1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Vấn đề khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự " pptx

6 932 14
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 134,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lª ThÞ BÝch lan * o tầm quan trọng của việc khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự nên Bộ luật tố tụng dân sự BLTTDS đã dành hẳn chương XII tại Phần thứ hai từ Điều 161 đến Điều 178 để quy địn

Trang 1

ThS Lª ThÞ BÝch lan *

o tầm quan trọng của việc khởi kiện và

thụ lý vụ án dân sự nên Bộ luật tố tụng

dân sự (BLTTDS) đã dành hẳn chương XII

tại Phần thứ hai từ Điều 161 đến Điều 178 để

quy định chi tiết, cụ thể thủ tục, hình thức, nội

dung cũng như quyền hạn nhiệm vụ của các

chủ thể khởi kiện; trách nhiệm của toà án

trong việc nhận đơn khởi kiện, thụ lý vụ án

dân sự So với các quy định của các văn bản

pháp luật tố tụng dân sự trước đây Nhà nước

ta đã ban hành thì những quy định của

BLTTDS về vấn đề này có khá nhiều điểm

mới tập trung ở một số nội dung sau đây:

1 Về quyền khởi kiện và phạm vi khởi kiện

Quyền khởi kiện vụ, việc dân sự là quyền

của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi

quyền hạn của mình yêu cầu toà án có thẩm

quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

mình hay lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà

nước thuộc lĩnh vực cơ quan, tổ chức mình

phụ trách

Các điều 161, 162 BLTTDS đã quy định

các chủ thể có quyền khởi kiện gồm có: cá

nhân, cơ quan, tổ chức (kể cả tổ chức không

có tư cách pháp nhân) Các điều luật này cũng

xác định rõ phạm vi khởi kiện của các cơ

quan bao gồm:

- Cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em có

quyền khởi kiện trong phạm vi vụ án về hôn

nhân và gia đình do Luật hôn nhân và gia

đình quy định (theo các điều 55, 66 Luật hôn

nhân và gia đình);

- Công đoàn cấp trên có quyền khởi kiện

vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động;

- Cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện yêu cầu toà án bảo vệ lợi ích công cộng lợi ích của Nhà nước trong lĩnh vực mình phụ trách

Như vậy, khác với trước đây, BLTTDS không còn quy định quyền khởi tố vụ án dân

sự cho cơ quan viện kiểm sát nhân dân nữa Vai trò kiểm sát việc tuân theo pháp luật của viện kiểm sát nhân dân theo quy định của BLTTDS được thể hiện chủ yếu qua việc thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật Viện kiểm sát chỉ tham gia phiên toà sơ thẩm đối với những vụ án do toà án thu thập chứng cứ

mà đương sự có khiếu nại, chứ không tham gia tất cả các phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm (Điều 21 BLTTDS )

Về phạm vi khởi kiện, BLTTDS đã quy định mở rộng hơn so với trước, không hạn chế ở chỗ một người khởi kiện nhiều người hoặc nhiều người khởi kiện một người về cùng một quan hệ pháp luật như quy định tại Điều 34 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự Cụ thể BLTTDS quy định được giải quyết trong cùng một

vụ án các trường hợp:

D

* Thẩm phán Tòa dân sự Toà án nhân dân thành phố Hà Nội

Trang 2

- Cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể khởi

kiện một hoặc nhiều cá nhân, cơ quan, tổ

chức khác về một quan hệ pháp luật hay

nhiều quan hệ pháp luật có liên quan;

- Nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể

khởi kiện một cá nhân, cơ quan tổ chức khác

về một quan hệ pháp luật hay nhiều quan hệ

pháp luật có liên quan;

- Cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

do BLTTDS quy định có thể khởi kiện đối với

một hoặc nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức khác

về một quan hệ pháp luật hay nhiều quan hệ

pháp luật có liên quan (Điều 163)

Quy định này tạo điều kiện thuận lợi

cho toà án giải quyết các yêu cầu phát sinh

từ các quan hệ pháp luật khác nhau trong

một vụ án, tiết kiệm được thời gian, công

sức, tiền của Nhà nước và đương sự

2 Về cách thức thực hiện quyền khởi

kiện vụ án dân sự

Theo BLTTDS thì người khởi kiện có thể

gửi đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ

kèm theo đến toà án bằng hai cách:

- Nộp trực tiếp tại cơ quan toà án;

- Gửi qua bưu điện

Ngày khởi kiện được tính từ ngày đương

sự trực tiếp nộp đơn tại toà án hoặc ngày có

dấu bưu điện nơi gửi thể hiện trên bì thư được

gửi đến toà án qua đường bưu điện Toà án

nhận được đơn khởi kiện phải ghi vào sổ

(Điều 166) Theo Điều 167 BLTTDS trong

thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận

được đơn khởi kiện, toà án phải xem xét để

có một trong các quyết định sau:

- Thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền;

- Chuyển đơn khởi kiện cho toà án có

thẩm quyền và báo cho người khởi kiện biết

nếu vụ án thuộc thẩm quyền của toà án khác;

- Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc thẩm quyền của toà án hoặc đã hết thời hiệu khởi kiện Quy định này của BLTTDS nhằm tránh tình trạng toà án nhận được đơn khởi kiện nhưng không vào sổ để giải quyết ngay, dẫn đến việc vụ án không được thụ lý, giải quyết

3 Về trả lại đơn khởi kiện và giải quyết khiếu nại trả lại đơn khởi kiện

Các điều 168, 169 BLTTDS quy định toà

án trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện trong các trường hợp sau:

- Thời hiệu khởi kiện đã hết;

- Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;

- Sự việc đã được giải quyết bằng bản

án, quyết định đã có hiệu lực của toà án hoặc quyết định đã có hiệu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án

đã bị toà án bác đơn mà đương sự có quyền khởi kiện lại;

- Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của toà án về việc nộp tiền tạm ứng án phí mà người khởi kiện không đến toà làm thủ tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng;

- Chưa có đủ điều kiện khởi kiện;

- Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án;

- Trường hợp đơn khởi kiện không có

đủ các nội dung quy định tại khoản 2 Điều

164 BLTTDS mà toà án đã báo cho người khởi kiện biết để họ sửa đổi bổ sung nhưng họ không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của toà án

Trang 3

Phần lớn các trường hợp trả lại đơn khởi

kiện được quy định trong BLTTDS nêu trên

đều đã được Pháp lệnh thủ tục giải quyết các

vụ án dân sự trước đây quy định chỉ có ba

trường hợp mới cần lưu ý bao gồm:

- Người khởi kiện không nộp tiền tạm

ứng án phí trong thời hạn theo pháp luật quy

định Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án

dân sự trước đây cũng ấn định thời hạn 1

tháng để người khởi kiện thực hiện nghĩa vụ

nộp tiền tạm ứng án phí nhưng lại không quy

định hậu quả pháp lý của việc không nộp

tiền tạm ứng án phí trong hạn luật định Quy

định mới này nhằm mục đích buộc người

khởi kiện phải cân nhắc kỹ hơn trước khi

nộp đơn khởi kiện

- Người khởi kiện chưa có đủ điều kiện

khởi kiện Có quan điểm cho rằng đây là

trường hợp đã được quy định tại khoản 4

Điều 36 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ

án dân sự được áp dụng đối với những việc

được pháp luật quy định phải yêu cầu cơ quan

khác giải quyết trước nhưng đương sự chưa

yêu cầu hoặc cơ quan hữu quan chưa giải

quyết Đó là những trường hợp mà trước khi

khởi kiện đến toà án vụ việc phải được tiến

hành hoà giải trước, toà án chỉ thụ lý khi việc

hoà giải không thành như: Tranh chấp quyền

sử dụng đất; các tranh chấp lao động cá nhân

hay tranh chấp lao động tập thể Song theo

chúng tôi, quy định này của BLTTDS có nội

dung rộng hơn, theo quy định của pháp luật

thì có những trường hợp người khởi kiện nếu

không đáp ứng các điều kiện khác thì cũng

không được khởi kiện Ví dụ, người chồng

không có quyền yêu cầu xin ly hôn khi người

vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng

tuổi hay trường hợp toà án đã bác đơn xin ly hôn nhưng chưa đủ 1 năm người bị bác đơn

đã nộp đơn khởi kiện lại

- Người khởi kiện không bổ sung đơn khởi kiện trong thời hạn theo quy định của pháp luật Đây là quy định hoàn toàn mới có

ý nghĩa buộc người khởi kiện phải thực hiện nghĩa vụ chứng minh ngay từ những bước đầu tiên của quá trình tố tụng tại toà án, bởi các quy định của BLTTDS hiện nay đề cao vai trò, nghĩa vụ chứng minh của đương sự, việc thu thập chứng cứ của toà án là hạn chế không phải trường hợp nào toà án cũng thu thập chứng cứ

Khi trả lại đơn kiện cho người khởi kiện, toà án phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn kiện để người khởi kiện có căn cứ khiếu nại

về việc trả lại đơn khởi kiện Đây là quy định mới giúp cho các đương sự thực hiện quyền khiếu nại khi họ bị toà án trả lại đơn khởi kiện không đúng Theo Điều 170 BLTTDS thì người khởi kiện có quyền khiếu nại với chánh án toà án đã trả lại đơn kiện trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày họ nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo do toà án trả lại Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, chánh án phải ra một trong các quyết định sau:

- Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện;

- Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành thụ lý vụ án Một vấn đề đặt ra khi thực hiện các quy định trong việc trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện bằng văn bản thì cần áp dụng loại hình thức văn bản nào? Quyết định, thông báo hay công văn Có quan điểm cho

Trang 4

rằng nhất thiết phải ra quyết định trả lại đơn

cho phù hợp với các quy định của luật ban

hành văn bản quy phạn pháp luật Quan điểm

ngược lại cho rằng giai đoạn nhận đơn không

phải do thẩm phán hay phó chánh án trực tiếp

làm nên chỉ cần cán bộ nhận đơn trả lại đơn

bằng văn bản là đủ Theo chúng tôi cho dù là

ai thực hiện hành vi trả lại đơn khởi kiện cho

đương sự thì văn bản do toà án phát ra đều

phải có chữ ký và con dấu của toà án đó,

thực tế chỉ có những người có chức danh

trong toà án mới có quyền ký tên, đóng dấu

Vì vậy, chúng tôi hoàn toàn đồng tình với

quan điểm thứ nhất, chúng ta nên áp dụng

hình thức ra quyết định khi trả lại đơn khởi

kiện là thích hợp nhất

4 Về thụ lý vụ án dân sự

Cũng như các quy định trước đây,

Điều 171 BLTTDS quy định việc thụ lý

vụ án được toà án tiến hành sau khi xem

xét đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ

kèm theo và biên lai nộp tiền tạm ứng án

phí của người khởi kiện thấy đã thoả mãn

những điều kiện để thụ lý vụ án

Để đảm bảo cho vụ án được giải quyết

nhanh chóng, đúng thời hạn luật định, các

điều 172, 173 BLTTDS đã quy định rõ nhiệm

vụ của toà án ngay sau khi thụ lý vụ án là:

- Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ

ngày thụ lý vụ án chánh án toà án phân công

một thẩm phán giải quyết vụ án;

- Trường hợp thẩm phán được phân công

không thể tiếp tục tiến hành được nhiệm vụ

trong quá trình đang giải quyết vụ án thì

chánh án phân công thẩm phán khác tiếp tục

giải quyết vụ án;

- Thẩm phán được phân công giải quyết

vụ án có nhiệm vụ thông báo về việc thụ lý

vụ án; yêu cầu đương sự nộp tài liệu, chứng

cứ cho toà án; thu thập chứng cứ theo quy định của BLTTDS

Điều 174 BLTTDS quy định trong thời hạn trong 3 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý

vụ án toà án phải thông báo bằng văn bản cho

bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ

án, cho viện kiểm sát cùng cấp biết việc toà

án đã thụ lý vụ án Nội dung thông báo phải thể hiện được những yêu cầu của người khởi kiện và danh sách tài liệu chứng cứ người khởi kiện nộp theo đơn khởi kiện

Đây là một trong những quy định mới của BLTTDS để hoà nhập chung với xu hướng của thế giới Tuy nhiên, BLTTDS mới dừng ở quy định chung về việc người được thông báo không nộp cho toà án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện thì phải chịu hậu quả pháp lý nhưng hậu quả pháp lý họ phải chịu cụ thể là gì? bất lợi ra sao thì chưa được quy định rõ (điểm g khoản

2 Điều 174 ) Có ý kiến cho rằng nếu người được thông báo là bị đơn không nộp cho toà

án văn bản ghi ý kiến của mình trong thời hạn theo luật định thì không có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn; nếu người được thông báo là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không nộp cho toà án văn bản ghi

ý kiến của mình thì có quyền yêu cầu độc lập theo Điều 176, Điều 177 BLTTDS Thủ tục

Trang 5

thực hiện các quyền yêu cầu phản tố, yêu

cầu độc lập của bị đơn và người có quyền

lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện như

việc khởi kiện

Song theo chúng tôi, căn cứ vào các quy

định khác của BLTTDS thì hậu quả pháp lý ở

đây cần được hiểu theo hướng bất lợi cho

người không có văn bản trả lời toà án, nghĩa

là toà án có quyền giải quyết vụ án vắng mặt

một bên theo những tài liệu, chứng cứ do

người khởi kiện đưa ra vì đã không có sự

phản đối từ phía bên kia Trong thực tiễn, khá

nhiều trường hợp người bị kiện biết rõ là

mình thua kiện nên cố tình gây khó khăn cho

việc giải quyết vụ án của toà án Đối với các

tranh chấp về hợp đồng vay tài sản, hợp đồng

tín dụng của các ngân hàng nguyên đơn có

tài liệu, chứng cứ chứng minh rõ ràng sự

việc thì việc im lặng không trả lời của

người bị kiện cần được coi là việc đồng ý

chấp nhận chứng cứ do phía bên kia đưa ra

của họ Điều này giúp cho toà án tránh được

tình trạng phải kéo dài thời gian giải quyết

vụ án dân sự không cần thiết

Trên đây là một số vấn đề về khởi kiện và

thụ lý vụ án theo quy định của BLTTDS

Những quy định này có nhiều nội dung hoàn

toàn mới, lần đầu tiên được đưa vào quy

định trong BLTTDS Vì vậy, việc nghiên

cứu để có nhận thức đúng, thống nhất là việc

làm hết sức cần thiết Qua việc nghiên cứu

chúng tôi thấy còn một số điểm cần có

hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền để

thống nhất nhận thức trong quá trình áp dụng

các quy định mới của BLTTDS:

- Vấn đề cùng giải quyết trong vụ án dân

sự và việc dân sự Trước đây, do không có sự phân biệt thủ tục giải quyết giữa vụ án dân sự

và việc dân sự trong tố tụng hiện hành nên có những yêu cầu có liên quan thường được giải quyết chung trong cùng một vụ án như yêu cầu tuyên bố một người mất tích kèm theo yêu cầu xin ly hôn; yêu cầu huỷ hôn nhân trái pháp luật kèm theo yêu cầu chia tài sản chung v.v Nay BLTTDS quy định về thủ tục giải quyết vụ án dân sự hoàn toàn khác với thủ tục giải quyết việc dân sự, vậy thì các yêu cầu này có được giải quyết trong cùng vụ án dân sự, việc dân sự không hay phải tách ra để giải quyết riêng việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích, huỷ hôn nhân trái pháp luật xong rồi lại thụ lý vụ án xin

ly hôn do một bên có yêu cầu và vụ án xin chia tài sản chung Việc tách ra như vậy liệu có gây khó khăn cho người khởi kiện và có trái gì với quy định của Điều 163 BLTTDS không?

- Việc chuyển đơn khởi kiện cho toà án có thẩm quyền của toà án đã nhận đơn khởi kiện ban đầu được giải quyết như thế nào? Thông thường các toà án ra quyết định chuyển vụ án trong trường hợp sau khi thụ lý giải quyết vụ án

mà thấy vụ án đó không thuộc thẩm quyền của toà án mình Nay ngoài quy định việc chuyển vụ việc dân sự cho toà án khác giải quyết sau khi thụ lý vụ án theo Điều 37 BLTTDS thì Điều 167 BLTTDS còn quy định việc chuyển đơn khởi kiện cho toà án khác ngay từ khi toà án chưa thụ

lý vụ án Vậy trong trường hợp này toà án có phải ra quyết định chuyển đơn khởi kiện không? Toà án đã nhận đơn có trách nhiệm chuyển đơn của người khởi kiện đến toà án khác hay để cho

Trang 6

đương sự trực tiếp nộp đơn tại toà án có thẩm

quyền? Trường hợp toà án quyết định chuyển

đơn không đúng thẩm quyền thì người khởi kiện

có quyền khiếu nại không? Việc giải quyết khiếu

nại như thế nào?…

- Thực hiện việc phân công thẩm phán

giải quyết vụ án theo quy định của Điều 172

BLTTDS, chánh án toà án có phải ra quyết

định không? Vì việc phân công thẩm phán

giải quyết vụ án được ấn định bởi thời hạn tố

tụng là 3 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án

và cũng liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho các đương sự trong vụ án, cho viện kiểm sát cùng cấp về việc toà án đã thụ lý vụ án Theo chúng tôi, đây là vấn đề khá phức tạp cả về lý luận và thực tiễn để áp dụng thống nhất rất cần có sự hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền./

ThÈm quyÒn cña

(tiếp theo trang 26)

6 Thẩm quyền của toà án theo lãnh thổ

Điều 35 quy định thẩm quyền của toà

án giải quyết vụ việc dân sự theo lãnh thổ

nhìn chung là giống các quy định trong

các văn bản pháp luật tố tụng trước đây

Riêng thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự

theo lãnh thổ có điểm mới so với Pháp

lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế là

các đương sự được thỏa thuận toà án nơi

cư trú, làm việc của nguyên đơn nếu

nguyên đơn là tổ chức giải quyết việc

tranh chấp Tuy nhiên, các đương sự chỉ

được thỏa thuận đúng pháp luật, tức là

nếu vụ án đó thuộc thẩm quyền của toà án

cấp tỉnh thì các đương sự không được thỏa

thuận toà án cấp huyện nơi nguyên đơn cư

trú, làm việc giải quyết

Ngoài ra, với quy định tại điểm c

khoản 1 Điều 30 BLTTDS “toà án nơi có

bất động sản có thẩm quyền giải quyết

những tranh chấp về bất động sản” Theo

chúng tôi chỉ những tranh chấp mà quan

hệ tranh chấp bất động sản là chính mới thuộc thẩm quyền của toà án nơi có bất động sản giải quyết Đối với các tranh chấp mà quan hệ chính không phải là tranh chấp bất động sản như việc đương

sự xin ly hôn trong đó có yêu cầu chia tài sản là bất động sản thì toà án có thẩm quyền giải quyết Mặt khác, theo chúng tôi, chỉ những tranh chấp liên quan đến quyền đối với bất động sản hoặc tranh chấp mà nghĩa

vụ phải thực hiện là bất động sản thì toà án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết Đối với những tranh chấp không liên quan gì đến quyền đối với bất động sản như tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà, bên bán đã giao nhà cho bên mua, bên mua chưa trả đủ tiền, bên bán yêu cầu bên mua trả số tiền còn thiếu theo thời giá, trong trường hợp này thì không cần thiết cứ phải toà án nơi có căn nhà đó giải quyết./

Ngày đăng: 31/03/2014, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w