Nhânlực cho thương mại điện tử có thể chia làm 2 nhóm: một là, nhân lực phục vụ cho các doanhnghiệp có ứng dụng thương mại điện tử trong hoạt động sản xuất kinh doanh như: quản trị web,d
Trang 1BÀI GIẢNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
(E – business)PHẦN MỞ ĐẦU
Sự cần thiết ra đời của môn học kinh doanh thương mại điện tử
Cạnh tranh trong kinh doanh là nguyên nhân cơ bản thúc đẩy các doanh nghiệp và hơn thế nữa
là toàn bộ tổ chức có kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận hay thuần túy chỉ là các đơn vị hành chính,dịch vụ công phải tự cải tiến để tránh bị thụt lùi tiến tới đào thải bởi chi phí, giá thành kinhdoanh, dịch vụ cao hơn đối thủ Doanh nghiệp không bán được hàng, không nhận được các góithầu từ Chính phủ, các tổ chức hành chính sự nghiệp nhận được những phản nàn về chất lượngdịch vụ từ mọi người dân Một trong những sự tìm kiếm để có thể vượt lên đối thủ là cải tiến vàhoàn thiện phương thức giao dịch và thông tin thuộc phương thức kinh doanh của doanh nghiệp
và tổ chức Đây là quá trình không ngừng nghỉ của các doanh nghiệp – tổ chức để tiết kiệm chiphí giao dịch, tiết kiệm thời gian, chiếm lĩnh thời cơ Tuy nhiên, sự tiến triển bộ này phụ thuốcvào yếu tố hết sức quan trọng đó là công nghệ mà các doanh nghiệp – tổ chức sử dụng tiến bộđến đâu Từ chỗ giao dịch trực tiếp, mặt đối mặt giữa các doanh nghiệp – tổ chức với nhau tiếntới phát triển phương tiện thư từ, văn bản rồi điện thoại kết nối giữa các bên Tuy nhiên, nhữngtiến bộ này không thỏa mãn những đòi hỏi của doanh nghiệp – tổ chức Đặc biệt, khi xuất hiệncủa tiến bộ công nghệ thông tin với một quá trình khá nhanh trong vòng 3 – 5 thập kỷ của thế
kỷ XX Dường như, những khát khao từ lâu nay của doanh nghiệp – tổ chức được từng bướcthỏa mãn Từng bước, từng bước thương mại điện tử ra đời và ngày càng khẳng định chỗ đứngkhông thể thay thế của mình Trong những năm đầu thế kỷ XXI, thương mại điện tử chỉ làphương tiện cho sự giao tiếp, kết lối giữa các doanh nghiệp – tổ chức Nhưng không dừng lại ở
đó, thương mại điện tử đã phát triển thành một đối tượng kinh doanh, ngành kinh tế mới, đặcbiệt khi mà các công ty thương mại điện tử hàng đầu thế giới ra đời như: Amazon, Alibaba,…thì kinh doanh thương mại điện tử phát triển với tốc độ “chóng mặt” cả về lượng và chất Khôngchỉ số lượng doanh nghiệp, lĩnh vực, ngành nghề, khách hàng tăng lên với 2 con số, mà “chiềusâu” trong hoạt động kinh doanh thương mại điện tử với cở sở pháp lý, hệ thống hạ tầng kinh tế,
kỹ thuật không ngừng nâng cao và hoàn thiện Đặc biệt, thị trường kinh doanh thương mại điện
tử đã được hình thành phát triển rộng khắp toàn cầu, doanh thu từ hoạt động thương mại điện tửngày càng tăng cao Tùy theo mức độ ứng dụng, thương mại điện tử là thành tố không thể thiếu
và có vai trò ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế toàn cầu hiện nay
Nếu chỉ xét về hiệu quả kinh tế, sự phát triển của thương mại điện tử có thể chưa mang lại lợiích trước mắt cho một số doanh nghiệp- tổ chức do nhiều nguyên nhân, tuy nhiên điều chắcchắn rằng thương mại điện tử là xu thế thời đại, là phương thức để các doanh nghiệp – tổ chứcvượt lên đối thủ cạnh tranh phạm vi toàn cầu Hiện nay, nhiều công ty, trang thương mại điện tửhoạt động chưa đạt được điểm hòa vốn, còn chịu lỗ lớn trong ngắn hạn Các trang thương mại
Trang 2điện tử đạng hoạt động tại Việt Nam hàng năm báo lỗ lên đến hàng triệu, chục triệu dolla Mỹ.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thu nhỏ hơn chi, trong đó có nguyên nhân cơ bản là khả năngquản trị kinh doanh thương mại điện tử của các công ty, trang web thương mại điện tử Quản trịkinh doanh thương mại điện tử là một hoạt động của đội ngũ quản trị doanh nghiệp thực hiệnchức năng quản trị doanh nghiệp được hỗ trợ bởi hệ thống công nghệ điện tử (phần cứng vàphần mềm) Mặt khác, quản trị kinh doanh thương mại điện tử vận hành quản trị kinh doanh củamột doanh nghiệp thương mại điện tử thuần túy (sàn giao dịch hoặc công ty thương mại điệntử) Như vậy, quản trị kinh doanh thương mại điện tử nhắm vào hai đối tượng: thứ nhất, cácdoanh nghiệp - tổ chức kinh doanh hàng hóa dịch vụ có ứng dụng nền tảng công nghệ điện tử(số doanh nghiệp này chiểm phần lớn các doanh nghiệp trên thị trường); thứ hai, các doanhnghiệp cung cấp dịch vụ để hình thành thị trường thương mại điện tử (bao gồm các công tythương mại điện tử, sàn giao dịch, các công ty cung cấp dịch vụ kết nối internet…)
Để có thể phát triển thị trường thương mại điện tử phải nói đến sự nâng đỡ của cầu về thươngmại điện tử, nếu điều này chưa chín muồi thì hoạt động kinh doanh thương mại điện tử rất khóđạt được hiệu quả Rõ ràng nhờ những lợi ích to lớn, có rất nhiều khách hàng cá nhân và tổ chức
đã lựa chọn thương mại điện tử thay thế cho thương mại truyền thống Có thể là một phươngthức kinh doanh mới, có thể chỉ là những sản phẩm thuần túy có thể số hóa, có thể là những ứngdụng đơn lẻ hoặc được tích hợp của thương mại điện tử Điều hiển nhiên và chắc chắn rằngkhách hàng của thương mại điện tử ngày càng phát triển với một thị trường rộng lớn
Sự phát triển nhanh chóng của thị trường thương mại điện tử đòi hỏi 2 vẫn đề lớn:
Thứ nhất, nguồn nhân lực luôn đóng vai trò to lớn bởi nhân lực vừa là khách thể và chủ tronghoạt động quản trị kinh doanh Không thể có thương mại điện tử nếu không có nhận lực đủ tốtvới số lượng đủ lớn nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh của thương mại điện tử Chỉ riêngViệt Nam với số lượng các doanh nghiệp không ngừng tăng với xấp xỉ 1 triệu doanh nghiệphoạt động, được chi thành các nhóm theo mức áp dụng thương mại điện tử khác nhau thì cũngcần đến hàng triệu nhân lực có kiến thức và kinh nghiệp trong lĩnh vực thương mại điện tử, baogồm nhân sự quản trị phần cứng, phần mềm và dịch vụ Như vậy, nhu cầu là rất lớn đòi hỏi các
cơ sở đào tạo phải lỗ lực hết sức để nhanh chóng thiết kế chương trình và tổ chức đào tạo Nhânlực cho thương mại điện tử có thể chia làm 2 nhóm: một là, nhân lực phục vụ cho các doanhnghiệp có ứng dụng thương mại điện tử trong hoạt động sản xuất kinh doanh như: quản trị web,digital marakeing, thanh toán điện tử, quản lý khách hàng, kho hàng, nhân sự….; hai là, cácdoanh nghiệp chuyên trách cung cấp thương mại điện tử trên thị trường, bao gồm: các sàn giaodịch, trang thương mại điện tử, cung cấp phần cứng, phần mềm, mạng internet, cung cấp cácứng dụng…
Thứ hai, nghiên cứu kiến thức và đào tạo nhân lực trong lĩnh vực thương mại điện tử là nhữngkiến thức tích hợp của công nghệ và quản trị, nên có nhiều điểm đặc thù đòi hỏi các cơ sở đàotạo phải linh hoạt kết hợp giữa hai khối kiến thức kỹ thuật và quản lý để chuẩn bị chương trìnhđào tạo và nhân lực giảng viên đủ tốt để tổ chức đào tạo
Mục tiêu của môn học
Trang 3Trang bị kiến thức và kỹ năng quản trị kinh doanh thương mại điện tử cho các doanh nghiệpthực hiện dịch vụ trên nền tảng điện tử (doanh nghiệp chuyên trách) và các doanh nghiệp truyền
thống có ứng dụng nền tảng điện tử trong hoạt động kinh doanh của mình Đối tượng và phạm
vi nghiên cứu của môn học
Trên cơ sở yêu cầu của thị trường, của nguồn nhân lực cho thương mại điện tử, chúng tôi đã xâydựng chương trình đào tạo với những kiến thức, kỹ năng cần thiết, trong đó có môn học kinhdoanh thương mại điện tử (E business) Môn học kinh doanh thương mại điện tử tập trungnghiên cứu và giảng dạy kỹ năng quản trị hoạt động kinh doanh thương mại điện tử tại doanhnghiệp sản xuất kinh doanh, thương mại và dịch vụ Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp lấy hoạtđộng cung cấp các dịch vụ kinh doanh thương mại điện tử thông qua sàn giao dịch như B2C,B2B thông qua phương thức bán lẻ hoặc bán buôn Trong đó tập trung vào làm rõ những đặcthù của kinh doanh thương mại điện tử thông qua những hỗ trợ về công nghệ điện tử khác biệtvới quản trị kinh doanh thương mại truyền thống như thế nào? Mặt khác, e-business được mởrộng bởi khái niệm thương mại điện tử không chỉ tồn tại trong lĩnh vực thương mại truyền thống
mà đã lan rộng sang nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau có ứng dụng mạng internet, kỹ thuật
số như: Chính phủ điện tử, ngân hàng, tài chính, các dịch vụ công, cung cấp và quản lý thôngtin…
Phương pháp nghiên cứu của môn học
Nhằm cung cấp tối ưu kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm về quản trị kinh doanh thương mạiđiện tử tại các doanh nghiệp, môn học xây dựng nền tảng nghiên cứu dựa trên các phương pháptruyền thống và cải tiến nhằm cung cấp phần lý thuyết căn bản nhất cho người học, đồng thờiliên tục cấp nhật kiến thức mới, kỹ năng ứng dụng mới và thực hành nhằm đạt hiệu quả cao nhấtcủa môn học Vì vậy, phương pháp đào tạo luôn được nghiên cứu và cải tiến theo các niên khóađảm bảo tính tiên tiến và hiện đại
Nội dung nghiên cứu của môn học
Để có thể thỏa mãn 2 mục tiêu của môn học, chúng tôi tập trung vào biên soạn theo chức năngquản trị doanh nghiệp với những đặc thù của thương mại điện tử là ứng dụng công nghệ điện tửtrong thực thi các hoạt động của doanh nghiệp bao gồm: các doanh nghiệp thương mại điện tửcung cấp các dịch vụ qua sàn giao dịch, trang web của doanh nghiệp chuyên trách; các doanhnghiệp truyền thống có ứng dụng các nền tảng điện tử trong hoạt động kinh doanh
Về cơ bản để tránh trùng lặp với một số môn học thuộc chương trình đào tạo thương mại điện
tử, nội dung của môn học quản trị kinh doanh thương mại điện tử tập trung vào trang bị một sốnội dung sau đây:
Chương 1: Tổng quan về kinh doanh thương mại điện tử
Tập trung trình bày các khái niệm căn bản của e-business, sơ lược lịch sử ra đời của thương mạiđiện tử giúp cho học viên có cái nhìn tổng quan, bản chất về thương mại điện tử Đồng thờiphân biệt đặc thù, lợi ích của thương mại điện tử so với thương mại truyền thống và cũng chỉ ranhững hạn chế của thị trường, của hoạt động thương mại điện tử Bên cạnh những khái niệm cơbản, chương 1 còn tập trung phản ánh sơ lược một số nội dung quan trọng của thương mại điện
Trang 4tử căn bản như cơ sở hạ tầng, phương thức giao dịch, phạm vi hoạt động, đặc điểm của thịtrường, chủ thể tham gia, mạng lưới, hệ thống thông tin…Cuối cùng là làm rõ lược đồ của hoạtđộng quản trị e- business có những nội dung và sự khác biệt là vấn đề trọng tâm của môn học.Chương 2: Lập kế hoạch kinh doanh thương mại điện tử
Chức năng quan trọng của quản trị doanh nghiệp, quản trị hoạt động là chức năng hoạch địnhchiến lược và lập kế hoạch kinh doanh Đối với doanh nghiệp có ứng dụng công nghệ thông tinđiện tử cũng vậy cần có những kế hoạch kinh doanh Tuy nhiên, kế hoạch kinh doanh có nhữngđặc thù liên quan đến thương mại điện tử Kế hoạch kinh doanh thương mại điện tử bao gồmnhững nội dung chính ngoài những khái niệm cơ bản về kế hoạch là phương pháp lập kế hoạch,quy trình và bản mẫu điển hình kế hoạch thương mại điện tử
Chương 3 Quản trị các nguồn lực cho kinh doanh thương mại điện tử
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào để hoạt động cũng cần 3 nguồn lực chính là: Nhân lực, Tàichính, và Vật lực Ngoài những nội dung như các doanh nghiệp điển hình khác, quản trị nguồnnhân lực, quản trị tài chính, quản trị vật tư – công nghệ còn mang đặc trưng điển hình của kinhdoanh thương mại điện tử Cụ thể, đối với nguồn nhân lực doanh nghiệp cần tập trung vào tuyểnchọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh doanh thương mại điện
tử Đối với quản trị tài chính, doanh nghiệp cần đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động và sử dụnghiệu quả các nguồn vốn để mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp Đối với, quản trị vật tư và côngnghệ luôn gắn liền với ứng dụng công nghệ thông tin với đặc thù luôn có thay đổi, tiến bộ nhanhchóng để tránh sự thụt lùi, lạc hậu
Chương 4 Quản trị B2C trong kinh doanh thương mại điện tử
Một trong 2 mô hình cơ bản nhất của kinh doanh thương mại điện tử là mô hình B2C (bán lẻ)khá phổi biến với các trang, sàn giao dịch thương mại điện tử hiện nay Chương này cung cấpnhững kiến thức cơ bản của loại hình giao dịch trao đổi mua bán giữa doanh nghiệp và kháchhàng Thực chất là thông qua sàn giao dịch hay trang thương mại điện tử, doanh nghiệp hayngười bán có thể cung cấp cho khách hàng thông tin cần thiết về hàng hóa và dịch vụ cho kháchhàng có nhu cầu và lựa chọn Tùy theo, hàng hóa, dịch vụ có thể số hóa hay không mà tiến hànhgiao hàng và vận chuyển tới với khách hàng Đối với hàng hóa, dịch vụ có thể số hóa thì hànghóa và dịch vụ đó có thể được chuyển và thanh toán qua hệ thống mạng internet Còn ngược lại,hàng hóa, dịch vụ có thể thực hiện bằng hoạt động logistics thông thường Vấn đề là quản trịhoạt động đó thông qua việc kiểm soát của doanh nghiệp từ nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ; bảnquyền, sở hữu trí tuệ; nhận và tổ chức thực hiện đơn hàng; thanh toán an toàn và hiệu quả; giảiquyết tranh chấp khiểu nại và bồi thường
Chương 5 Quản trị B2B trong kinh doanh thương mại điện tử
Cùng với mô hình bán lẻ, hoạt động bán buôn thông qua mô hình B2B là hoạt động ngày càngphát triển, phù hợp với giao dịch giữa các doanh nghiệp cung cấp và doanh nghiệp tiêu thụ hànghóa với khối lượng và giá trị lớn B2B đã thay thế một số phương thức điển hình trong giao dịchthương mại truyền thống như đấu thầu, đấu giá nhưng được thực hiện trực tuyến Tuy còn nhiềuđiểm bất cập, nhưng B2B cũng đã cho thấy những lợi ích to lớn và hứa hẹn của phương thức
Trang 5giao dịch trong tương lai khi mà công nghệ mới khắc phục một số tồn tại của giao dịch trựctuyến Quản trị B2B trong kinh doanh thương mại điện tử là quản trị công tác kế hoạch; giaodịch và tổ chức thực hiện hợp đồng; quản trị hoạt động logistics, thanh toán và giải quyết khiếunại…thông qua nền tảng công nghệ thông tin và thương mại điện tử
Chương 6: Quản trị logistics trong kinh doanh TMĐT
Quản trị logistics trong thương mại điện tử bao gồm logistics đối với hàng hóa số hóa và hànghóa không thể số hóa Đối với hàng hóa số hóa thì quản trị logistics tập trung vào kiểm soát khohàng, đơn hàng, xác nhận giao dịch, thanh toán và khiếu nại Đối với hàng hóa không thể số hóacần kết hợp khăng khít giữa phần giao dịch online, thanh toán và giao hàng theo phương thứctruyền thống (kho vận và giao nhận) Vì vậy, kiểm soát kho hàng là khâu hết sức quan trọngnhằm kết nối giữa thực và ảo của hàng hóa, cả về số lượng và chất lượng Quản trị logistic trongkinh doanh TMĐT đòi hỏi khả năng kiểm soát và tổ chức thực hiện các đơn hàng cho dù nhỏhay lớn, ít hay nhiều, giá trị cao hay thấp của các giao dịch trực tuyến về hàng hóa dịch vụ.Chương 7: Hạch toán kinh doanh trong thương mại điện tử
Hạch toán kinh doanh trong thương mại điện tử cung cấp kiến thức hạch toán như mọi doanhnghiệp, tổ chức, cá nhân kinh doanh khác Tuy nhiên, sự khác biệt trong hạch toán kinh doanhtrong thương mại điện tử là ở chỗ cần bóc tách những chi phí thuộc về ứng dụng nền tảng côngnghệ cho quản trị kinh doanh thương mại điện tử, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp thôngthường có ứng dụng một phần công nghệ điện tử (quản trị web, quản trị digital marketing, quản
lý nội bộ, quản lý khác hàng, thông tin thị trường, giao dịch trực tuyến…) trong hoạt động kinhdoanh của mình Bên cạnh đó cũng cần bóc tách doanh thu của doanh nghiệp do kinh doanhtrong thương mại điện tử mang lại Từ đó cho thấy lợi ích thực sự của quản trị kinh doanh trongthương mại điện tử là như thế nào để điều chỉnh sao cho hiệu quản nhất
Còn các nội dung khác khá quan trọng như: quản trị website, quản trị rủi ro, digital marketing,thanh toán điện tử, tranh chấp và giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại điện tử chúng tôi đã biên soạn thành môn học độc lập thuộc chương trình đào tạo; tuy nhiên, nhìn tổngthể nó vẫn là một phận nội dung của quản trị kimh doanh thương mại điện tử mà học viên cầnphải nghiên cứu, học tập để tạo cho mình một khối kiến thức hoàn chỉnh
Để phục vụ nghiên cứu và biên soạn bài giảng, sách cho môn học quản trị kimh doanh thươngmại điện tử, bộ môn Quản trị Kinh doanh, Khoa Kinh tế và Quản lý, Đại học Thủy Lợi đã huyđộng tập thể các thầy, cô tham gia biên soạn như:
1- PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn, Chủ biên, biên soạn Lời nói đầu và các chương 1,4,5,7
2- ThS Lê Thị Mỹ Dung, Biên soạn chương 2
3- ThS Đàm thị Thủy, Biên soạn chương 3
4- TS Triệu Đình Phương, Biên soạn chương 6
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ KINH DOANH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Mục tiêu của chương
Trang 6- Lược sử hình thành và phát triển của thương mại điện tử gắn liền với các yếu tố kinh tế, xãhội, pháp lý và công nghệ;
- Lược sử hình thành của hệ thống mạng máy tính cũng với sự phát triển của công nghệ thôngtin;
- Khái niệm cơ bản về thương mại điện tử theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng;
- Khái niệm cơ bản về kinh doanh thương mại điện tử;
- Vai trò, đặc trưng và lợi ích của thương mại điện tử với sự phát triển của kinh tế – xã hội;
- Vai trò của cơ sở hạ tầng bao gồm: cơ sở hạ tang kinh tế – xã hội; pháp lý và đặc biệt cơ sở vậtchất- công nghệ đối với kinh doanh thương mại điện tử;
- Các hình thức hoạt động và mô hình chủ yếu của thương mại điện tử;
- Phân biệt thị trường thương mại điện tử;
- Nắm vững các kỹ thuật mua hàng chủ yếu;
- Tìm hiểu các công cụ hỗ trợ bán hàng;
- Tìm hiểu các dịch vụ hỗ trợ thương mại điện tử;
- Nắm vững bản chất của quản trị kinh doanh thương mại điện tử
1.1 Bản chất của thương mại điện tử và kinh doanh thương mại điện tử
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của thương mại điện tử
Thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, chúng ta chứng kiến tốc độ phát triển như vũ bão của khoa họccông nghệ Một trong những thay đổi quan trọng nhất của khoa học công nghệ là sự ra đời vàphát triển nhanh chóng (khoảng 50 năm) của công nghệ thông tin – truyền thông, bắt đầu là máytính (computer), mạng nội bộ (intranet), ngoại bộ (extranet) và đỉnh cao là mạng toàn cầuInternet Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ thông tin thì máy tính và hệ thốngmạng cũng không ngừng được hoàn thiện cùng với các dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động kết nốithông tin toàn cầu như: ngôn ngữ, các giao thức, cung cấp cổng vật lý, đường truyền, nội dung,các ứng dụng… không ngừng phát triển
Để thấy được lịch sử của Thương mại điện tử, có thể điểm sơ lược sự phát triển của các hoạtđộng liên quan như sau:
Khi nói tới sự hình thành và phát triển của thương mại điện tử, trước hết người ta gắn nó với sự
ra đời và phát triển của Internet Internet là mạng lưới máy tính rộng lớn gồm nhiều mạng máytính nằm trải rộng khắp toàn cầu; từ các mạng lớn và chính thống như mạng của các trường đạihọc, các viện nghiên cứu, các công ty lớn như Microsof), AT&T, Digital Equipment, đến cácmạng nhỏ và không chính thống khác (của các nhóm hoặc của một cá nhân nào đó) Ngày càng
có nhiều mạng máy tính ở mọi nơi trên thế giới được kết nối với Internet
Internet là mang liên kết các máy tính với nhau Mặc dù, mạng internet thực sự phổ biến từnhững năm 1990, Internet dã có lịch sử hình thành từ khá lâu:
1962: J.C.R Licklider đưa ra ý tưởng kết nói các máy tính với nhau, ý tưởng liên kết các mạngthông tin với nhau đã có từ khoàng năm 1945 khi khả năng hùy diệt của bom nguyên tử đe doạxóa sổ những trung tâm liên lac quân sự, viêc liên kết các trung tâm với nhau theo mô hình liênmạng së giảm khà năng mất liên lạc toàn bộ các mang khi một trung tâm bị tấn công
Trang 71965: Mang gửi các dữ liệu đã được chia nhò thành từng gói (packet), đi theo các tuyến đườngkhác nhau và kết hợp tại điểm đến (Donald Dovies); Lawrence G Roberts đã kết nối một máytính Massachusetts với một máy tính khác ở California qua đường dây điện thoại.
1967: Lawrence G Roberts tiếp tục đề xuất ý mạng mạng ARPANet (Advanced ResearchProject Agency Network) tại một hội nghị ở Michigan; Công nghệ chuyển gói tin (packetswitching technology) đem lại nhiều ích lợi to lớn khi nhiều máy tính có thể chia sẻ thông tinvới nhau; Phát triển mạng máy tính thử nghiệm cùa Bộ Quốc Phòng Mÿ theo ý tưởngARPANet
1969: Mang này được đưa vào hoạt động và là tiền thân cùa Internet; Internet - liên mạng bắtđầu xuất hiện khi nhiều mạng máy tính được kết nối với nhau
Năm 1969 Bộ Quốc phòng Mĩ đã xây dựng dự án ARPANET để nghiên cứu lĩnh vực mạng,theo đó các máy tính được liên kết với nhau
Năm 1972 cũng là năm Ray Tomlinson đã phát minh ra E-mail để gửi thông điệp trên mạng Tháng 9/1973 Vinton Cerf và Bob Kahn đề xuất những cơ bản của Internet Đó chính là nhữngnét chính của giao thức TCP/IP (Transmission Control Protocol/Internet Protocol) là giao thứckiểm soát và truyền tải
Năm 1979 ARPA thành lập ban kiểm soát cấu hình Internet Michael Aldrich phát minh muasắm trực tuyến
Năm 1982 các giao thức TCP và IP được DAC và ARPA dùng đối với mạng ARPANET Sau
đó TCP/IP được chọn là giao thức chuẩn
Năm 1983 ARPANET trở thành 1 mạng dân sự
1984: Giao thức chuyển gói tin TCP/IP (Transmission Control Protocol và Internet Protocol) trởthành giao thức chuẩn cùa Internet; hệ thống các tên miền DNS (Domain Name System) ra đời
để phân biệt các máy chủ; được chia thành sáu loại chính bao gồm: edu (education) cho lĩnhvực giáo dục, gov (government) thuộc chính phủ, mil (miltary) cho lïnh vục quân sự, com(commercial) cho lïnh vục thương mại, org (organization) cho các tổ chức, net (networkresources) cho các mạng Gateshead SIS/Tesco là trang mua bán trực tuyến dạng B2C đầu tiên.Tháng 4 năm 1984, CompuServe ra mắt Trung tâm Mua sắm Điện tử ở Mỹ và Canada Đây làdịch vụ thương mại điện tử đầu tiên toàn diện
1990: ARPANET ngừng hoạt động, Internet chuyển sang giai đoạn mới, mọi người đều có thể
sử dụng, các doanh nghiệp bắt đầu sử dụng internet vào mục đích thương mại Tim Lee xây dựng trình duyệt đầu tiên, WorldWideWeb, sử máy NeXT
Berners-1991: Ngôn ngữ đánh dấu siêu vän bån HTML (HyperText Markup Language) ra đời cùng vớigiao thức truyền siêu vän bån HTTP (HyperText Transfer Protocol) internet đã thực sự thànhcông cụ đặc lực với hàng nghìn các dịch vụ mớii World Wide Web (WWW) ra đời, đem lại chongười dùng khả năng tham chiếu từ một văn bản đến nhiều văn bản khác, chuyển từ cơ sở dữliệu này sang cơ sở dữ liệu khác với hình thức hấp dẫn và nội dung pphong phú WWW chính là
hệ thống thông điệp dữ liệu được tạo ra, truyền tải, try cập, chia sẻ… thông qua Internet
Trang 8Internet và Web là công cụ quan trọng nhất cùa thương mại điện tử, giúp cho thương mại điện
tử phát triển và hoạt động hiệu quå
1994: Netscape tung trình duyệt Navigator vào tháng 10 với tên là Mozilla Pizza Hut đặt hàngtrên trang web này Ngân hàng trực tuyến đầu tiên được mở
Mạng Internet được sử dụng rộng rãi từ năm 1994, Công ty Netscape tung ra các phần mềm ứngdụng để khai thác thông tin trên Internet vào tháng 5 näm 1995
1995: Jeff Bezos ra mắt Amazon.com và thương mại miễn phí 24h
Công ty IBM giới thiệu các mô hình kinh doanh điên tử từ näm 1997 Dịch vu Internet bắt đầucung cấp tại Việt Nam từ näm 1997, mở ra cơ hội hình thành và phát triển thương mại điện tử.Näm 2003, thương mại điện tử bắt đầu được giảng dạy trong các trường đại học tại Việt Nam 1998: Alibaba Group được hình thành ở Trung Quốc
2004: DHgate.com, công ty B2C giao dịch trực tuyến đầu tiên ở Trung Quốc được thành lập
Riêng về các nguồn luật, cơ sở pháp lý cho thương mại điện tử hoạt động:
Với thế giới có:
Luật mẫu của UNCITRAL về thương mại điện tử (Model Law on Electronic Commerce).UNCITRAL (United Nations Commission on International Trade Law) Ủy ban Liên Hiệp Quốc
về Luật Thương mại quốc tế (UN thành lập17 Tháng 12 năm 1966)
Với Việt Nam có:
Näm 2006, Luật Giao dịch điện tử chính thức có hiệu lực tại Việt Nam tạo cơ sở pháp lý chohoạt động thương mại điện tử phát triển
Cũng năm 2006, Luật Công nghệ thông tin: Số 67/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 Đềcập đến các vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng viễn thông và hạ tầng cơ sở mạng, quy định nhữngvấn đề bảo mật thông tin và an toàn mạng
Thời kỳ bùng nổ lần thứ nhất của Internet
Năm 1986 mạng NSFnet chính thức được thiết lập, kết nối năm trung tâm máy tính Như vậy làNSF và ARPANET song song tồn tại theo cùng 1 giao thức, có kết nối với nhau
Năm 1990, ARPANET dừng hoạt động, mạng NSF được sử dụng vào mục đích dân dụng, đóchính là tiền thân của mạng Internet ngày nay
Thời kỳ bùng nổ lần thứ hai với sự xuất hiện của WWW
Năm 1991 Tim Berners Lee phát minh ra World Wide Web (WWW) dựa theo ý tưởng về siêuvăn bản được Ted Nelson đưa ra từ năm 1985 Có thể nói đây là 1 cuộc cách mạng trên Internet
vì người ta có thể truy cập, trao đổi thông tin một cách dễ dàng, nhanh chóng
Thực tế là, Internet đã tạo ra thương mại điện tử và marketing điện tử (e-marketing) đưa người
mua và người bán lại gần nhau hơn; và thúc đẩy quá trình này diễn ra nhanh hơn, hiệu quả hơnbao giờ hết Chỉ với vài giây đồng hồ và vài cú nhấn chuột, Internet cách mạng hóa toàn bộ cáckhía cạnh của cuộc sống Nhiều thuật ngữ mới đã ra đời như shopping blog (blog mua sắm),RSS (really simple syndication), - định dạng dữ liệu theo chuẩn XML, giúp chia sẻ tin tức trênweb, VoIP (voice over Internet protocol) - giao thức thoại Internet và XML (extensive markuplanguage) - ngôn ngữ đánh dấu mở rộng Nhiều từ ngữ mang ý nghĩa mới, mà trước đó vài năm
Trang 9khó ai hình dung ra: web (mạng), network (mạng lưới), surfer (lướt net), server (máy chủ),banner (dải quảng cáo), browser (xem lướt - trình duyệt), tweet (câu trạng thái trên trangTwitter, twitter (tiểu blog), online (trực tuyến), offline (ngoại tuyến),
Kinh doanh điện tử (e-business) chỉ hình thức kinh doanh qua Internet, thị trường ảo hoạt động24/24 h, cung cấp gần như mọi thứ, ở bất kỳ đâu, cho tất cả mọi người, bao gồm quần áo, đồ ăn,dịch vụ giải trí, thuốc và thông tin, Bạn có thể thanh toán hóa đơn điện thoại, đặt tour du lịch,đăng hồ sơ cá nhân lên bảng tin điện tử của nhà tuyển dụng, hoặc mua một chiếc xe đã qua sửdụng - với mức giá có thể rẻ hơn so với mua trực tiếp
Người làm marketing trên Internet có thể tiếp cận khách hàng cá nhân và khách hàng tổ chứcmục tiêu trên khắp thế giới, thông qua máy tính và nhiều công nghệ truyền thông khác nhau.Chỉ trong vài năm trở lại đây, đã có hàng trăm ngàn công ty lớn, nhỏ kết nối với các kênhthương mại điện tử Quy mô và phạm vi của hoạt động kinh doanh điện tử khó có thể coi nhẹ.Kinh doanh điện tử không chỉ đơn thuần là mua bán hàng hóa, dịch vụ Một số khảo sát chothấy trang web là môi trường trung gian số một, cung cấp thông tin về sản phẩm mới, ưu việthơn hẳn catalog, quảng cáo trên báo và triển lãm thương mại Internet cho phép các nhà bán lẻ
và nhà cung cấp trao đổi những thông tin quan trọng, cải thiện hoạt động cung ứng và phân phốitổng thể, giảm chi phí và gia tăng lợi nhuận Ngày càng có nhiều công ty Việt Nam tiếp nhận
thông tin và tin tức từ blog, thay vì các phương tiện truyền thống như truyền hình và báo giấy.
Do đó, ngày càng nhiều công ty sử dụng blog để tạo diện mạo con người cho mình và truyềnthông trực tiếp tới khách hàng
Hiện nay, kinh doanh điện tử được dùng để mô tả các hoạt động đa dạng, diễn ra trên các ứng
dụng Internet như e-mail và giỏ hàng ảo (Virtual shopping cart) Hoạt động kinh doanh điện tử
có thể được chia thành năm nhóm lớn như sau: (1) bán lẻ điện tử (e-tailing) hay còn gọi là cửahàng ảo (Virtual storefront) trên các trang web; (2) giao dịch giữa các khách hàng tổ chức; (3)trao đổi dữ liệu điện tử (electronic data interchange - EDI), trao đổi giữa các khách hàng tổchức; (4) e-mail, tin nhắn nhanh, blog, podcast, cũng như việc sử dụng chúng làm phương tiệntiếp cận khách hàng hiện tại và triển vọng và (5) thu thập, sử dụng thông tin cá nhân, thông tinsản phẩm và các thông tin khác qua các mối liên hệ trên web
Thành phần mà người làm thương mại điện tử và marketing đặc biệt quan tâm trong hoạt độngkinh doanh điện tử là marketing điện tử (electronic marketing hay e-marketing), quá trình chiếnlược nhằm tạo ra, phân phối, xúc tiến và định giá hàng hóa cũng như dịch vụ tới thị trường mụctiêu, thông qua Internet hoặc các công cụ kỹ thuật số như điện thoại thông minh Marketing điện
tử là phương tiện để thực hiện kinh doanh điện tử Một số thí dụ về marketing điện tử cụ thểnhư các hoạt động sau:
• Xem video mới nhất của ban nhạc mà mình yêu thích trên YouTube;
• Đặt vé máy bay tới Hà Nội dự hội chợ việc làm qua trang timvieclam.com;
• Tìm hiểu máy ảnh kỹ thuật số Canon trên trang vinawebdesign.vn, rồi đặt hàng trên trangmạng Peacesoft.net; và là sinh viên bạn có thể:
Trang 10• Truy cập trang nghiên cứu thị trường InfoQ Việt Nam thông qua mạng máy tính ở trường, chophép bạn làm bài tập và tìm kiếm thông tin về các căn hộ cho thuê.
Ứng dụng công cụ kỹ thuật này vào hoạt động marketing giúp giảm đáng kể chi phí, đồng thời
gia tăng sự hài lòng của khách hàng, bằng cách tăng tốc độ và tính hiệu quả của các tương tácmarketing Cũng như kinh doanh điện tử là một trong những chức năng chính của Internet,marketing điện tử là thành phần không thể thiếu của hoạt động kinh doanh điện tử
Như vậy, sự ra đời của thương mại điện tử là bởi một số lý do và điều kiện như sau:
(1) Một là: Về mặt thị trường – khách hàng
Khi mà thế giới không ngừng có những thay đổi về mọi mặt trong đó có tiến bộ khoa học kỹthuật giúp cho chúng ta giải phóng sức lao động chân tay, nâng cao năng suất lao động Tổ chứchay cá nhân nào đó nhanh chóng ứng dụng công nghệ mới sẽ là tổ chức và cá nhân dành đượclợi thế hơn đối thủ Từ khi hoạt động kinh doanh phát triển trong xã hội loài người và hàng hóasản xuất cao hơn nhu cầu của thị trường thì cạnh tranh là quy luật để tồn tại và phát triển Nhờcạnh tranh mà các tổ chức và cá nhân luôn nghiên cứu, sáng tạo để vươn lên dành lợi thể với chiphí thấp hơn đối thủ Đặc biệt khi cuộc cạnh tranh này vượt qua đường biên khi mà kinh tế,thương mại toàn cầu phát triển ngày càng mạnh mẽ và phụ thuộc lẫn nhau Bên cạnh việc nângcao năng suất lao động để giảm chi phí sản xuất thì việc giảm các chi phí khác cũng là vấn đềluôn đặt cho các doanh nghiệp, đó là chi phí giao dịch, kết nối giữa các doanh nghiệp Mặt khác,chớp thời cơ kinh doanh, tìm kiếm khách hàng và thông tin khách hàng là cũng là lý do đểdoanh nghiệp chiến thắng đối thủ cạnh tranh Từ đó, cho thấy nhu cầu phát triển công nghệthông tin luôn là khao khát không ngừng của các tổ chức và cá nhân Điều này được thể hiện chỉtrong một thời gian không dài lắm, công nghệ thông tin đã có những bước phát triển khôngtưởng Khi đạt được thành tựu nhất định trong phát triển công nghệ thông tin, nhờ có sự trợ giúpcủa thị trường đã tạo những tiền đề kinh tế tài chính cho sự phát triển công nghệ Mặt khác, nhờphát triển của công nghệ là cho các chi phí liên quan giảm xuống nhanh chóng đã tạo điều kiệncho việc ứng dụng công nghệ thông tin phổ biến rộng rãi hơn không chỉ các tổ chức mà còn baogồm cả cá nhân khách hàng Ngày nay, bất cứ một cá nhân nào dù nguồn lực còn hạn chế vẫn
có thể trở thành khách hàng trong thương mại điện tử nhờ giá cả các thiết bị đầu vào, đầu ra,truyền tin, mạng…tương đối hợp lý Thị trường khách hàng mở rộng bao gồm các tổ chức:Chính phủ, phi chính phủ, các doanh nghiệp, đặc biệt là khách hàng tiêu dùng đã thúc đẩy mạnhmẽ cho công nghệ thông tin ngày càng phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, với hệ thốngmáy chủ, máy khách, hệ điều hành, đường truyền băng thông rộng tốc độ và chất lượng cao như4G, 5G, các phần mềm ứng dụng…không ngừng hoàn thiện với chi phí thấp
(2) Hai là: Về mặt kỹ thuật và công nghệ
Có thể nói rằng, kỹ thuật và công nghệ luôn là tiền đề cho sự phát triển kinh tế – xã hội Là điềukiện hết sức quan trọng thể hiện trình độ phát triển của nhân loại Loài người đã trải qua quátrình phát triển luôn gắn bó sống còn với công cụ lao động, có thể nói ngay từ thời kỳ đồ đá loàingười người đã luôn tìm cách cải tiến trong quá trình mưu sinh săn bắn hái lượm, khi công cụlao động bằng đồng, bằng sắt phát triển thì năng suất lao động và cuộc sống của họ cũng thay
Trang 11đổi Đặc biệt khi sáng tạo ra động cơ hơi nước mở ra kỷ nguyên của khoa học công nghệ đượcứng dụng mạnh mẽ trong cuộc sống, quân sự và kinh tế Tiếp theo đó là sự ra đời của máy móc,thiết bị đã thúc đẩy mạnh mẽ các ngành kinh tế sản xuất, dịch vụ, vận chuyển Đến giữa thế kỷ
XX, nhu cầu của thông tin và truyền thông trở lên cấp bách hơn Chỉ khoảng thời gian khôngdài khoảng 50- 60 năm công nghệ thông tin và truyền thông đã phát triển và làm thay đổi thểgiới Ngày nay, ai làm chủ được công nghệ thông tin và truyền thông sẽ làm chủ thế giới
Phải nói rằng, sự ra đời của computer, phương tiện truyền thông, website, hệ điều hành, hệthống mạng nội bộ, mạng internet, các phần mềm ứng dụng…đã giúp cho thương mại điện tử rađời và phát triển như ngày nay
(3) Ba là: Về mặt pháp lý
Không của luật lệ sẽ không có “cuộc chơi”, không của luật lệ sẽ không có thương mại điện tử
Sự ra đới của thương mại điện tử đòi hỏi phải nhanh chóng ban hành các văn bản pháp quy cầnthiết Hơn nữa, thương mại điện tử không phải là của một quốc gia đơn lẻ mà là hoạt động mangtính toàn cầu, do vậy cũng cần một luật chung cho tất cả các nước muốn phát triển kinh doanhthương mại điện tử Thương mại điện tử là hoạt động mạng nhiều lợi ích nhưng cũng hàm chứarất nhiều rủi ro, do nhiều người lợi dụng để kiếm lời hoặc phá hoại hoặc triệt hạ đối thủ cạnhtranh Do vậy, ngoài việc phát triển các giải pháp tự bảo vệ như giải pháp bí mật thông tin, bứctường lửa…các cơ quan quản lý nhà nước cần ban hành các quy định, các chế tài đủ mạnh đểngặn chặn những rủi ro từ Hacker và những kẻ đột nhập không được phép khác
1.1.2 Khái niệm
1.1.2.1 Thương mại điện tử (Electronic commerce - EC) là gì?
Thương mại điện tử là một khái niệm dùng để mô tả quá trình giao dịch mua bán sản phẩm,dịch vụ và thông tin qua mạng máy tính, chủ yếu là Internet Thương mại điện tử còn được biết
đến với nhiều tên gọi khác nhau như: “thương mại trực tuyến - online trade”, “thương mại không giấy tờ - paperless commerce”, hay “kinh doanh điện tử (e-business)” Dù được hiểu lẫn lộn và sử dụng thay thế cho nhau, “thương mại điện tử” vẫn là một tên gọi phổ biến hơn cả Thí
dụ như, một số ứng dụng trong giao dịch của BC là mua và bán cổ phiếu và vé máy bay quamạng Internet, đang phát triển rất nhanh chóng, doanh số của nó đã vượt quá giao dịch ngoạituyến (offline) truyền thống Tuy nhiên, EC không chỉ đơn thuần là mua và bán, mà nó còn làphương tiện để giao dịch điện tử, chia sẻ và khám phá; nó có thể là giáo dục điện tử (e-learning), chính phủ điện tử (e-government), mạng xã hội (social networks), và vô vàn cácứng dụng khác nữa
(1) Khái niệm Thương mại điện tử theo nghĩa hẹp
Theo quan điểm hẹp, thương mại điện tử (EC) là quá trình mua, bán, chuyển giao trao đổi sản phẩm, dịch vụ và thông tin qua mạng máy tính, chủ yếu là Internet và mạng nội bộ (intranets).
Theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử bắt đầu bằng việc các công ty sử dụng các phương tiện điện
tử và mạng Internet để mua bán hàng hóa, dịch vụ của công ty mình, các giao dịch có thể giữacông ty với công ty (B2B) hoặc giữa công ty với khách hàng cá nhân (B2C), và cá nhân vớinhau (C2C) v.v
Trang 12(2) Khái niệm Thương mại điện tử theo nghĩa rộng
Theo nghĩa rộng, thương mại điện tử là việc sử dụng các phương tiện điện tử để làm thương mạikinh doanh Nói cách khác, thương mại điện tử là thực hiện các quy trình cơ bản và các quytrình khung cảnh của các giao dịch thương mại bằng các phương tiện điện tử, cụ thể là trênmạng máy tính và viễn thông một cách rộng rãi, ở mức độ cao nhất có thể
Các quy trình cơ bản của một giao dịch thương mại gồm: tìm kiếm (mua gì, ở đâu, ), đánh giá(có hợp với mình không, giá cả và điều kiện ra sao, ), giao hàng, thanh toán, và xác nhận.Các quy trình khung cảnh của một giao dịch thương mại gồm: diễn tả (mô tả hàng hóa, dịch vụ,các điều khoản của hợp đồng), hợp thức hóa (làm cho thỏa thuận là hợp pháp), uy tín và giảiquyết tranh chấp Tất nhiên có những quy trình không thể tiến hành trên mạng như việc giaohàng hóa ở dạng vật thể (máy móc, thực phẩm, ), song tất cả các quá trình của giao dịch nếu cóthể thực hiện trên mạng thì đều có thể tiến hành bằng các phương tiện điện tử
Tuy nhiên trong thực tế, khái niệm EC thường được hiểu lẫn lộn với khái niệm kinh doanh điện
tử (e-business) Thuật ngữ thương mại điện tử thường được nhiều người hiểu chỉ là các giao
dịch mua bán giữa các đối tác kinh doanh; họ đồng nghĩa EC với e-trade Tuy nhiên, hiểu nhưvậy là quá hẹp, không chuyển tải trọn vẹn ý nghĩa của từ này Vì thế, các chuyên gia thươngmại điện tử đã dùng một khái niệm mang ý nghĩa rộng hơn là kinh doanh điện tử (e-business)
1.1.2.2 Khái niệm thương mại điện tử theo một số tổ chức quốc tế:
Theo UNCITAD (Ủy ban Liên Hiệp quốc về Thương mại và Phát triển):
Thương mại điện tử bao gồm các hoạt động của công ty, theo chiều ngang: “Thương mại điện
tử là việc thực hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh bao gồm marketing, bán hàng, phân phối vàthanh toán (MSDP) thông qua các phương tiện điện tử”
Khái niệm này đã đề cập đến toàn bộ hoạt động kinh doanh, chứ không chỉ giới hạn ở riêng lĩnhvực mua và bán, và toàn bộ các hoạt động kinh doanh này được thực hiện thông qua các phươngtiện điện tử
Khái niệm này được viết tắt bởi bốn chữ MSDP, trong đó:
M: Marketing (Có trang web, hoặc xúc tiến thương mại qua Internet).
S: Sales (Có trang web có hỗ trợ chức năng giao dịch, ký kết hợp đồng).
D: Distribution (Phân phối sản phẩm số hóa qua mạng)
P: Payment (Thanh toán qua mạng hoặc thông qua bên trung gian như ngân hàng).
Như vậy, đối với công ty, khi sử dụng các phương tiện điện tử và mạng vào trong các hoạt độngkinh doanh cơ bản như marketing, bán hàng, phân phối, thanh toán thì được coi là tham giathương mại điện tử
Dưới góc độ quản lý nhà nước, theo chiều dọc: thương mại điện tử bao gồm các lĩnh vực:
I: Cơ sở hạ tầng cho sự phát triển thương mại điện tử (I).
M: Thông điệp (M).
B: Các quy tắc cơ bản (B).
S: Các quy tắc riêng trong từng lĩnh vực (S).
A: Các ứng dụng (A).
Trang 13Mô hình IMBSA này đề cập đến các lĩnh vực cần xây dựng và phải có để phát triển thương mạiđiện tử:
I: Infrastructure: Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông.
Một ví dụ điển hình là dịch vụ Internet băng thông rộng ADSL Tại nước ta, theo thống kê năm
2015 của Vụ Thương mại điện tử, hơn 90% công ty đã sử dụng dịch vụ này để truy cập Internetvới tốc độ đủ cao để giao dịch qua mạng Suy cho cùng, nếu không phổ cập dịch vụ Internet thìkhông thể phát triển thương mại điện tử được Chính vì vậy, UNCTAD đưa ra lĩnh vực đầu tiêncần phát triển chính là cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông, tạo lớp vỏ đầu tiêncho thương mại điện tử
M: Message: Các vấn đề liên quan đến thông điệp dữ liệu.
Thông điệp chính là tất cả các loại thông tin được truyền tải qua mạng, qua Internet trongthương mại điện tử Ví dụ như hợp đồng điện tử, các chào hàng, hỏi hàng qua mạng, các chứng
từ thanh toán điện tử đều được coi là thông điệp, chính xác hơn là “thông điệp dữ liệu” Tạicác nước và tại Việt Nam, những thông điệp dữ liệu khi được sử dụng trong các giao dịchthương mại điện tử đều được thừa nhận giá trị pháp lý Điều này được thể hiện trong các Luậtmẫu của Liên Hiệp quốc về giao dịch điện tử hay Luật thương mại điện tử của các nước, cũngnhư trong Luật Giao dịch điện tử của Việt Nam
B: Basic Rules: Các quy tắc cơ bản điều chỉnh chung về thương mại điện tử: Chính là các luật
điều chỉnh các lĩnh vực liên quan đến thương mại điện tử trong một nước hoặc khu vực và quốctế
Ví dụ: Ở Việt Nam hiện nay là Luật Giao dịch điện tử, Luật Công nghệ thông tin Trên thế giới
có các Hiệp định khung về thương mại điện tử của các khu vực như EU, ASEAN, Hiệp định
về Công nghệ thông tin của WTO, về Bảo hộ sở hữu trí tuệ, và về việc thừa nhận giá trị pháp lýkhi giao dịch xuyên “biên giới” quốc gia
S: Sectorial Rules/Specific Rules: Các quy tắc riêng, điều chỉnh từng lĩnh vực chuyên sâu của
thương mại điện tử, như: chứng thực điện tử, chữ ký điện tử, ngân hàng điện tử (thanh toán điệntử) Thể hiện dưới khía cạnh pháp luật ở Việt Nam có thể là các nghị định chi tiết về từng lĩnhvực Hay các tập quán thương mại quốc tế mới như Quy tắc về xuất trình chứng từ điện tử trongthanh toán quốc tế (e-UCP), hay quy tắc sử dụng vận đơn điện tử (của Bolero)
A: Applications: Được hiểu là các ứng dụng thương mại điện tử, hay các mô hình kinh doanh
thương mại điện tử cần được điều chỉnh, cũng như đầu tư, khuyến khích để phát triển, trên cơ sở
đã giải quyết được bốn vấn đề trên Ví dụ như: Các mô hình cổng thương mại điện tử quốc gia(ECVN.gov), các sàn giao dịch thương mại điện tử B2B (như Vnemart.com) cũng như các môhình B2C (golmart.com.vn, Amazon.com), C2C (đấu giá Ebay.com), hay các website của cáccông ty XNK đều được coi chung là các ứng dụng thương mại điện tử
Theo EU (Liên minh châu Âu): thương mại điện tử bao gồm các giao dịch thương mại thông
qua các mạng viễn thông và sử dụng các phương tiện điện tử Nó bao gồm thương mại điện tửgián tiếp (trao đổi hàng hóa hữu hình) và thương mại điện tử trực tiếp (trao đổi hàng hóa vôhình) thương mại điện tử cũng được hiểu là hoạt động kinh doanh điện tử, bao gồm: mua bán
Trang 14điện tử hàng hóa, dịch vụ, giao hàng trực tiếp trên mạng với các nội dung số hóa được; chuyểntiền điện tử - EET (electronic fund transfer); mua bán cổ phiếu điện tử - EST (electronic sharetrading); vận đơn điện tử - E B/L (electronic bill of lading); đấu giá thương mại - Commercialauction; hợp tác thiết kế và sản xuất; tìm kiếm các nguồn lực trực tuyến; mua sắm trực tuyến -Online procurement; marketing trực tiếp, dịch vụ khách hàng sau khi bán
Theo OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế):
thương mại điện tử gồm các giao dịch thương mại liên quan đến các tổ chức và cá nhân dựa trênviệc xử lý và truyền đi các dữ kiện đã được số hóa thông qua các mạng mở (như Internet) hoặccác mạng đóng có cổng thông với mạng mở (như AOL)
thương mại điện tử là việc làm kinh doanh thông qua mạng Internet, bán những hàng hóa vàdịch vụ có thể được phân phối không thông qua mạng hoặc những hàng hóa có thể mã hóa bằng
kỹ thuật số và được phân phối thông qua mạng
Theo WTO:
Thương mại điện tử bao gồm việc quảng cáo, sản xuất, bán hàng, phân phối sản phẩm, đượcgiao dịch và thanh toán trên mạng Internet, nhưng việc giao nhận có thể hữu hình hoặc giaonhận qua Internet dưới dạng số hóa
Theo AEC (Association for Electronic Commerce):
thương mại điện tử là việc kinh doanh có sử dụng các công cụ điện tử Định nghĩa này rộng, coihầu hết các hoạt động kinh doanh từ đơn giản như một cú điện thoại giao dịch đến những traođổi thông tin EDI phức tạp đều là thương mại điện tử
Theo UNCITRAL (UN Conference for International Trade Law), Luật mẫu về Thương mại
điện tử (UNCITRAL Model Law on Electronic Commerce): “Thương mại điện tử là việc traođổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện điện tử, không cần phải in ra giấy bất cứcông đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch” Định nghĩa này giải thích tương đối đầy đủ vàrõ ràng nhất
“Thông tin” được hiểu là bất cứ thứ gì có thể truyền tải bằng kỹ thuật điện tử, bao gồm cả thư
từ, các file văn bản, các cơ sở dữ liệu, các bảng tính, các bản thiết kế, hình đồ họa, quảng cáo,hỏi hàng, đơn hàng, hóa đơn, bảng giá, hợp đồng, hình ảnh động, âm thanh
“Thương mại” được hiểu theo nghĩa rộng, bao quát mọi vấn đề nảy sinh từ mọi mối quan hệmang tính thương mại, dù có hay không có hợp đồng Các mối quan hệ mang tính thương mạibao gồm, nhưng không giới hạn ở các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặctrao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; đại diện hoặc đại lý thương mại; ủy thác hoa hồng; cho thuê dàihạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm;thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh và các hình thức khác về hợp tác công nghiệphoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đườngsắt hoặc đường bộ
Như vậy có thể thấy rằng phạm vi của thương mại điện tử rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnhvực hoạt động kinh tế Việc mua bán hàng hóa và dịch vụ chỉ là một trong hàng ngàn lĩnh vực
áp dụng thương mại điện tử
Trang 151.1.2.3 Kinh doanh điện tử (e-business)
Kinh doanh điện tử là một thuật ngữ mang ý nghĩa rộng hơn của EC, đó không chỉ là quá trìnhmua và bán mà còn là phục vụ khách hàng, kết nối các đối tác kinh doanh, tổ chức giáo dục vàhuấn luyện qua mạng cũng như thực hiện các giao dịch điện tử trong phạm vi của một tổ chức.Thương mại điện tử bắt đầu bằng việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiệnđiện tử và mạng viễn thông vào mọi hoạt động của mình, từ bán hàng, marketing, thanh toánđến mua sắm, sản xuất, đào tạo, phối hợp hoạt động với các nhà cung cấp trong chuỗi cung ứng,với các đối tác, khách hàng, khi đó thương mại điện tử phát triển thành kinh doanh điện tử,công ty ứng dụng thương mại điện tử ở mức độ cao được gọi là công ty điện tử Như vậy, có thểhiểu kinh doanh điện tử là mô hình phát triển của công ty khi tham gia thương mại điện tử ởmức độ cao và ứng dụng công nghệ thông tin chuyên sâu trong mọi hoạt động của công ty.Ngày nay, kinh doanh điện tử ngày nay phải được xem xét một cách toàn điện tử “chu kỳ kinhdoanh, tốc độ kinh doanh, toàn cầu hóa thị trường và toàn cầu hóa quá trình sản xuất, nâng caonăng suất, khác biệt hóa sản phẩm và dịch vụ, tiếp cận khách hàng mới, chia sẻ kiến thức giữacác tổ chức nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh” (Lou Gerstner, IBM’s CEO)
Tóm lại, theo nghĩa rộng, thương mại điện tử gồm các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ
qua phương tiện điện tử, giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng, chuyển tiền điện tử,mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử, đấu giá thương mại, hợp tác thiết kế, tài nguyênmạng, mua sắm công cộng, marketing trực tuyến tới người tiêu dùng và các dịch vụ sau bánhàng Thương mại điện tử được thực hiện đối với cả thương mại hàng hóa (ví dụ như hàng tiêudùng, các thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (ví dụ như dịch vụ cung cấp thôngtin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khỏe, giáo dục)
và các hoạt động mới (ví dụ như siêu thị ảo) Thương mại điện tử đang trở thành một cuộc cáchmạng làm thay đổi cách thức mua sắm của con người
Như vậy Nhà nước, khu vực tư nhân, cộng đồng những nhà chuyên môn, những người tiêu dùng
- tất cả đều cho rằng thương mại điện tử là phương thức cách mạng trong việc thực hiện giaodịch thương mại ngày nay Thương mại điện tử là một quá trình đang phát triển mạnh mẽ vàtiến hóa liên tục
Trong giáo trình này, thuật ngữ “thương mại điện tử” được hiểu theo nghĩa rộng, là tất cả cáchoạt động kinh doanh nhằm tạo được lợi thế cạnh tranh cho các công ty trên thị trường cạnhtranh khốc liệt ngày nay Nghĩa là, thương mại điện tử (e-commerce) được xem như đồng nhấtvới kinh doanh điện tử (e-business) Tiêu chí của người viết quyền “Thương mại điện tử” này là
để thực hành ứng dụng Vì thế, phạm vi nghiên cứu của quyển sách này khá rộng, bao trùmnhiều vấn đề từ các mô hình đến các phương cách thực hành ứng dụng kinh doanh điện tử trongmôi trường kinh doanh điện tử thực tế ở Việt Nam
Mục đích của cuốn sách này là mô tả thương mại điện tử được tiến hành và quản trị ra sao, và từ
đó chỉ ra những thuận lợi, khó khăn và những lợi ích, những vấn đề, những rủi ro của thươngmại điện tử Cuốn sách này được viết dưới góc độ thực hành quản trị thương mại điện tử là mộtlĩnh vực liên ngành, vì thế mà nó cần dành được sự quan tâm của các nhà quản trị và các chuyên
Trang 16gia trong mọi lĩnh vực chức năng của kinh doanh Tất cả mọi người dù đang làm việc trong lĩnhvực chính trị, giáo dục, y tế và các lĩnh vực khác nữa vẫn thấy có ích khi nghiên cứu thương mạiđiện tử.
Ngày nay, thương mại điện tử và kinh doanh điện tử đang trong giai đoạn củng cố mà trong đó
sự quan tâm đến công nghệ và ý tưởng mới luôn được đi kèm với sự chú ý đặc biệt về chiếnlược, việc thực hiện và lợi ích Đa số mọi người đều nhận thấy rằng kinh doanh điện tử có haiphần, nó không chỉ là về công nghệ mà còn về thương mại
1.1.3 Chức năng của thương mại điện tử
Cùng giống như thương mại truyền thống, thương mại điện tử có các chức năng quan trọng:chức năng lưu thông, chức năng phân phối, chức năng thị trường
Lưu thông trong thương mại điện tử nhằm đáp ứng tất cả nhu cầu của khách hàng về toàn bộcác sản phẩm thiết yếu, sản phẩm thông thường, sản phẩm cao cấp, sản phẩm tư liệu sản xuất,sản phẩm tư liệu tiêu dùng Tuy nhiên, do những đặc thù của thương mại điện tử mà lưu thôngtrong thương mại điện tử cũng có những khác biệt do mức độ số hóa và ứng dụng công nghệcủa thương mại điện tử Cũng nhờ có ứng dụng công nghệ điện tử mà lưu thông trong thươngmại điện tử có những điểm đặc biệt đó là thúc đẩy và giảm chi phí hoạt động với mức độ cạnhtranh hoàn hảo hơn Do vậy, chức năng lưu thông trong thương mại điện tử được mở rộng hơntới tất cả khách hàng không giới hạn bởi không gian và thời gian
Phân phối là phương thức mà người ta chuyển giao sản phẩm/ hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơitiêu dùng với các kênh khác nhau Phân phối trong thương mại điện tử giúp giảm bớt các trunggian trong quá trình trao đổi hàng hóa theo xu hướng tăng kênh giao dịch trực tiếp Nhờ đó phânphối giảm được thời gian, chi phí trong quá trình phân phối hàng hóa và mở rộng thị trường,khách hàng mà trước kia có nhiều giới hạn về không gian Giao dịch trực tuyến là điểm nhấnquan trọng bậc nhất của thương mại điện tử, giúp tạo sự khác biệt với thương mại truyền thống
và mở ra những cơ hội mới trong kinh doanh thời đại công nghệ thông tin Tuy nhiên, giao dịchtrực tuyển vẫn có những hạn chế cần thời gian dài để khắc phục như: nguy cơ cao do các tổchức và cá nhân lợi dụng thực hiện các hành vi không trung thực, không phù hợp so với camkết, những hành vi lừa đảo có cơ hội phát triển; sự không đồng bộ của thanh toán và giao hàng;logistichs trong thương mại điện tử chưa hoàn thiện; vấn đề về thuế quan…
Với chức năng thị trường thương mại điện tử đã tạo tiền đề cho thị trường hàng hóa phát triểnkhông giới hạn về không gian và thời gian Đồng thời, thương mại điện tử cũng hỗ trợ nhữngyếu tố cơ bản của thị trường như khách hàng, cung cầu, giá cả,…được hình thành và vận hànhthuận lợi Về khách hàng, nhờ có thương mại điện tử đã hình thành các chủ thể khách hàng mớivới tư cách là người bán, người mua, người trung gian…vô cùng đông đảo và phong phú Vềcung cầu hàng hóa, thương mại điện tử giúp cho thị trường tiệm cận tới nhu cầu thực sự về mộthoặc một số hàng hóa nào đó hạn chế dư thừa hoặc thiếu hụt do thiếu thông tin về thị trường
Về giá cả, thương mại điện tử giúp cho thị trường minh bạch hơn trong việc hình thành giá hạnchế việc nâng giá, thổi giá
1.1.4 Xu hướng phát triển thương mại điện tử
Trang 17- Thương mại điện tử sẽ là hoạt động phổ biến, sâu sắc, rộng rãi đến với mọi ngành nghề kinhdoanh, mọi lĩnh vực Chính trị - Kinh tế – Xã hội trên toàn cầu Nó sẽ là thuộc tính phổ biếnnhất của xã hội hiện đại
- Thương mại điện tử trở thành nền tảng của thị trường thể hiện ở đổi mới phương thức giaodịch, tổ chức thị trường, cấu trúc khách hàng theo hướng minh bạch và hiệu quả hơn cho mọingười
- Thương mại điện tử từng bước thay thế toàn bộ, hay một phần của thương mại truyền thốngtheo hướng số hóa giao dịch và sản phẩm Trong đó, việc tìm kiếm khách hàng, sản phẩm, thịtrường, giao nhận, thanh toán, giải quyết khiếu nại tranh chấp… sẽ được hỗ trợ của công nghệtruyền thông và mức độ số hóa
- Thế giới ảo trong thương mại điện tử là một xu hướng điển hình Đây là một lợi thế đồng thờicũng là bất lợi lớn nhất trong thương mại điện tử Người ta đang xúc tiến ảo hóa những cố gắngthể hiện đó là thật Tuy nhiên, là điểm yếu của thị trường trong mối hoài nghi của người tiêudùng
- Trí tuệ thông minh ứng dụng trong thương mại điện tử Xu hướng chủ đạo trong những nămtới của thương mại điện tử là tìm mọi cách để ứng dụng trí tuệ thông minh nhằm giành thể mạnh
và lợi thế cạnh tranh trên thị trường ngày càng nhiều đối thủ
- Phát triển các dịch vụ bổ sung Nhờ thương mại điện tử tạo cơ hội, điều kiện và nhu cầu choviệc hính thành và phát triển các dịch vụ bổ sung như cung ứng cổng vật lý, thuê mạng internet,thuê đường truyền, cung cấp nội dung, cung cấp các ứng dụng tiện ích…
1.2 Đặc điểm của thương mại điện tử và lợi ích của kinh doanh thương mại điện tử
1.2.1 Đặc điểm của thương mại điện tử
- Sự phát triển của thương mại điện tử gắn liền và tác động qua lại với sự phát triển của côngnghệ thông tin và truyền thông (ICT: Informatiom Communication Technology) Thương mạiđiện tử từ việc ứng dụng công nghệ thông tin váo trong hoạt động thương mại, chính vì IC đó
mà sự phát triển mà sự phát triển của công nghệ thông tin sẽ thúc đẩy thương mại điện tử pháttriển nhanh chóng, tuy nhiên sự phát triển của thương mại điện tử cũng thúc đẩy sự phát triểnnhiều lĩnh vực khác nhau của công nghệ thông tin như phần cứng và phần mềm chuyên dụng,các dịch vụ hỗ trợ như: cung ấp thông tin, marketing, thanh toán, an ninh…
- Về hình thức: giao dịch thương mại điện tử có thể hoàn toàn qua hệ thống mạng Trong hoạtđộng thương mại truyền thống các bên phải trực tiếp với nhau để tiến hành đàm phán, giao dịch
và đi đến ký kết hợp đồng Còn trong hoạt động thương mại điện tử nhờ việc sử dụng cácphương tiện điện tử có kết nối với hệ thống mạng internet, giờ đây các bên tham gia vào giaodịch không phåi gặp gỡ nhau trực tiếp mà vẫn có thể đàm phán, giao dich được với nhau dù chocác bên tham gia giao dịch đang ở bất cứ quốc gia nào Ví dụ: như trước kia muốn mua mộtquyển sách thì người mua phåi ra tận cửa hàng để tham khåo, chọn mua một cuốn sách mà mìnhmong muốn Sau khi đã chọn được cuốn sách cần mua thì người mua phài ra quay thu ngân đêtrå tiền mua cuốn sách đó Nhưng giờ đây với sự ra đời của thương mại điện tử chỉ cần có mộtchiếc máy tính và màng Internet, thông qua vài thao tác kích chuột, người mua không cần biết
Trang 18mặt cùa người bán hàng thì vẫn có thể mua một cuốn sách mình mong muốn trên các websitemua bán trực tuyến như Amazon.com, Vinabook.com.vn…
- Phạm vi hoạt động: thị trường trong thương mại điện tử là thị trường phi biên giới Ðiều nàythể hiện ở chỗ mọi người tất cả các quốc gia trên khắp toàn cầu không phåi di chuyển tới bất kìđịa điểm nào mà vẫn có thể tham gia và tiến hành giao dịch điện tử bằng cách truy cập vào cácwebsite thương mại điện tử và vào các trang mạng xã hội
- Chủ thể tham gia: Trong hoạt động thương mại điện tử phåi có tối thiểu ba chủ thể tham gia
Ðó là các bên tham gia giao dịch và không thể thiếu được sự tham gia của bên thứ ba đó là các
tổ chức cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực, đây là những người tạo môi trường chocác giao dịch thương mại điện tử Nhà cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực có nhiệm
vụ chuyển di, lưu giữ các thông tin giữa các bên tham gia giao dịch thương mại điện tử, đồngthời họ cüng xác nhận để tin cậy của các thông tin trong giao dịch thương mại điện tử
- Thời gian, không gian giao dịch không giới hạn Nhờ ứng dụng công nghệ thông tin và hệthống mạng các bên có thể tiến hành giao dịch thương mại 24/7 không kể ngày, tháng và khônggian có thể ở bất cử nơi nào không giới hạn về đường biên như giao dịch thương mại truyềnthống Áp dụng công nghệ thông tin nên thương mại điện tử có thể tự động hóa trong giao dịchgóp phần chuẩn hóa và tiết kiệm chi phí giao dịch
- Thông tin thương mại điện tử là vấn đề cốt lõi đảm bảo sự thành công đã được giải quyếtnhanh chóng, thuận lợi và tin cậy Thông tin về thị trường được minh bạch hơn mặc dù có nhiềunhiễu, thông tin về khách hàng, bạn hàng, nhà cung cấp được tiếp cận với thời gian nhanh và chiphí thấp Chính vì vậy, thông tin trong thương mại điện tử là điểm nổi trội là thay đổi bản chấtcủa thị trường và hoạt động kinh doanh Thông tin trở thành tài nguyên, nguồn lực có sức mạnhcủa mọi doanh nghiệp
1.2.2 Lợi ích và hạn chế của thương mại điện tử
1.2.2.1 Lợi ích của thương mại điện tử
a Đối với doanh nghiệp
- Mở rộng kinh doanh, mở rộng thị trường Với chi phí đầu tư nhỏ hơn so với thương mại truyềnthống, ứng dụng thương mại điện tử giúp doanh nghiệp mở rộng kinh doanh, tổ chức lại thịtrường không chỉ với không gian hạn chế mà còn vượt sang những vùng miền, địa phương khác,những lãnh thổ quốc gia khác không giới hạn biên giới Một doanh nghiệp nhỏ hoàn toàn có thểtiếp cận các thị trường mới trong và ngoài nước mà nếu không có ứng dụng thương mại điện tửthì không thể thực hiện được Nhờ thương mại điện tử, các doanh nghiệp có thể tìm kiến thịtrường toàn cầu, giao dịch ký kết hợp đồng với khách hàng từ xa, tổ chức thực hiện đơn hàng
mà không nhất thiết phải gặp gỡ khách hàng
- Giảm các chi phí sản xuất kinh doanh Thông qua ứng dụng thương mại điện tử các doanhnghiệp đã giảm đáng kể những chi phí kinh doanh như chi phí tìm kiếm, giao dịch kết nối vớikhách hàng, chi phí nghiên cứu thị trường, chi phí marketing, chi phí ký kết hợp đồng, thời gianthực hiện các đơn hàng, lựa chọn phương thức vận tải và logistics…
Trang 19- Cải tiến chức năng phân phối qua việc hợp lý hóa hệ thống kênh phân phối, thời gian, quãngđường vận chuyển, giảm chi phí nhà kho bến cảng, giảm thời gian chờ đợi, dữ trữ chuẩn bị, dựtrữ lưu thông của vật tư hàng hóa.
- Thương mại điện tử tạo thuận lợi cho cơ chế đặt hàng theo nhu cầu cá biệt Doanh nghiệp cóthể tiếp cận khách hàng cá biệt thông qua online để tiếp nhận yêu cầu về đơn hàng, từ đó có thể
tổ chức sản xuất theo yêu cầu cá biệt với giá thành không quá cao, đây chính là lợi thế đặc biệtcủa thương mại điện tử
- Mô hình kinh doanh mới Thương mại điện tử đã làm rõ ràng các mô hình kinh doanh mới màtrước đó thương mại truyền thông không có được chia thành các mô hình cơ bản thông quanhững đặc tính của thị trường Điển hình là 2 mô hình: B2C và B2B
Rút ngắn thời gian đưa sản phẩm ra thị trường, thời gian thực hiện các đơn hàng nhờ việc tiếpcận thông tin và phối hợp với các doanh nghiệp liên quan trong việc tổ chức cung ứng và sảnxuất
- Cơ sở để xây dựng, củng cố và quản trị quan hệ khách hàng với chi phí thấp nhằm bảo đảmvững chắc hoạt động cung ứng vật tư hàng hóa và đặc biệt là đầu ra cho sản phẩm của doanhnghiệp Có nguồn cung ổn đinh và đầu ra bảo đảm giúp cho doanh nghiệp phát triển và mởrộng hoạt động kinh doanh dựa trên nền tảng thương mại điện tử, thương mại toàn cầu
- Đối mặt với cạnh tranh không chỉ trong nước mà còn quốc tế, buộc doanh nghiệp phải khôngngừng hoàn thiện, nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua việc cải tiến sản phẩm, nâng caonăng suất lao động, giảm chi phí và giá thành
b Đối với người tiêu dùng
- Vượt qua giới hạn về không gian và thời gian Thương mại điện tử cho phép người tiêu dùngmua sắm hàng hóa ở bất cứ nơi nào và không hạn chế thời gian giao dịch
- Thương mại điện tử tạo cơ hội lựa chọn sản phẩm phù hợp với nhu cầu của khách hàng vềchủng loại, chất lượng, giá cả…của nhiều nhà cung cấp khác nhau
- Tiết kiệm thời gian, không gian giao dịch nhờ tiếp cận thông tin trên mạng internet Kháchhàng sẽ nhanh chóng nhận được hàng hóa khi giao dịch thành công với chi phí hợp lý đặc biệt lànhững sản phẩm có thể số hóa được như: sách, báo, video ca nhạc, phim ảnh, kết quả dự án, tưvấn…
- Thông tin về thị trường, khách hàng luôn thuận tiện, phong phú, cập nhật có ích cho việc quyếtđịnh mua sắm của khác hàng Đây là điểm khác biệt lớn nhất đối với khách hàng trong thời đạithương mại điện tử
- Mô hình đấu giá là một cơ chế đặc thù của thương mại điện tử, nhờ việc so sánh và tìm ra lựachọn tốt nhất với chi phí và thời gian nhanh nhất, đấu giá trong thương mại điện tử giúp rấtnhiều cho khách hàng có phương án mua hàng tối ưu
- Chia sẻ kinh nghiệm trong việc mua sắm, sử dụng sản phẩm như: uy tín, chất lượng, giá cả,chi phí sử dụng, bảo hành sản phẩm…
c Lợi ích của thương mại điện tử đối với xã hội
Trang 20- Thông tin liên lạc được cải thiện, nhờ vậy ngày càng nhiều người có thể làm việc tại nhà, giảmthiểu việc đi lại tới nơi công sở và đi đến các cửa hàng mua sắm, giảm ách tắc giao thông và ônhiễm không khí.
- Góp phần tạo mức sống cao hơn: Một số loại hàng hóa có thể bán với giá thấp hơn, cho phépnhững người thu nhập thấp mua được nhiều hàng hóa, dịch vụ hơn, nhờ vậy nâng cao được mứcsống Những người sống ở nông thôn, với thu nhập thấp Nhờ thương mại điện tử có thể tiếpcận và thụ hưởng các loại hàng hóa và dịch vụ trước kia chưa thể có ở nơi họ sống Các hànghóa và dịch vụ này bao hàm cả các chương trình giáo dục, đào tạo kiến thức cơ bản và chuyênnghiệp
- Nâng cao an ninh trong nước: Công nghệ thương mại điện tử nâng cao an ninh nội địa nhờhoàn thiện truyền thông, sự phối hợp thông tin và hành động
- Tiếp cận các dịch vụ công dễ dàng hơn: Các dịch vụ công như chăm sóc sức khoẻ, đào tạo, cácdịch vụ hành chính của chính phủ có thể được thực hiện và cung ứng với chi phí thấp, chấtlượng được cải thiện Ví dụ, thương mại điện tử mang đến cho các bác sỹ, y tá nông thôn khảnăng tiếp cận các thông tin và công nghệ mới, nhờ đó họ có thể nâng cao tay nghề để chữa bệnhtốt hơn
- Tạo điều kiện sớm tiếp cận kinh tế tri thức: Trước hết, thương mại điện tử sẽ kích thích sự pháttriển của ngành công nghệ thông tin tạo cơ sở cho phát triển kinh tế tri thức Lợi ích này có một
ý nghĩa lớn đối với các nước đang phát triển như Việt Nam: nếu không nhanh chóng tiếp cậnnền kinh tế tri thức thì sau khoảng một thập kỷ nữa, các nước đang phát triển có thể bị bỏ rơihoàn toàn Khía cạnh lợi ích này mang tính chiến lược công nghệ và tính chính sách phát triểncần cho các nước đang tiến hành công nghiệp hóa như Việt Nam
1.2.2.2 Hạn chế của thương mại điện tử
Ngoài những lợi ích mà thương mại điện tử mạng lại cho doanh nghiệp, người tiêu dung, xã hộithì thương mại điện tử còn mang lại những tác động xấu, không mong muốn và những hạn chếcủa nó đối với doanh nghiệp và cá nhân khi tham gia thương mại điện tử Những trở ngại tácđộng xấu của nó bao gồm: gia tăng mối nghi ngờ về sản phẩm và chất lượng sản phảm; hoạtđộng kinh doanh dựa nhiều vào tín nhiệm và niềm tin; vấn đề lừa gạt gia tăng, vấn đề an ninhmạng phát sinh; vấn đề gia tăng chi phí cho đầu tư ban đầu trong kinh doanh khi mua sắm cácthiết bị điện tử, đầu tư cho việc đào tạo nguồn nhân lực; vấn đề nhiễu thông tin, sàng lọc vàkiểm soát thông tin xấu; vấn đề gia tăng cạnh tranh, gia tăng tranh chấp quốc tế…Các hạn chếđối với thương mại điện tử có thể được phân loại thành các trở ngại công nghệ và các trở ngạiphi công nghệ, đặc biệt là trở ngại về đặc thù sản phẩm
a Các trở ngại công nghệ
Tham gia vào lĩnh vực thương mại điện tử không thể không nhắc đến yếu tố công nghệ Mộtthực tế là ngày nay con người đang dần dần bị lệ thuộc vào công nghệ Chúng ta hãy tưởngtượng một công ty kinh doanh điện tử thông qua việc xây dựng một website trên mạng khi hệthống bị trục trặc không vận hành được do lỗi của công nghệ thì sẽ gây khó khăn như thế nàocho công ty, điều này có thể dẫn đến mất khách hàng Một vấn đề nữa là hiện nay công nghệ
Trang 21thay đổi rất nhanh chóng và để theo kịp điều đó bắt buộc công ty phải có sự đầu tư và theo đuổicho phù hợp Nếu không có sự đầu tư cho nhân viên trong công tác đào tạo thì có thể sẽ gây ảnhhưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty một khi công nghệ đã thay đổi.
Một vấn đề khác mà các công ty muốn thực hiện kinh doanh trên Internet phải đối mặt đó chính
là sự khó khăn trong việc tích hợp cơ sở dữ liệu hiện có và phần mềm xử lý các nghiệp vụ kinhdoanh vốn được thiết kế cho thương mại truyền thống với các phần mềm chuyên dùng chothương mại điện tử Mặc dù một số công ty cung cấp dịch vụ tư vấn và thiết kế phần mềm hứahẹn sẽ gắn chặt các hệ thống hiện tại vào trong hệ thống kinh doanh trực tuyến mới, thì các dịch
vụ này cũng sẽ rất tốn kém
Trở ngại về cơ sở hạ tầng
Các công ty đã và đang phải đối mặt với những khó khăn do sự khác nhau và sự không tươngxứng trong cơ sở hạ tầng hỗ trợ Internet trên toàn thế giới Cơ sở hạ tầng của Internet bao gồmcác máy tính và các phần mềm được kết nối tới Internet và các mạng liên lạc mà qua đó các góithông tin truyền đi Tại một số quốc gia như Việt Nam, ngành viễn thông hoặc là của Chính phủhoặc là do Chính phủ quy định một cách chặt chẽ Trong nhiều trường hợp, các quy định củanhững nước này có thể gây hạn chế đầu tư cho sự phát triển của cơ sở hạ tầng viễn thông hoặchạn chế sự mở rộng của những cơ sở hạ tầng đó đến mức mà không thể hỗ trợ cho sự truyền đicác gói dữ liệu trên Internet một cách đáng tin cậy
Bên cạnh đó, chi phí kết nối địa phương thông qua các mạng điện thoại đang tồn tại ở một sốquốc gia tương đối cao hơn so với chi phí tại các quốc gia phát triển khác cho việc truy cậptương tự Điều này có thể có ảnh hưởng sâu sắc đến phản ứng của những người tham gia thươngmại điện tử
Ngoài ra, những luồng thông tin trong giao dịch thương mại quốc tế vẫn còn lệ thuộc khá nhiềuvào giấy tờ và nhiều thủ tục phức tạp đòi hỏi phải chung tay nỗ lực cải tiến Hầu hết các công ty
có giao thương quốc tế phải trông cậy vào các công ty vận chuyển, nhà môi giới thủ tục hảiquan, công ty giao nhận quốc tế, kho ngoại quan (bonded warehouse), Các nhà nhập khẩuphải hoàn thành hàng đống giấy tờ để đáp ứng yêu cầu của các chính phủ và các quy định vềbảo hiểm,
Giao dịch thương mại nội địa thường chỉ bao gồm người bán, người mua, ngân hàng liên quan
và chỉ một nhà chuyên chở Tuy nhiên, giao dịch thương mại quốc tế đối với các hàng hóa hữuhình luôn đòi hỏi buộc phải có nhiều nhà giao nhận vận tải, phải lưu trữ tại các kho bãi của nhàvận tải giao nhận trước khi vận chuyển quốc tế, phải lưu trữ tại các kho ngoại quan ở quốc giađược vận chuyển đến (destination country) Việc xử lý và lưu kho đòi hỏi tuân theo sự hướngdẫn (monitoring) về thủ tục hải quan cũng như sự chỉ định của người bán, người mua theo tậpquán giao dịch nội địa Giao dịch thương mại quốc tế yêu cầu các nỗ lực phối hợp của các nhàmôi giới hải quan và các đại lý giao nhận vận tải bởi vì các quy định và các thủ tục hướng dẫngiao dịch thương mại quốc tế vô cùng phức tạp
Tóm lại, các hạn chế công nghệ của thương mại điện tử có thể liệt kê như sau:
• Thiếu vắng các tiêu chuẩn chung về chất lượng, an ninh và độ tin cậy;
Trang 22• Băng thông viễn thông không đủ rộng, đặc biệt cho thương mại điện tử di động;
• Sự phát triển các công cụ phần mềm mới bắt đầu triển khai;
• Khó tích hợp Internet và các phần mềm thương mại điện tử với một số ứng dụng sẵn có và cơ
sở dữ liệu (đặc biệt liên quan đến luật); cần thiết có một số máy chủ web bổ sung cho các máychủ mạng, điều này làm tăng chi phí ứng dụng thương mại điện tử;
• Việc thực hiện các đơn đặt hàng B2C trên quy mô lớn đòi hỏi có các kho hàng tự động hóachuyên dùng
b Các trở ngại phi công nghệ
Trở ngại do thói quen tiêu dùng:
Thực tế hiện nay đi mua sắm (shiping) là thói quen và sở thích của rất nhiều người Họ có thểmất hàng giờ lang thang trong các siêu thị, trung tâm thương mại để tìm cho mình sản phẩm ưathích hay thậm chí chỉ là để tiêu khiển Họ thích được nhìn, sờ, thử hàng hóa mà mình định muahơn là xem chúng trên Internet Nhiều công ty còn phải đối mặt với các rào cản về văn hóa vàluật pháp trong việc thực hiện thương mại điện tử Một số khách hàng vẫn còn e ngại trong việcgửi những thông tin về thẻ tín dụng của họ lên Internet và mua hàng trực tuyến, những mặt hàng
mà họ chưa có nhiều thông tin, chưa nhìn thấy tận mắt
Bên cạnh đó còn một bộ phận không nhỏ các công ty vẫn còn ưa thích hình thức giao dịch trựctiếp vì nó tạo cho họ sự tin cậy, tâm lý e ngại khi tiếp xúc với các đối tác mình chưa gặp bao giờcũng là một thực tế của nhiều công ty
Trở ngại về vấn đề ngôn ngữ:
Phần lớn các công ty đều nhận thấy chỉ có một cách để tiến hành kinh doanh có hiệu quả trongcác nền văn hóa khác nhau là phải thích ứng với các nền văn hóa đó Thành ngữ “suy nghĩ mangtính toàn cầu, hành động mang tính địa phương” thường được sử dụng để mô tả về cách tiếp cậnnày
Các nhà nghiên cứu cho thấy rằng các khách hàng khó có thể mua các hàng hóa và dịch vụ từcác website bằng ngôn ngữ riêng của website nước ngoài và thậm chí ngay cả khi họ có thể đọctiếng Anh rất tốt Bước đầu tiên mà một công ty kinh doanh trên Internet thường dùng để tiếpcận được các khách hàng tiềm năng tại các quốc gia khác nhau và với các nền văn hóa khácnhau thì nên đưa ra các phiên bản ngôn ngữ địa phương trên chính website của họ Điều này cónghĩa là tốt nhất chuyển một website sang ngôn ngữ khác hoặc tiếng địa phương
Trở ngại về văn hóa:
Trang 23Một số sai sót nảy sinh từ các tiêu chuẩn về vấn đề ngôn ngữ và văn hóa tinh tế đã trở thànhnhững ví dụ điển hình được sử dụng thường xuyên cho việc đào tạo những chuyên gia kinhdoanh quốc tế Một số khu vực trên thế giới có môi trường văn hóa không sẵn sàng cho việckhởi xướng về thương mại điện tử
Với một số nước, dù họ không cấm hoàn toàn thương mại điện tử, nhưng vẫn có những yêu cầukhắt khe về văn hóa đã được tìm thấy cách thức của họ trong những điều luật công ty nhà nướcthực hiện
Tóm lại, các hạn chế phi công nghệ của thương mại điện tử có thể liệt kê như sau:
• Các vấn đề an ninh và bí mật riêng tư hạn chế khách hàng thực hiện việc mua hàng; thiếu niềmtin vào thương mại điện tử; nhiều vấn đề pháp luật và chính sách công, bao gồm cả vấn đề đánhthuế trong thương mại điện tử chưa được giải quyết;
• Các quy định về quản lý quốc gia và quốc tế đối với thương mại điện tử nhiều khi ở trong tìnhtrạng không thống nhất vì tình thế “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”;
• Còn khó đo đạc được lợi ích (hiệu quả) của thương mại điện tử, ví dụ hiệu quả của quảng cáotrực tuyến Các công nghệ đo lường chín muồi chưa được thiết lập;
• Một số khách hàng còn có tâm lý muốn nhìn thấy, sờ thấy trực tiếp sản phẩm, ngại thay đổithói quen từ mua hàng ở các cửa hàng “vữa hồ và gạch”;
• Người dân còn chưa tin tưởng lắm vào môi trường phi giấy tờ, giao dịch không theo phươngthức mặt đối mặt Trong một số trường hợp số lượng người mua - bán trong thương mại điện tửcòn chưa đủ, hạn chế hiệu quả ứng dụng thương mại điện tử;
1.3 Hệ thống hạ tầng trong kinh doanh thương mại điện tử
Cơ sở hạ tầng được hiểu là toàn bộ những điều kiện về mặt vật chất, kỹ thuật, tồn tại trong xã hội và môi trường dùng để phục vụ cho mọi hoạt động sản xuất, đời sống của con người Hay
nói cách khác cơ sở hạ tầng là một thuật ngữ tổng hợp dùng để chỉ những bộ phận kết cấu, nềntảng cho việc phát triển nền kinh tế
Xét trên phương diện hình thái, cơ sở hạ tầng là những tài sản hữu hình gồm đường xá, cầucống, hệ thống thủy lợi, các công trình công cộng, các công trình hạ tầng kỹ thuật, lực lượng laođộng tri thức… Dựa trên cơ sở có sẵn, các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội luôn được duy trì
và phát triển Đây cũng chính là những công trình thuộc hạ tầng xã hội hoặc hạ tầng cơ sở.
Xét trên phương diện kinh tế hàng hóa thì cơ sở hạ tầng là một loại hàng hóa công cộng Loạihàng hóa này dùng để phục vụ cho lợi ích của toàn xã hội
Xét trên phương diện đầu tư, cơ sở hạ tầng là kết quả, sản phẩm của quá trình đầu tư được gomgóp lại qua nhiều thế hệ Nó được coi là một bộ phận giá trị, tiết kiệm quốc gia, được đầu tư đápứng mọi yêu cầu, mục tiêu phát triển trên mọi mặt của đất nước
Cơ sở hạ tầng trong chủ nghĩa duy vật lịch sử là tổng hợp những quan hệ sản xuất hợp thành cơcấu kinh tế của một hình thái kinh tế- xã hội nhất định
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là những yếu tố quan hệ biện chứng với nhau trong phépduy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin, đây là hai yếu tố quan trọng trong học thuyết về
Trang 24hình thái kinh tế-xã hội Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng có mối quan hệ biện chứng vớinhau.
Hạ tầng kinh tế - xã hội của thương mại điện tử là toàn bộ các nhân tố, các điều kiện cơ bản vềkinh tế xã hội nhằm tạo ra môi trường cho sự hình thành và phát triển của thương mại điện tử
Cơ sở hạ tầng trong kinh doanh thương mại điện tử bao gồm: hạ tầng kinh tế – xã hội, hạ tầngpháp lý,
Từ đó, tựu chung lại có thể hiểu như sau: Cơ sở hạ tầng được hiểu là toàn bộ những điều kiện vềvật chất, kỹ thuật, thiết chế xã hội… được trang bị các yếu tố vật chất phục vụ cho hoạt độngsản xuất và đời sống con người Cơ sở hạ tầng vừa có các yếu tố vật chất vừa phi vật chất và nócũng là sản phẩm của quá trình đầu tư để làm nền tảng cho sự phát triển của toàn xã hội
1.3.1 Cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội kinh doanh thương mại điện tử
Sự lan tỏa nhờ lợi ích to lớn và xu hướng thời đại của thương mại điện tử đã làm thay đổi bảnchất của nền kinh tế theo hướng kinh tế số đã trở lên phổ biến Từ đây, mọi hoạt động của nềnkinh tế đều gắn với thương mại điện tử và số hóa ở mực độ cao nhất có thể Tuy nhiên, đểthương mại điện tử phát triển hạn chế những thiệt hại của nó mang lại th ì vấn đề nền tảng phảixây dựng được một hệ sinh thái cho thương mại điện tử bao gồm các yếu tố về kinh tế - xã hội
1.3.1.1 Các yếu tố kinh tế
Phát triển thương mại điện tử không thể tách rời các yếu tố như: tăng trưởng, thu nhập, lạmphát, tài khóa, tài chính tiền tệ, hội nhập và quốc tế hóa nền kinh tế…
a Về tăng trưởng
Tăng trưởng là chỉ số quan trọng phản ánh sức mạnh và xu hướng phát triển của nền kinh tế.Tăng trưởng cao, ổn định cho phép Chính phủ tăng đầu tư, duy trì tốc độ tăng trưởng, phát triểnkinh tế – xã hội, cải thiện mức sống của dân cư Đây cũng là nền tảng cho sự phát triển củathương mại điện tử, hoạt động đòi hỏi phải tăng nhiều đầu tư cho cơ sở hạ tầng công nghệ
b Về thu nhập dân cư
Thu nhập dân cư phản ảnh một phần mức sống của người dân, tạo điều kiện cho người dân cóthể đầu tư, mua sắm những thiết bị đầu cuối của thương mại điện tử Khi thu nhập dân cư càngcao càng có điều kiện cho ứng dụng và phát triển thương mại điện tử Ngày nay, điện thoạithông minh (smartphone) là một phần không thể thiếu của hoạt động thương mại điện tử pháttriển Nhờ phổ biến điện thoại thông minh mà mọi người dân có thể kết nối với các mạng xãhội, các website để thực hiện các giao dịch dân sự trong đó có giao dịch thương mại như muasắm online Đây là thị trường vô cùng to lớn và hấp dẫn cho các doanh nghiệp kinh doanhthương mại điện tử
c Về tài chính tài khóa của Chính phủ
Ngày nay, nhờ những ích lợi của thương mại điện tử mang lại cho nền kinh tế, hầu hết cácChính phủ đều có chiến lược hỗ trợ cho phát triển thương mại điện tử Hỗ trợ thiết thực nhất làvấn đề đầu tư tài chính cho phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ điện tử, điều mà doanh nghiệpkhông thể làm được Nhờ những hỗ trợ thiết thực này, thương mại điện tử đã phát triển mạnhmẽ trên thế giới với tốc độ tăng trưởng lên 2 con số
Trang 25d Hội nhập và quốc tế hóa nền kinh tế
Thương mại điện tử phát triển song hành cùng với vấn đề hội nhập và quốc tế hóa nên kinh tế.Một nền kinh tế khép kín đã hạn chế giao thương quốc tế, hạn chế giao dịch và xuất nhập khẩuhàng hóa và kìm hãm sự phát triển của thương mại điện tử Thương mại điện tử là thương mạicủa không giới hạn về không gian và thời gian, do vậy để mở đường cho thương mại điện tửphát triển, các nước cần có những hiệp định thương mại đa phương, ký kết hoặc thừa nhận côngước quốc tế và chính sách kinh tế cởi mở
1.3.1.2 Các yếu tố văn hóa – xã hội
Văn hóa – xã hội làm nên bản sắc, phong tục tập quán, lối sống, trình độ dân trí, tín ngưỡng củatừng quốc gia, lãnh thổ, vùng miền nơi là môi trường quan trọng giúp thương mại điện tử tồn tại
và phát triển Đối với Việt Nam, đặc biệt là giới trẻ tại các khu vực thành thị việc ứng dụngcông nghệ mới thuận lợi và nhanh chóng hơn nhiều so với tầng lớp dân cư khác Điện thoạithông minh và mạng xã hội không còn là vấn đề xa lạ bởi những tiện lợi do nó mang lại Đây lànguyên nhân chính để công nghệ điện tử lan tỏa nhanh chóng và đang chiếm dần một tỷ trọnglớn dân cư trong xã hội Các yếu tố về văn hóa – xã hội cung dần từng bước thay đổi, trước kia,việc mua sắm trực tuyến còn lạ lẫm và khó khăn thì ngày nay nó đã phủ khắp các vùng thànhthị, khu vực đông dân cư và đang mở rộng sang các khu vực còn lại của Việt Nam Như vậy,thương mại điện tử đã được xâm nhập và dần thành thói quen, tập quán trong xã hội đương đại
1.3.1.3 Môi trường kinh tế - xã hội
Nền tảng kinh tế có vai trò quyết định đến sự phát triển thương mại điện tử, đối với một quốcgia kém phát triển thiếu thốn cơ sở hạ tầng là nhân tố ngăn cản hàng đầu của thương mại điện
tử Hệ thống mạng internet không phát triển, không phủ khắp, thiếu các thiết bị đầu ra… lànguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự kìm hãm của thương mại điện tử Cho dù các nhà đầu tư pháttriển hệ thống mạng internet đủ rộng, nhưng nếu thiếu người dùng do kinh tế chưa phát triển thìhoạt động đầu tư cũng không thể duy trì Do vậy, môi trường kinh tế – xã hội với sự phát triểnkinh tế là điều kiện tiên quyết cho phát triển và ứng dụng thương mại điện tử
1.3.2 Cơ sở hạ tầng pháp lý kinh doanh thương mại điện tử
Toàn cầu hóa, quốc tế hóa nền kinh tế là là điều kiện tiền đề cho thương mại điện tử phát triểnkhông giới hạn về không gian và thời gian, đồng thời thương mại điện tử cũng phát sinh nhữngvấn đề mới do hình thành không gian ảo, kết nối mạng internet… thì các hoạt động xâm nhậpkhông được phép cũng có điều kiện phát triển, làm tổn hại đến lợi ích của các chủ thể củathương mại điện tử Vì vậy, Chính phủ cần có luật lệ, trên thế giới cần có những Công ước vềthương mại điện tử để tạo ra hành lang pháp lý tạo điều kiện và quản lý hoạt động thương mạiđiện tử, đặc biệt là vấn đề an ninh mạng
1.3.2.1 Đối với quốc tế
Vào 16/12/1996, Ủy ban Luật thương mại quốc tế của Liên Hợp quốc (UNCITRAL) đã hoànthiện và ban hành Luật mẫu về thương mại điện tử 6/7/2001 UNCITRAL thông qua Luật mẫu
về chữ ký điện tử Hiện nay, UNCITRAL đang nỗ lực soạn thảo Công ước quốc tế về hợp đồngđiện tử và Công ước về liên lạc điện tử trong hợp đồng quốc tế Luật mẫu có thể được coi như
Trang 26là một tài liệu tham khảo để các quốc gia xây dựng và ban hành luật về thương mại điện tử củamình Tinh thần của Luật mẫu là bảo đảm những giao dịch thương mại điện tử được thừa nhậngiá trị pháp lý tại các quốc gia
Luật mẫu được soạn thảo dựa trên những nguyên tắc cơ bản:
- Tài liệu điện tử có thể được coi là có giá trị pháp lý như tài liệu ở dạng văn bản;
- Tự do thỏa thuận hợp đồng;
- Tôn trọng việc sử dụng tự nguyện phương thức truyền thông điện tử;
- Giá trị pháp lý của hợp đồng và tính ưu việt của những quy định pháp lý về hình thức hợpđồng;
- Áp dụng về hình thức hơn là quan tâm tới nội dung, luật chỉ áp dụng đối với hình thức màkhông đề cập đến nội dung của hợp đồng;
- Pháp luật hướng đến bảo vệ người tiêu dùng phải đi trước
1.3.2.2 Đối với Việt Nam
a Sự cần thiết
- Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và giao dịch, chứng từ điện tử cần có sựquản lý thống nhất;
- Xu thế quốc tế và toàn cầu Việt Nam không thể ngoài cuộc;
- Cần có cơ sở pháp lý để tạo điều kiện phát triển cho thương mại điện tử;
- Ngoài tuân thủ luật lệ chung (quốc tế) còn có cái riêng, đặc thù của Việt Nam
b Một số văn bản pháp lý về giao dịch điện tử tại Việt Nam:
Luật Giao dịch điện tử: Số 51/2005/QH11 ngày 29/11/2005
- Phạm vi điều chỉnh: giao dịch điện tử trong các lĩnh vực dân sự, thương và hành chínhnhà nước;
- Thông điệp dữ liệu: có thể sử dụng làm cơ sở pháp lý như văn bản, được làm chứng từ
và lưu trữ;
- Chữ ký điện tử: có giá trị pháp lý như chữ ký thông thường;
- Hợp đồng điện tử: được Nhà nước công nhận;
- Bảo mật thông tin và dữ liệu điện tử;
- Sở hữu trí tuệ trong giao dịch điện tử
Tháng 6 năm 2006 Chính phủ ban hành Nghị định số 57/2006/NĐ-CP về thương mạiđiện tử
Nội dung chủ yếu của Nghị định về thương mại điện tử năm 2006 là thừa nhận giá trị pháp lýcủa chứng từ điện tử trong hoạt động thương mại, ngoài ra có một số quy định cụ thể khác Chotới cuối năm 2012 thương mại điện tử ở Việt Nam phát triển nhanh và đa dạng, đồng thời cũngxuất hiện những mô hình mang danh nghĩa thương mại điện tử thu hút rất đông người tham gianhưng gây tác động xấu tới xã hội
Đầu năm 2007, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày23/02/2007 "Về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính", số 26/2007/NĐ-CP ngày15/02/2007 "Quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng
Trang 27thực chữ ký số" , số 35/2007/NĐ-CP ngày 08/03/2007 "Về giao dịch điện tử trong hoạt độngngân hàng".
Ngày 16 tháng 5 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2013/NĐ-CP vềthương mại điện tử thay thế cho Nghị định năm 2006 Nghị định mới đã quy định những hành vi
bị cấm trong thương mại điện tử, quy định chặt chẽ trách nhiệm của các thương nhân cung cấpcác dịch vụ bán hàng trực tuyến, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về thương mại điện
tử Một trong những mục tiêu quan trọng của Nghị định mới là tạo môi trường thuận lợi hơn chothương mại điện tử, nâng cao lòng tin của người tiêu dùng khi tham gia mua sắm trực tuyến
Luật Công nghệ thông tin: Số 67/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006
Đề cập đến các vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng viễn thông và hạ tầng cơ sở mạng, quy địnhnhững vấn đề bảo mật thông tin và an toàn mạng
1.3.3 Cơ sở hạ tầng công nghệ kinh doanh thương mại điện tử
Thương mại điện tử là hệ quả tất yếu của sự phát triển không gian mạng và kỹ thuật số hóa củacông nghệ thông tin tạo ra nền tảng và hạ tầng công nghệ Cùng với các yếu tố về kinh tế, nềntảng và hạ tầng công nghệ thông tin làm tiền để thương mại điện tử ra đời và phát triển Trong
đó nền tảng và sự tiến bộ nhanh chóng của hạ tầng công nghệ đóng vai trò quyết định trình độứng dụng và mức độ phổ cập của thương mại điện tử Sở dĩ ngày nay, thương mại điện tử pháttriển khá phổ biến trên toàn cầu là vì vấn đề công nghệ đã có những bước tiến quan trọng trongviệc phát triển trình độ công nghệ của các thiết bị đầu vào và đường truyền với tốc độ cao kếthợp với áp dụng trí tuệ thông minh (AI) và sử dụng rộng rãi thiết bị đầu cuối như điện thoạithông minh (smartphone) trong dân cư trên toàn thế giới
Hạ tầng công nghệ có thể chia thành 2 loại chủ yếu:
Và nó được sử dụng cho nhu cầu lưu trữ và xử lý dữ liệu trong một mạng máy tính hoặc trênmôi trường internet Máy chủ là nền tảng của mọi dịch vụ trên internet, bất kỳ một dịch vụ nàotrên internet như website, ứng dụng, trò chơi,… muốn vận hành cũng đều phải thông qua mộtmáy chủ nào đó
Một chương trình máy tính hoạt động như một dịch vụ để phục vụ những nhu cầu hay nhữngyêu cầu từ những chương trình khác (từ các máy tính khác, được hiểu theo ngôn ngữ chuyênmôn là client) Chương trình trên máy chủ và các chương trình của máy con có thể cùng hoạtđộng chung trên một máy tính hoặc trên nhiều máy tính khác nhau
Trang 28Một máy tính có thể cung cấp một hay nhiều dịch vụ để phục vụ nhu cầu cho những máy tínhkhác trên cùng một hệ thống mạng.
Một hệ thống phần mềm hay phần cứng như máy chứa cơ sở dữ liệu (database server), máy chủchứa các tập thông tin (file server), máy chủ thư điện tử (mail server)
- Hệ thống Máy chủ - Máy khách (Client - Server)
Mô hình client-server là một mô hình nổi tiếng trong mạng máy tính, được áp dụng rất rộng rãi
và là mô hình của mọi trang web hiện có Ý tưởng của mô hình này là máy con (đóng vài trò làmáy khách) gửi một yêu cầu (request) để máy chủ (đóng vai trò người cung ứng dịch vụ), máychủ sẽ xử lý và trả kết quả về cho máy khách
Một mô hình ngược lại là mô hình master-slaver, trong đó máy chủ (đóng vai trò ông chủ) sẽgửi dữ liệu đến máy con (đóng vai trò nô lệ) bất kể máy con có cần hay không
Một chương trình được coi là client khi nó gửi các yêu cầu tới máy có chương trình server vàchờ đợi câu trả lời từ server Chương trình server và client nói chuyện với nhau bằng các thôngđiệp (messages) thông qua một cổng truyền thông liên tác IPC (Interprocess Communication)
Để một chương trình server và một chương trình client có thể giao tiếp được với nhau thì giữachúng phải có một chuẩn để nói chuyện, chuẩn này được gọi là giao thức Nếu một chương trìnhclient nào đó muốn yêu cầu lấy thông tin từ server thì nó phải tuân theo giao thức mà server đóđưa ra Bản thân chúng ta khi cần xây dựng một mô hình client/server cụ thể thì ta cũng có thể
tự tạo ra một giao thức riêng nhưng thường chúng ta chỉ làm được điều này ở tầng ứng dụng củamạng Với sự phát triển mạng như hiện này thì có rất nhiều giao thức chuẩn trên mạng ra đờinhằm đáp ứng nhu cầu phát triển này Các giao thức chuẩn (ở tầng mạng và vận chuyển) được
sử dụng rộng rãi nhất hiện nay như: giao thức TCP/IP, giao thức SNA của IBM, OSI, ISDN,X.25 hoặc giao thức LAN-to-LAN NetBIOS Một máy tính chứa chương trình server được coi
là một máy chủ hay máy phục vụ (server) và máy chứa chương trình client được coi là máy tớ(client) Mô hình mạng trên đó có các máy chủ và máy tớ giao tiếp với nhau theo 1 hoặc nhiềudịch vụ được gọi là mô hình client/server Thực tế thì mô hình client/server là sự mở rộng tựnhiên và tiện lợi cho việc truyền thông liên tiến trình trên các máy tính cá nhân Mô hình nàycho phép xây dựng các chương trình client/server một cách dễ dàng và sử dụng chúng để liêntác với nhau để đạt hiệu quả hơn
Trang 29b) Điện thoại di động (Smarphone)
Điện thoại thông minh hay smartphone (tiếng Anh: smartphone) là khái niệm để chỉ loại điệnthoại di động thích hợp một nền tảng hệ điều hành di động với nhiều tính năng hỗ trợ tiên tiến
về điện toán và có khả năng kết nối với nhiều thiết bị điện tử hiện đại như TV thông minh, máytính, robot, nhà thông minh, tích hợp hoặc trí thông minh nhân tạo, dựa trên nền tảng cơ bảncủa điện thoại di động thông thường (điện thoại phổ thông) (tiếng Anh: feature phone)
Khái niệm smartphone ra mắt từ những năm 2003–2005 Ban đầu điện thoại thông minh baogồm các tính năng của điện thoại di động thông thường kết hợp với các thiết bị phổ biến khácnhư PDA, thiết bị điện tử cầm tay, máy ảnh kỹ thuật số, hệ thống định vị toàn cầu GPS Điệnthoại thông minh hiện đại ngày nay bao gồm hầu như tất cả chức năng của laptop, máy tính nhưduyệt web, Wi-Fi, đồ họa, văn phòng, chơi game, chụp ảnh, quay phim, video call, định vị toàncầu, trợ lý ảo, các ứng dụng của bên thứ 3 trên Kho ứng dụng di động và các phụ kiện đi kèmcho máy Thậm chí một số smartphone cao cấp còn đóng vai trò như một món đồ trang sức đắttiền, tô điểm cho người chủ nhân
Trong lịch sử đã từng có nhiều nền tảng hệ điều hành di động cũng như nhiều phong cách thiết
kế được sinh ra và bị khai tử Năm 2007, với sự ra đời của chiếc iPhone thế hệ đầu tiêncủa Apple với màn hình cảm ứng điện dung, iPhone đã được coi là sự định hình cho kiểu dángthiết kế điện thoại thông minh hiện đại
Trang 30+ Cáp đồng trục là loại cáp điện với một lõi dẫn điện được bọc lại bởi một lớp điện môi khôngdẫn điện, chung quanh quấn thêm một lớp bện kim loại, ngoài cùng lại có vỏ bọc cách điện.
Từ đồng trục đến từ việc tất cả các lớp cáp đều dùng chung một trục hình học Cáp đồng trụcđược nhà toán học và kỹ sư người Anh Oliver Heaviside phát minh, bằng sáng chế được cấpnăm 1880
Cáp đồng trục thường dùng làm đường truyền cho tín hiệu vô tuyến Ứng dụng của nó bao gồmcác đường cấp giữa thiết bị thu phát sóng vô tuyến và ăng ten của chúng, các kết nối mạng máytính, và làm cáp truyền hình Một ưu điểm của cáp đồng trục là tín hiệu số truyền trên cáp chỉtồn tại bên trong lõi cáp Nhờ đó người ta có thể lắp cáp bên cạnh các vật liệu kim loại màkhông sợ thất thoát năng lượng thường xảy ra với các loại cáp cũ hơn Tín hiệu trong cáp đồngtrục cũng không bị gây nhiễu từ các nguồn bên ngoài Cáp đồng trục theo lý thuyết có độ suyhao 200m nhưng trong thực tế là 50m
+ Cáp quang là một loại cáp viễn thông làm bằng thủy tinh hoặc nhựa, sử dụng ánh sáng đểtruyền tín hiệu
Cáp quang dài, mỏng thành phần của thủy tinh trong suốt bằng đường kính của một sợi tóc.Chúng được sắp xếp trong bó được gọi là cáp quang và được sử dụng để truyền tín hiệu trongkhoảng cách rất xa Không giống như cáp đồng truyền tín hiệu bằng điện, cáp quang ít bị nhiễu,tốc độ cao (đây là tốc độ truyền dữ liệu, phân biệt với tốc độ tín hiệu) và truyền xa hơn
Cáp quang có cấu tạo gồm dây dẫn trung tâm là sợi thủy tinh hoặc plastic đã được tinh chếnhằm cho phép truyền đi tối đa các tín hiệu ánh sáng Sợi quang được tráng một lớp lót nhằmphản chiếu tốt các tín hiệu
Cáp quang gồm các phần sau:
Core: Trung tâm phản chiếu của sợi quang nơi ánh sáng đi
Cladding: Vật chất quang bên ngoài bao bọc lõi mà phản xạ ánh sáng trở lại vào lõi
Buffer coating: Lớp phủ dẻo bên ngoài bảo vệ sợi không bị hỏng và ẩm ướt
Jacket: Hàng trăm hay hàng ngàn sợi quang được đặt trong bó gọi là Cáp quang Những bó nàyđược bảo vệ bởi lớp phủ bên ngoài của cáp được gọi là jacket
- Đường truyền viễn thông
Viễn thông là việc truyền dẫn thông tin giao tiếp qua một khoảng cách đáng kể để về địa lý
Vào thời xưa, viễn thông gồm việc dùng các tín hiệu hình ảnh, chẳng hạn như đèn hiệu, tín hiệukhói, điện báo semaphore, tín hiệu cờ, quang báo, hoặc tin nhắn âm thanh như tiếng trống, tiếng
tù và, tiếng còi
Thời hiện đại, viễn thông là việc dùng các thiết bị điện như máy điện báo, điện thoại, máy telex,cũng như dùng thông tin liên lạc vi ba, vô tuyến, sợi quang và kết hợp với vệ tinh thôngtin và Internet
Cuộc cách mạng trong ngành viễn thông không dây bắt đầu vào thập niên 1900 với những pháttriển tiên phong trong lĩnh vực vô tuyến và thông tin liên lạc không dây nhờ NikolaTesla và Guglielmo Marconi Marconi đã giành giải Nobel Vật lý năm 1909 cho những nỗ lựccủa ông Các nhà phát minh và phát triển tiên phong đáng chú ý khác trong lĩnh vực điện và
Trang 31điện tử gồm Charles Wheatstone và Samuel Morse (điện báo), Alexander Graham Bell (điệnthoại), Edwin Armstrong, và Lee de Forest (vô tuyến), cũng như John Logie Baird và PhiloFarnsworth (truyền hình).
Dung lượng hiệu dụng của thế giới để trao đổi thông tin qua mạng viễn thông hai chiều đã tăng
từ 281 petabyte thông tin (đã nén tối ưu) năm 1986 lên 471 petabyte vào năm 1993, và tới2,2 exabyte (đã nén tối ưu) vào năm 2000, cho đến năm 2007 thì lên tới 65 exabyte (đã nén tốiưu) Lượng thông tin này tương đương với 2 trang báo cho mỗi người trong một ngày vào năm
1986 và toàn bộ 6 tờ báo cho mỗi người một ngày vào năm 2007 Với sự tăng trưởng này, viễnthông đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế thế giới và doanh thu của ngànhcông nghiệp viễn thông toàn cầu
d) Hệ thống lưu trữ dữ liệu thông tin
Các thiết bị lưu trữ dữ liệu và bộ nhớ là những thiết bị dùng để đáp ứng nhu cầu giải quyếtcông việc Ngoài ra, nó còn được dùng để lưu trữ dữ liệu tránh tình trạng mất dữ liệu hoặcnhững trường hợp không may xảy ra
- Các thiết bị lưu trữ
Thiết bị lưu trữ là một phần không thể thiếu cho một chiếc máy tính, chúng lưu trữ hầu hết tất
cả các dữ liệu và các ứng dụng trên một máy tính Thiết bị lưu trữ được sử dụng để lưu trữ,chuyển và giải nén các tập tin dữ liệu của các đối tượng, nó vừa giữ lưu thông tin tạm thời vừavĩnh viễn
- Các thiết bị lưu trữ
Thiết bị lưu trữ thứ cấp là thiết bị lưu trữ dữ liệu lâu dài, dữ liệu không bị mất đi sau khi tắtmáy gồm có: Ổ cứng, ổ cứng trong, ổ cứng di động hay bộ nhớ thể rắn và đĩa quang
- Ổ cứng trong là loại ổ cứng được tích hợp sẵn trong đơn vị hệ thống và có hai loại chuẩn kếtnối thông dụng là IDE với tốc độ 100MB/s và SATA Nó cải thiện hơn so với IDE tốc độ 150-
Trang 32300MB Có dung lượng và tốc dộ cao hơn so với ổ cứng di động thường được dùng để lưu trữ
hệ điều hành Các chương trình và dữ liệu thường xuyên được sử dụng
- Ổ cứng di động là loại ổ cứng cắm ngoài máy, có kích cỡ nhỏ gọn Chúng thường được kết nốivới máy thông qua USB và có dung lượng từ 100GB đến 2TB So với ổ cứng trong thì tốc độtruy cập chậm hơn
- Bộ nhớ thể rắn (SSD) là thiết bị lưu trữ dữ liệu không chứa bộ phận chuyển động đầu đọc đĩa
Ổ cứng thể rắn được tạo từ các bộ thể rắn chúng tiết kiệm điện năng hơn, bền hơn và thườngđược sử dụng trong các máy Laptop, Notebook và Netbook
- Đĩa quang là thiết bị lưu trữ sử dụng công nghệ Laser khắc vào bề mặt đĩa để biểu diễn dữ liệuqua các Track và Sector gồm có 3 loại cơ bản là CD, DVD, HD hay Blue Ray, và để đọc đượcđĩa quang thì phải sử dụng ổ đĩa quang
Các thiết bị lưu trữ chính là những thiết bị được sử dụng để giữ/lưu trữ dữ liệu và các ứng dụngtạm thời, hoặc trong một thời gian ngắn trong máy tính đang chạy Chúng có tốc độ truy cập dữliệu nhanh nhất và bao gồm bộ nhớ RAM và bộ nhớ Cache
e) Các thiết bị khác
- Bàn phím máy tính
Bàn phím máy tính là một thiết bị kiểu máy chữ sử dụng cách sắp xếp các nút hoặc phím bấm
để hoạt động như đòn bẩy cơ học hoặc công tắc điện tử Sau sự suy giảm của thẻ đục lỗ và bănggiấy, tương tác qua bàn phím kiểu teleprinter trở thành phương thức nhập liệu chính cho máytính
Để sử dụng được web, cần có: Mạng internet, intranet hay extranet; Ngôn ngữ siêu văn bản(Hypertext mark-up language) – đó là tập hợp các ký hiệu và mã đánh dấu (mark-up symbol orcodes) trong một tệp giúp người đọc, đọc được web; Giao thức truyền tệp (file transfer
Trang 33protocol); Giao thức truyền siêu văn bản (Hypertext transfer protocol); Phần mềm trình duyệtWeb (Netscape, Internet Explorer, Opera)
Một trang Web có thể bao gồm: chữ, hình ảnh, video, âm thanh và đường links Trang web gồmtrang chủ (homepages) và các trang nội dung (main pages)
Lợi thế của website
- Màu sắc đa dạng và có thể truyền tải thông điệp dưới dạng chữ, hình ảnh, âm thanh
- Tương tác giữa người cung cấp thông tin và người sử dụng, tra cứu thông tin và có thể cungcấp nhanh thông tin phản hồi
- Dễ dàng phản hồi cho các chương trình khuyếch trương
- Luôn sẵn sàng theo mô hình 24/7/365
- Là công cụ hỗ trợ khách hàng thuận tiện nhất
- Tiết kiệm nguồn nhân lực từ việc sử dụng chuyên mục “Frequent Asked questions”
- Có thể nhắm vào thị trường địa phương và thị trường quốc tế và có thể tiếp cận được thịtrường toàn cầu
- Chi phí sản xuất và duy trì thấp
- Thời gian quay vòng nhanh
- Tiếp cận được một thị trường có đẳng cấp
- Tự động thu thập thông tin người tiêu dùng giúp cho quá trình tiếp thị sản phẩm/dịch vụ củadoanh nghiệp
- Giảm bớt ô nhiễm môi trường so với kinh doanh truyền thống
Những điểm cần lưu ý khi thiết kế website
- Xác định mục đích nội dung thông tin
- Đưa ra các mục tiêu, tiêu chí đánh giá hoạt động cho trang web
- Tổ chức nội dung
- Tiêu đề của các trang web
- Chiều dài của trang, cách thức bố trí thông tin trên một trang
- Font chữ, kích cỡ chữ; Sử dụng kết nối; Đồ họa
- Phần mềm, phần cứng liên quan đến tốc độ download thông tin trên website, duyệt web
- Quá trình truy cập thông tin trên web, việc sử dụng mầu sắc, cách thức bố trí thông tin, cách thức kết nối thông tin
Thiết lập trang web
- Các bước cần thiết khi thực hiện thiết kế trang web:
+ Cần làm sáng tỏ các quan hệ giữa các tư liệu
+ Thiết kế và định dạng các tư liệu
+ Thiết kế phiên bản với các siêu liên kết
+ Xác định phương pháp lưu trữ về trang web
+ Công bố trang web
+ Duy trì, bảo dưỡng hiện trường sao cho thông tin luôn được cập nhật
Trang 34+ Có rất nhiều ngôn ngữ và chương trình dùng để thiết lập web như HTML, ASP, XML,
Javascript và frontpage hay Dreamweaver
b) Hệ điều hành
Hệ điều hành (tiếng Anh: Operating System - OS) là một phần mềm chạy trên máy tính và cácthiết bị di động, dùng để điều hành, quản lý các thiết bị phần cứng và các tài nguyên phầnmềm trên máy tính và các thiết bị di động
Hệ điều hành đóng vai trò trung gian trong việc giao tiếp giữa người sử dụng và phần cứng máytính, cung cấp một môi trường cho phép người sử dụng phát triển và thực hiện các ứng dụng của
họ một cách dễ dàng
Các máy tính ban đầu không có hệ điều hành Người điều hành sẽ tải và chạy chương trình mộtcách thủ công Khi chương trình được thiết kế để tải và chạy chương trình khác, nó đã thay thếcông việc của con người
Thuật ngữ "hệ điều hành" được dùng gần đây chỉ tới một phần mềm cần thiết để người dùngquản lý hệ thống và chạy các phần mềm ứng dụng khác trên hệ thống Nó không chỉ có nghĩa là
"phần lõi" tương tác trực tiếp với phần cứng mà còn cả các thư viện cần thiết để các chươngtrình quản lý và điều chỉnh hệ thống
Không có sự phân biệt rõ ràng giữa phần mềm ứng dụng và hệ điều hành
Tuy nhiên, đôi khi vấn đề này cũng được tranh cãi Thí dụ trường hợp Bộ Tư pháp
Mỹ và Microsoft tranh cãi Internet Explorer có phải là một phần của Windows không
Cấp thấp nhất của hệ điều hành là phần lõi (còn gọi là nhân), lớp phần mềm đầu tiên được tảivào hệ thống khi khởi động Các phần mềm được tải tiếp theo phụ thuộc vào nó sẽ cung cấp cácdịch vụ cốt lõi cho hệ thống Những dịch vụ phổ biến là truy xuất đĩa, quản lý bộ nhớ, định thời,
và truy xuất tới thiết bị phần cứng Có nhiều tranh cãi về những thành phần nào tạo nên phầnlõi, như hệ thống tập tin có được đưa vào phần lõi không
Chức năng chính yếu của Hệ điều hành:
* Quản lý chia sẻ tài nguyên
Tài nguyên của hệ thống (CPU, bộ nhớ, thiết bị ngoại vi, ) vốn rất giới hạn, nhưng trong các hệthống đa nhiệm, nhiều người sử dụng có thể đồng thời yêu cầu nhiều tài nguyên Để thỏa mãnyêu cầu sử dụng chỉ với tài nguyên hữu hạn và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, hệ điềuhành cần phải có cơ chế và chiến lược thích hợp để quản lý việc phân phối tài nguyên
Ngoài yêu cầu dùng chung tài nguyên để tiết kiệm chi phí, người sử dụng còn cần phải chia sẻthông tin (tài nguyên phần mềm) lẫn nhau, khi đó hệ điều hành cần đảm bảo việc truy xuất đếncác tài nguyên này là hợp lệ, không xảy ra tranh chấp, mất đồng nhất,
Trang 35Ngoài ra có thể chia chức năng của Hệ điều hành theo bốn chức năng sau:
* Quản lý quá trình (process management)
* Quản lý bộ nhớ (memory management)
* Quản lý hệ thống lưu trữ
* Giao tiếp với người dùng (user interaction)
c) Hệ thống mạng
c.1 Mạng website nội bộ (intranet)
Intranet hay mạng web nội bộ là một hệ thống hạ tầng mạng để phục vụ nhu cầu chia sẻ thôngtin trong nội bộ công ty bằng việc sử dụng nguyên lý và công cụ của website
Mạng Intranet là mạng máy tính cục bộ dành cho các doanh nghiệp liên kết với khách hàng theotiêu chuẩn của Internet, các doanh nghiệp sử dụng mạng để quản lý trong nội bộ doanh nghiệp
và liên kết với bên ngoài
Tính chất quan trọng của Intranet là phải có kế hoạch để bảo vệ thông tin nội bộ, không chophép những người không được phép truy nhập cơ sở dữ liệu của mình Có nhiều cách ngăn chặnnhư dùng mật khẩu, các biện pháp mã hoá hay bức tường lửa (nhưng bức tường lửa rất khóngăn chặn “người nhà”) Một biện pháp bảo vệ hữu hiệu truyền thống là chính sách và hệ thốngquyết định cho ai được vào lĩnh vực dữ liệu nào
và giấy chứng nhận sử dụng kỹ thuật số hoặc phương tiện tương tự như xác thực người dùng,
mã hóa tin nhắn và sử dụng mạng riêng ảo (VPN) đường hầm thông qua các mạng công cộng
- Ưu điểm
Trao đổi khối lượng lớn dữ liệu nhờ trao đổi dữ liệu điện tử (EDI);
Độc quyền chia sẻ sản phẩm với các đối tác;
Hợp tác với các công ty khác để nỗ lực phát triển chung;
Cùng nhau phát triển và sử dụng các chương trình đào tạo với các công ty khác;
Cung cấp hoặc truy cập vào các dịch vụ được cung cấp bởi một công ty với một nhóm các công
ty khác
- Nhược điểm
Trang 36Extranet có thể tốn kém để thực hiện và duy trì trong một tổ chức (ví dụ, phần cứng, phần mềm,chi phí đào tạo nhân viên), nếu tổ chức trong nội bộ chứ không phải là một nhà cung cấp dịch
Hệ thống này truyền thông tin theo kiểu nối chuyển gói dữ liệu (packet switching) dựa trên một
giao thức liên mạng đã được chuẩn hóa (giao thức IP)
Hệ thống này bao gồm hàng ngàn mạng máy tính nhỏ hơn của các doanh nghiệp, của các việnnghiên cứu và các trường đại học, của người dùng cá nhân và các Chính phủ trên toàn cầu.Các sản phẩm số hóa được chuyển từ địa chỉ người gửi đến địa chỉ người nhận thông qua đườngtruyền và hệ thống kết nối mạng internet
Cách truyền:
Các sản phẩm số hóa (dữ liệu) được chia thành các gói nhỏ nhờ vào giao thức TCP(Transmission Control Protocol-gt kiểm soát) được đánh dấu theo thứ tự và địa chỉ nơi nhận.Nhờ IP (Internet Protocol- gt truyền tải), các gói nhỏ dữ liệu được gửi đến máy chủ từ xa quamạng internet Tại đó các gói dữ liệu nhỏ được sắp xếp lại theo đúng thứ tự đánh số và trở thànhthông tin hoàn chỉnh cần gửi
d) Các ứng dụng trong thương mại điện tử
Một số ứng dụng chung nhất liên quan đến thương mại điện tử được liệt kê dưới đây:
Tài liệu tự động hóa ở chuỗi cung ứng và hậu cần
Hệ thống thanh toán trong nước và quốc tế
Quản lý nội dung doanh nghiệp
Trang 37e) Cơ sở dữ liệu
Dữ liệu điện tử: là tất cả các mục thông tin, văn bản, hình ảnh, âm thanh hoặc sự kết hợp giữa
chúng được lưu giữ bằng các phương tiện điện tử
Ví dụ: Văn bản; Hình ảnh; Âm thanh; Video
Định nghĩa Cơ sở dữ liệu (viết tắt CSDL; tiếng Anh là database) của từ điển Oxford: Một tập
hợp có cấu trúc của dữ liệu được lưu trong máy tính, theo một cách đặc biệt nào đó có thể đượctiếp cận theo những cách khác nhau
Cơ sở dữ liệu là một hệ thống dữ liệu điện tử có cấu trúc được kiểm soát và truy cập thông qua
máy tính dựa vào những mối quan hệ giữa các dữ liệu về kinh doanh, tình huống và vấn đề đãđược định nghĩa trước
Ví dụ: Cơ sở dữ liệu về tồn kho, đơn đặt hàng, hóa đơn vận chuyển, khách hàng, người laođộng
Có nhiều khái niệm khác nhau, tuy nhiên, ta có thể tóm tắt một số điểm chung của CSDL là:
- Tập hợp thông tin có cấu trúc
- Được quản lý và duy trì phục vụ khai thác thông tin
- Có thể phục vụ nhiều đối tượng khai thác với nhiều cách thức khác nhau
- Có nhiều giải pháp khác nhau để xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu
Các loại cơ sở dữ liệu
- Cơ sở dữ liệu quan hệ
- Cơ sở dữ liệu đa chiều
- Kho cơ sở dữ liệu
- Cơ sở dữ liệu văn bản
- Tài liệu siêu văn bản
- Cơ sở dữ liệu hình ảnh
- Cơ sở dữ liệu đa phương tiện và Web
Phân loại cơ sở dữ liệu
* Theo cấu trúc:
- Cơ sở dữ liệu có cấu trúc (structured database):
- Cơ sở dữ liệu phi cấu trúc (unstructured database):
- Cơ sở dữ liệu bán cấu trúc (semi-structured database):
* Phân loại theo hình thức lưu trữ, mô hình tổ chức
- Cơ sở dữ liệu dạng tệp (file database)
- Cơ sở dữ liệu quan hệ (relational database):
- Cơ sở dữ liệu phân cấp (herachical database):
* Phân loại theo đặc tính sử dụng
- Cơ sở dữ liệu hoạt động (operational databases)
- Cơ sở dữ liệu kho (data warehouse):
- Cơ sở dữ liệu ngữ nghĩa (semantic database)
* Phân loại theo mô hình triển khai
Trang 38- Cơ sở dữ liệu tập trung (centralized database):
- Cơ sở dữ liệu phân tán (distributed database)
Hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu (DBMSs- Database Management System)
DBMSs là một tập hợp các chương trình sử dụng để định nghĩa cơ sở dữ liệu, thực hiện giaodịch dùng để cập nhật dữ liệu, lấy dữ liệu từ cơ sở dữ liệu và thiết lập cơ sở dữ liệu một cách cóhiệu quả
DBMSs cung cấp nhiều tính năng giúp phân tích dữ liệu, tăng cường khả năng truy cập dữ liệu,
bố trí tổ chức dữ liệu
Cơ sở dữ liệu khách hàng
- Cơ sở dữ liệu khách hàng là một cơ sở dữ liệu về khách hàng hoặc những khách hàng tươnglai được sử dụng cho mục đích marketing như tăng khả năng bán hàng, tăng lượng bán hànghoặc duy trì quan hệ khách hàng
- Công ty sử dụng cơ sở dữ liệu khách hàng cho các mục đích:
+ Nhận biết khách hàng tiềm năng;
+ Xác định chương trình chào hàng đặc biệt cho một số đối tượng khách hàng;
+ Tăng cường uy tín khách hàng;
+ Duy trì khách hàng
1.4 Các hình thức hoạt động và mô hình chủ yếu của kinh doanh thương mại điện tử
1.4.1 Các hình thức hoạt động chủ yếu của kinh doanh thương mại điện tử
1.4.1.1 Thư điện tử (E-mail)
Các công ty, các cơ quan Nhà nước, các cá nhân sử dụng thư điện tử để gửi thư hay thông tincho nhau một cách “trực tuyến” thông qua mạng, gọi là thư điện tử (electronic mail, viết tắt là e-mail) Thông tin trong thư điện tử không phải tuân theo một cấu trúc định trước nào
Đối với nhiều người sử dụng Internet, email là khía cạnh quan trọng nhất và là một phương tiệnđược người ta sử dụng nhiều nhất Các thông báo email có thể giống như các biên bản ghi nhớhơn là thư bưu điện Một thông báo có thể dễ dàng được sao chép sang những người sử dụngkhác Và khi nhận được một thông báo đến, người sử dụng có thể đính kèm thư trả lời của mìnhvào nó hoặc chuyển nó sang một người thứ ba Người sử dụng cũng có thể đính kèm các tài liệu
và các files đồ họa vào các thông báo email
Sở dĩ email được ưu ái như vậy là bởi vì nó mang lại sự thuận tiện, nhanh chóng, rẻ tiền cùngvới sự tin cậy cho người sử dụng Thật vậy, khi người sử dụng gửi một thông báo nào đó,thường nó sẽ được gửi đi ngay lập tức và hầu như không tốn chi phí nào cả hoặc nếu có thì rấtnhỏ Các phần đính kèm có thể làm giảm đi tốc độ các hoạt động trên mạng khác của người sửdụng, nhưng dù sao sử dụng email cũng là một cách rẻ tiền để gửi đi các tài liệu Thêm vào đó,cần phải nói thêm rằng email là tương đối đáng tin cậy Thường thì email rất ít khi gặp sự cốtrong việc truyền tải thông tin Nếu người sử dụng phạm một sai sót nào đó trong khi gửi thôngbáo thì nó sẽ gửi trả lại người sử dụng thông báo đó, trừ khi việc sai sót trong khi điền địa chỉnhận đã biến nó thành một địa chỉ thật của một người sử dụng khác
Trang 39Ngày nay, mỗi cá nhân có thể dùng email từ nhiều nguồn: hoặc là dùng email miễn phí của cácnhà cung cấp tài khoản email miễn phí hoặc nếu cá nhân đó có website riêng thì họ có thể tạocho mình những email có địa chỉ tên miền (domain) là tên miền của website của mình Bằngcách này, cá nhân hoặc công ty đã tận dụng được cơ hội tốt để quảng bá tên miền của websitecủa mình Có thể nói, thư điện tử là phương tiện phổ biến nhất trên Internet Chỉ cần nhìn vàohoạt động của Internet là thấy đủ tất cả Nó đã bùng nổ cả về kích cỡ và việc sử dụng Nó cũng
đã bùng nổ cả trong việc lạm dụng Điều quan trọng đối với nhà kinh doanh thương mại điện tử
là cần thực hành marketing thư điện tử trong khuôn khổ đạo đức; nghĩa là không biến chúngthành những thông điệp rác
Đặc biệt đối với hầu hết các công ty nhỏ của Việt Nam, các chiến dịch marketing qua thư điện
tử trên cơ sở khách hàng cho phép là cách thức hiệu quả và dễ nhớ nhất trong việc tiếp cậnkhách hàng mục tiêu Việc này có thể bao gồm các bản tin điện tử hay thông điệp tùy biến cóđịnh hướng
Marketing trên cơ sở thư điện tử có thể là công cụ để tạo lập thương hiệu, phản hồi trực tiếp vàxây dựng mối quan hệ với các khách hàng Đây là một công cụ rẻ, dễ sử dụng và gần như tất cảnhững người lướt web đều có địa chỉ thư điện tử
Marketing trên cơ sở thư điện tử có nghĩa là tất cả những thư điện tử gửi tới các khách hàngtiềm năng Việc này bao gồm gửi thư điện tử mang tính quảng cáo trực tiếp tới các khách hàngtiềm năng quan tâm và cung cấp thông tin cho họ nhằm thu hút thêm khách hàng mới hoặc bánhàng cho các khách hàng cũ Cũng có thể sử dụng marketing qua thư điện tử để giữ liên lạc vớicác khách hàng, khuyến khích tạo dựng sự trung thành của khách hàng và củng cố thêm mốiquan hệ với họ
Có thể thực hiện việc này thông qua thông điệp thư điện tử trực tiếp, bản tin điện tử (e-zine) hayquảng cáo trực tuyến Một điểm khác nữa trong mối liên hệ này với hình thức marketing trên cơ
sở in ấn là ở chỗ chỉ được gửi thư điện tử đến khi được phép Một số hình thức marketing trên
cơ sở in ấn gây khó chịu và vì vậy bị khách hàng bỏ qua Một sự khác biệt nữa đó là marketingthông qua thư điện tử có thể mang tính phản hồi
Các nhà e-marketing thích sử dụng thư điện tử vì nó vận hành theo nguyên tắc sử dụng thờigian, năng lượng và trí tưởng tượng Gửi thư điện tử không tốn kém nhiều và gần như là khôngmất chi phí Thự điện tử có nhiều mục đích đáng giá Nếu sử dụng như “mồi câu” thì sự phảnhồi sẽ cao hơn thư bình thường Hãy giữ lời hứa và tuân theo các quy tắc Thực hiện điều đó sẽkhiến chúng ta luôn trở thành người chiến thắng trong marketing
Trước khi gửi thư điện tử cho các khách hàng mục tiêu, hãy lưu ý:
• Phát triển chiến lược cho chiến dịch của tổ chức, cũng giống như với chiến lược cho chiếndịch quảng cáo qua gửi thư trực tiếp
• Phát triển nội dung và bản sao Nhớ nguyên tắc AIDA (Chú ý - Quan tâm - Khát khao - Hànhđộng (Attention, Interest, Desire và Action)) và giá trị Lưu ý là khoảng thời gian chú ý của mộttrình duyệt web ngắn hơn nhiều so với bản in
• Hãy đảm bảo là danh sách có định hướng và được khách hàng cho phép
Trang 40• Đưa ra “mồi câu marketing” để có tỷ lệ phản hồi tốt hơn Đây có thể là thông tin, một bản báocáo, phần để tải, đĩa CD hoặc khóa học trực tuyến miễn phí.
• Đảm bảo là đang tìm kiếm khách hàng mục tiêu Họ có sử dụng Internet không? Các kháchhàng tiềm năng sẽ mua hàng còn những người không quan tâm sẽ phớt lờ
• Vạch kế hoạch để ước tính và tìm xem trình duyệt đến từ đâu
• Hiểu được họ làm gì khi họ đến với trang web Họ dừng lại ở những trang nào? Họ ở đó trongbao lâu? Họ nhấp chuột vào cái gì?
• Theo đuổi và hoạch định các thư điện tử tiếp theo Hãy nhớ là mất bao nhiêu thời gian để cóđược một khách hàng tiềm năng tới mua hàng của ta
• Có hệ thống chăm sóc khách hàng Nắm chính xác mình sẽ làm gì khi nhận được phản hồi đốivới việc marketing
Lưu ý đối với thư rác: Hình thức marketing qua thư điện tử có trách nhiệm dựa trên cơ sở kháchhàng cho phép Đây là vấn đề thuộc về luật pháp và đạo đức Quan điểm chung này có nghĩa làcần được người nhận thư điện tử cho phép trước khi gửi thư điện tử quảng bá sản phẩm haydịch vụ Nếu không được phép, những thư điện tử ta gửi không được phép gọi là thư rác Đừngbao giờ gửi thư rác Hiện nay, một số quốc gia đang có quy định pháp lý đối với các thư rác sốlượng lớn Những người làm marketing du kích cần chơi đúng luật Chẳng nên gửi các thư điện
tử mà không được sự cho phép của khách hàng
Kỹ thuật này không những giúp ta có thể tiếp cận được khách hàng tiềm năng, mà còn có thểgiữ liên lạc với những khách hàng hiện tại với nội dung được thiết kế nội dung mới lạ, hấp dẫn,nhằm cung cấp những thông tin mới về sản phẩm, dịch vụ hay chương trình khuyến mãi củacông ty Nếu so sánh với hình thức marketing trực tiếp truyền thông như gọi điện, gởi thư, thưđiện tử marketing giúp ta cắt giảm được khoản chi phí in ấn và tiếp cận khách hàng
Có được một cơ sở dữ liệu chất lượng, phù hợp với chương trình (ví dụ về độ tuổi, thu nhập,trình độ, v.v ), đồng thời hiểu rõ thói quen sử dụng thư điện tử của từng khu vực địa lý cũngnhư dự kiến trước những sự cố kỹ thuật phát sinh sẽ mang đến cho ta chiến dịch thư điện tửmarketing thành công
1.4.1.2 Thanh toán điện tử (Electronic payment)
Thanh toán điện tử là việc thanh toán tiền thông qua bức thư điện tử (electronic message) Ví dụnhư, trả lương bằng cách chuyển tiền trực tiếp vào tài khoản, trả tiền mua hàng bằng thẻ muahàng, thẻ tín dụng v.v thực chất đều là dạng thanh toán điện tử Ngày nay, với sự phát triểncủa thương mại điện tử, thanh toán điện tử đã mở rộng sang các lĩnh vực mới đó là:
a Trao đổi dữ liệu điện tử tài chính (Financial Electronic Data Interchange, gọi tắt là FEDI):
Chuyên phục vụ cho việc thanh toán điện tử giữa các công ty giao dịch với nhau bằng điện tử
b Tiền lẻ điện tử (Internet Cash):
Là tiền mặt được mua từ một nơi phát hành (ngân hàng hoặc một tổ chức tín dụng nào đó) Sau
đó được chuyển đổi tự do sang các đồng tiền khác thông qua Internet, áp dụng trong cả phạm vimột nước cũng như giữa các quốc gia; tất cả đều được thực hiện bằng kỹ thuật số hóa Vì thế