng chưa thực sự vững chắc, chất lượng tăng trưởng và hiệu quả xuất khẩu còn thấp, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu vẫn còn phụ thuộc nhiều vào doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Trang 6

- Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp và các sản phẩm chủ lực còn thấp và chịu sức ép cạnh tranh với các doanh nghiệp và sản phẩm nước ngoài ngay trên thị trường nội địa

III THỰC TRẠNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM

1 Những thành tựu đã đạt được sau khi đất nước mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế

- Về thương mại, đầu tư: Sau khi gia nhập WTO (2007), hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã gặt hái được nhiều kết quả ngoài mong đợi, điều này thể hiện rõ qua sự tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài Mặc dù chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu (2007 – 2008), tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) vẫn đạt bình quân trên 6%/năm (2007 – 2016), giai đoạn 2017 – 2019 có lúc đạt trên 7%/năm Thu nhập bình quân đầu người năm 2016 đạt 48,6 triệu đồng, tương đương 2.215 USD, trong khi năm 2007 con số này chỉ đạt 835 USD.Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) liên tục tăng cả về số lượng dự án và tổng vốn Năm 2007, với 1.544 dự án, vốn FDI đăng kí đạt 21,3 tỷ USD và thực hiện được 8 tỷ USD Năm 2016, vốn đăng ký đạt 24,4 tỷ USD với 2.556 dự án và vốn giải ngân đạt 15,8 tỷ USD Con số này tính đến ngày 20/3/2021, chỉ mới 3 tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 10,13 tỷ USD, tăng 18,5% so với cùng kỳ năm 2020 Đây là mức tăng khá mạnh, sau hai tháng đầu năm liên tiếp sụt giảm Trong số này, vốn đăng ký mới đạt 7,2 tỷ USD, tăng 30,6% so với cùng kỳ; vốn điều chỉnh đạt 2,1 tỷ USD, tăng 97,4%

so với cùng kỳ Trong khi đó, tổng giá trị đầu tư thông qua góp vốn, mua cổ phần đạt 908 triệu USD, giảm 58,5% so với cùng kỳ

- Về ký kết các hiệp định: Ngày 11/01/2007, Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của WTO, đây là một dấu mốc quan trọng của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Tính đến nay, Việt Nam đã tham gia thiết lập

14 Hiệp định thương mại tự do với hơn 50 quốc gia và nền kinh tế trên thế giới, bao gồm: AFTA (đối tác ASEAN) có hiệu lực từ năm 1993; ACFTA (đối tác ASEAN, Trung Quốc), có hiệu lực từ năm 2003; AKFTA (đối tác ASEAN, Hàn Quốc), có hiệu lực từ năm 2007; AJCEP (đối tác ASEAN, Nhật Bản), có hiệu lực từ năm 2008; VJEPA (đối tác Việt Nam, Nhật Bản), có hiệu lực từ năm 2009; AIFTA (đối tác ASEAN, Ấn Độ), có hiệu lực từ năm 2010; AANZFTA (đối tác ASEAN, Úc, New Zealand), có hiệu lực từ năm 2010; VCFTA (đối tác Việt Nam, Chi Lê), có hiệu lực từ năm 2014; VKFTA (đối tác Việt Nam, Hàn Quốc), có hiệu lực từ năm 2015; Việt Nam - EAEU FTA (đối tác Việt Nam, Nga, Belarus, Amenia,

Trang 7

Kazakhstan, Kyrgyzstan), có hiệu lực từ năm 2016; CPTPP (Tiền thân là TPP) (đối tác Việt Nam, Canada, Mexico, Peru, Chi Lê, New Zealand, Úc, Nhật Bản, Singapore, Brunei, Malaysia), có hiệu lực từ ngày 30/12/2018, có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 14/01/2019; Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Hồng Kông, Trung Quốc (AHKFTA) có hiệu lực tại Việt Nam kể từ ngày 11/06/2019; Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU có hiệu lực từ ngày 01/08/2020; Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Vương quốc Anh (UKVFTA) có hiệu lực chính thức

từ ngày 01/05/2021

Trong những năm gần đây, Việt Nam tiếp tục thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc

tế thông qua việc hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào cuối năm

2015, Việt Nam đã kí Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) vào ngày 15/11/2020 và sắp có hiệu lực, cũng như tiếp tục đàm phán các FTA khác như Việt Nam - EFTA FTA, Việt Nam – Israel FTA

Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc; có 98 cơ quan đại diện của Việt Nam tại nước ngoài; có quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ; là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế; đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 3 nước, quan hệ đối tác chiến lược với 13 nước và đối tác toàn diện với 13 nước Sự hội nhập kinh tế sâu rộng này đã giúp nâng cao vị trí, vai trò và trách nhiệm của Việt Nam trong các diễn đàn và tổ chức của khu vực và thế giới; từ đó góp phần mở rộng thị trường, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, góp phần đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhờ đó những thành tựu đó, kim ngạch xuất khẩu của nước ta tăng trưởng liên tục trên 10%/năm, trở thành nước xuất khẩu lớn thứ 22 thế giới chỉ trong một thời gian ngắn Theo báo cáo của Bộ Công Thương trước Quốc hội ngày 23/09/2020, cùng với việc thực thi thúc đẩy các Hiệp định Thương mại tự do FTA và việc tham gia WTO đã giúp GDP Việt Nam tăng hơn 300%, kim ngạch xuất khẩu tăng hơn 350%

- Về các lĩnh vực khác: hội nhập kinh tế cũng đem lại nhiều lợi ích cho Việt Nam trên khía cạnh hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và cải cách môi trường kinh doanh Hệ thống pháp luật liên tục được bổ sung và hoàn thiện để phù hợp với thông lệ quốc tế, tích cực xây dựng môi trường kinh doanh thông thoáng và minh bạch hơn, bảo đảm sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp nhằm thu hút nhiều hơn các nhà đầu tư nước ngoài Đến nay đã có 71 quốc gia công nhận nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường (tính đến 06/2020), trong đó có các đối tác thương

Trang 8

mại lớn của Việt Nam Bên cạnh đó, việc mở rộng quan hệ hợp tác với các quốc gia trên thế giới đã giúp Việt Nam tiếp thu được khoa học - công nghệ mới và cách quản lý tiên tiến để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Như vậy, sau hơn 3 thập kỉ mở cửa thị trường và hội nhập quốc tế, Việt Nam

đã và đang từng bước chủ động hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế quốc

tế theo các thang bậc: Từ hẹp đến rộng về đối tác và lĩnh vực cam kết, từ thấp tới cao về mức độ cam kết Về hội nhập đa phương, Việt Nam đã có mối quan hệ tích cực với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng Phát triển Á Châu, Quỹ Tiền tệ thế giới, Ngân hàng thế giới Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được đẩy mạnh và đưa lên một tầm cao hơn bằng việc tham gia các tổ chức kinh tế, thương mại khu vực và thế giới, ký kết các hiệp định hợp tác kinh tế đa phương Về hội nhập song phương, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 160 nước và 70 vùng lãnh thổ, mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hoá tới trên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ, ký kết trên 90 Hiệp định thương mại song phương, gần 60 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 Hiệp định chống đánh thuế hai lần

2 Những hạn chế và khó khăn còn tồn tại

Xét về tổng thể, hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang đem lại nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp và nền kinh tế của Việt Nam Tuy nhiên, với 96% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, áp lực cạnh tranh đối với nền kinh tế Việt Nam là rất lớn Trong đó:

- Nhiều sản phẩm có sức cạnh tranh kém Sức ép cạnh tranh từ các doanh nghiệp ngoại nhiều kinh nghiệm đối với thị trường trong nước, cùng với yêu cầu cắt giảm thuế sâu rộng của các FTA là một thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp trong nước vì hầu hết các doanh nghiệp trong nước có trình độ công nghệ lạc hậu Từ đó một số sản phẩm nông sản, thủy sản, dệt may và giày dép gặp khó khăn trong cạnh tranh, dù có tổng kim ngạch xuất khẩu tăng, nhưng về tốc độ tăng trưởng kim ngạch lại có xu hướng giảm

Đối với xuất khẩu, năng lực doanh nghiệp trong nước yếu, không tận dụng được lợi ích của hội nhập giống như các doanh nghiệp FDI Xuất khẩu của doanh nghiệp FDI năm 2007 chiếm 58%, năm 2016 chiếm tới 71,55% Bên cạnh đó, những đóng góp của các doanh nghiệp FDI là chưa bền vững vì chủ yếu tập trung vào gia công, tạo ra giá trị gia tăng thấp cho nền kinh tế Phần lớn các doanh nghiệp FDI vẫn sử dụng công nghệ trung bình nên cũng không đóng góp nhiều cho việc

Trang 9

cải thiện khoa học công nghệ Dù hàng rào thuế quan được dỡ bỏ, song việc có tận dụng được các ưu đãi về thuế quan để mở rộng thị trường hay không lại phụ thuộc vào việc đáp ứng các yêu cầu về quy tắc xuất xứ cũng như các yêu cầu khác (an toàn thực phẩm, vệ sinh dịch tễ ) Với năng lực tự sản xuất và cung ứng nguyên phụ liệu còn hạn chế, thì những yêu cầu về quy tắc xuất xứ hàng hóa lại đang đặt ra thách thức và mối lo ngại cho các doanh nghiệp Việt Nam

Đối với sản xuất trong nước: Việc tự do hóa thuế nhập khẩu sẽ dẫn đến sự gia tăng một cách nhanh chóng nguồn hàng nhập khẩu từ các nước, đặc biệt là từ các nước TPP, EU vào Việt Nam do giá thành rẻ hơn, chất lượng và mẫu mã đa dạng, phong phú sẽ phần nào tác động đến lĩnh vực sản xuất trong nước

Ngoài ra, mặc dù các hàng rào thuế quan gỡ bỏ nhưng các hàng rào kỹ thuật không hiệu quả, chính vì lẽ đó, Việt Nam sẽ trở thành thị trường tiêu thụ các sản phẩm kém chất lượng, ảnh hưởng không hề nhỏ tới sức khỏe người tiêu dùng trong khi lại không bảo vệ được việc sản xuất trong nước

Đặc biệt, sản phẩm nông nghiệp và các doanh nghiệp, nông dân Việt Nam đứng trước sự cạnh tranh gay gắt, trong khi đó hàng hóa nông sản và nông dân là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong hội nhập

- Mức tăng trưởng cao nhưng thiếu bền vững do tăng trưởng phụ thuộc quá nhiều vào vốn và nhân công giá rẻ, trong khi trình độ khoa học - công nghệ và năng suất lao động chưa được cải thiện nhiều Theo Tổng cục Thống kê, năng suất lao động (NSLĐ) bình quân của người Việt vẫn đang ở mức rất thấp so với các nước trong khu vực Nếu năm 2011, NSLĐ của Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia lần lượt gấp NSLĐ của Việt Nam 17,6 lần; 6,3 lần; 2,9 lần và 2,4 lần thì đến năm 2019 khoảng cách tương đối này giảm xuống tương ứng còn 13,1 lần; 5,1 lần; 2,6 lần và 2,2 lần Theo PPP 2011, NSLĐ của Việt Nam năm 2019 chỉ bằng 7,6% mức năng suất của Singapore (Singapore gấp 13,2 lần); 19,5% của Malaysia (Malaysia gấp 5,1 lần); 37,9% của Thái Lan (Thái Lan gấp 2,4 lần); 45,6% của Indonesia (Indonesia gấp 1,8 lần) và bằng 56,9% NSLĐ của Philippines; chỉ cao hơn NSLĐ của Campuchia (gấp 1,6 lần)

- Môi trường kinh doanh được cải thiện nhưng còn chậm, thể chế kinh tế thị trường chưa vận hành đầy đủ, đồng bộ theo quy luật thị trường Mới đây, tổ chức Heritage Foundation đã công bố Báo cáo chỉ số tự do Kinh tế toàn cầu năm 2020, trong đó Việt Nam xếp ở vị trí 105, tăng 23 bậc so với năm 2019, (dù vậy chúng ta vẫn thua xa các nước trong khu vực như Singapore xếp thứ 1, Malaysia xếp thứ 24,

Trang 10

Thái Lan xếp thứ 43) Những hạn chế về thể chế kinh tế này cản trở quá trình phát triển của doanh nghiệp Các doanh nghiệp với năng lực cạnh tranh kém gặp nhiều khó khăn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam cũng không được cải thiện nhiều, năm 2007 Việt Nam đứng 68 trong

số 131 nền kinh tế được xếp hạng thì năm 2019 là 67 trên 141 (thua xa một số nước trong khu vực – xem thêm ở biểu đồ bên dưới) Mặc dù đã có nhiều khởi sắc, song chúng ta vẫn phải tiếp tục cố gắng nhiều hơn nữa để sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong mỏi

- Sự suy giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên và gia tăng ô nhiễm môi trường Nguyên nhân chính của tình trạng này là do năng lực quản lý và bảo vệ môi trường của Việt Nam còn yếu, hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường dù được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều tồn tại, chồng chéo và chưa phù hợp

IV NHỮNG GIẢI PHÁP THIẾT THỰC NHẰM GIA TĂNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC VÀ GIẢM THIỂU TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM

- Tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên

và mọi tầng lớp nhân dân về hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng và hội nhập quốc tế nói chung; nâng cao sự hiểu biết và sự đồng thuận của cả xã hội, đặc biệt là của doanh nghiệp, doanh nhân đối với các thỏa thuận quốc tế

- Đổi mới sáng tạo công nghệ: trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghệ 4.0 hiện nay, Việt Nam cần thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, định vị đất nước ở vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu và thu hẹp khoảng cách phát triển với các nước

- Chú trọng nâng cao năng lực cạnh tranh: thông qua việc đẩy mạnh hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng cho mọi tổ chức, doanh nghiệp, người dân tham gia phát triển sản xuất kinh doanh

- Đẩy mạnh các mối quan hệ: không chỉ đẩy mạnh ta cần làm sâu sắc hơn các mối quan hệ với đối tác nhất là các đối tác có tầm ảnh hưởng chiến lược quan trọng đối với sự phát triển và an ninh của Việt Nam

Ngày đăng: 26/02/2023, 19:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w