1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự " docx

7 754 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 131,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Cơ quan, tổ chức rút văn bản khởi kiện trong trường hợp không có nguyên đơn hoặc nguyên đơn yêu cầu không tiếp tục giải quyết vụ án Cơ quan dân số, gia đình và trẻ em hoặc Hội liên hiệ

Trang 1

ình chỉ giải quyết vụ án dân sự là

việc toà án quyết định chấm dứt giải

quyết vụ án dân sự nếu sau khi thụ lý vụ án

dân sự mà phát hiện ra một trong các căn

cứ pháp luật quy định Việc đình chỉ giải

quyết vụ án dân sự đúng đắn sẽ sớm chấm

dứt được việc giải quyết vụ án, tiết kiệm

được thời gian, tiền của của đương sự và

của Nhà nước Tuy nhiên, nếu việc đình

chỉ giải quyết vụ án dân sự không đúng sẽ

không bảo đảm được việc bảo vệ quyền,

lợi ích hợp pháp của đương sự Vì vậy, vấn

đề xác định rõ được căn cứ và hậu quả của

đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có tầm

quan trọng đặc biệt

1 Căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án

dân sự

Trên cơ sở kế thừa và phát triển các

quy định tại Điều 46 Pháp lệnh thủ tục giải

quyết các vụ án dân sự năm 1989, Điều 39

Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh

tế năm 1994 và Điều 41 Pháp lệnh thủ tục

giải quyết các tranh chấp lao động năm

1996, Điều 192 BLTTDS quy định khá cụ

thể, chi tiết các căn cứ của việc đình chỉ

giải quyết vụ án dân sự Theo đó, các căn

cứ của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân

sự bao gồm:

1.1 Những căn cứ phát sinh sau khi

toà án đã thụ lý vụ án (khoản1 Điều 192

BLTTDS)

- Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân

đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế

Những quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn, bị đơn là cá nhân không được thừa

kế là những quyền và nghĩa vụ gắn liền

với nhân thân của họ Ví dụ, trong vụ án

yêu cầu cấp dưỡng khi ly hôn mà một bên

vợ hoặc chồng chết thì quyền được cấp dưỡng hoặc nghĩa vụ phải cấp dưỡng không được thừa kế

Tuy nhiên, cũng cần phải phân biệt trường hợp này với trường hợp đương sự là

cá nhân đang tham gia tố tụng chết mà quyền, nghĩa vụ tài sản của họ được thừa

kế thì người thừa kế tham gia tố tụng (khoản 1 Điều 62 BLTTDS) Người thừa

kế của đương sự được xác định theo các quy định về thừa kế của Bộ luật dân sự

Nếu trong trường hợp có nhiều người thừa

kế của đương sự thì tất cả những người thừa kế tham gia tố tụng hoặc họ phải thoả thuận với nhau bằng văn bản để cử người đại diện tham gia tố tụng Trường hợp tất

cả người thừa kế đều từ chối nhận di sản hoặc không có người thừa kế hoặc có người thừa kế nhưng người thừa kế không được hưởng thì di sản thuộc về Nhà nước, sau khi thực hiện việc thanh toán các nghĩa

vụ theo thứ tự ưu tiên quy định tại Điều

686 Bộ luật dân sự Trong các trường hợp

Đ

* Giảng viên Khoa luật dân sự Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

này toà án vẫn tiến hành giải quyết vụ án

- Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc

bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân,

cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa

vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó

Đây là trường hợp nguyên đơn, bị đơn

là cơ quan, tổ chức đang tham gia tố tụng

bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà

không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế

thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan,

tổ chức đó

Tuy nhiên, trong trường hợp đương sự

là cơ quan, tổ chức đang tham gia tố tụng

bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà có

cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền,

nghĩa vụ tố tụng thì cá nhân, cơ quan, tổ

chức kế thừa quyền, nghĩa vụ tham gia tố

tụng và toà án vẫn tiếp tục giải quyết vụ

án Cụ thể:

+ Trường hợp tổ chức đã bị giải thể

hoặc bị tuyên bố phá sản là loại hình tổ

chức chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn

như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm

hữu hạn (điểm a khoản 1 Điều 26; điểm b

khoản 1 Điều 51 Luật doanh nghiệp),

doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp

100% vốn đầu tư nước ngoài (Điều 6,

Điều 15 Luật đầu tư nước ngoài tại Việt

Nam) thì cá nhân, tổ chức là thành viên tổ

chức đó khi tham gia tố tụng chỉ phải chịu

trách nhiệm tài sản tối đa bằng phần tài sản

còn lại của các tổ chức đó khi bị giải thể

hoặc bị tuyên bố phá sản nếu các cá nhân

và tổ chức thành viên này đã hoàn thành

nghĩa vụ đóng góp vốn theo quy định trong

điều lệ của doanh nghiệp Nếu có người

chưa hoàn thành nghĩa vụ góp vốn thì

người đó phải thực hiện nghĩa vụ này cả gốc

và lãi theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật doanh nghiệp và khoản 5 Điều 11a Nghị định

số 03/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 của Chính phủ (đã được sửa đổi bổ sung một số điều bằng Nghị định số 125/2004/NĐ-CP ngày 19/5/2004 của Chính phủ) Nếu tài sản còn lại của tổ chức bị tuyên bố phá sản hoặc bị giải thể chưa bị chia cho các thành viên thì nghĩa vụ tài sản được thực hiện từ toàn bộ số tài sản còn lại Nếu tài sản còn lại đã được chia cho các thành viên thì mỗi thành viên tham gia tố tụng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản của tổ chức bị chấm dứt hoạt động hoặc bị giải thể tương ứng với phần tài sản mà mình đã nhận

+ Trường hợp tổ chức bị giải thể hoặc

bị tuyên bố phá sản là công ty hợp danh thì

cá nhân, tổ chức là thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm tài sản về các nghĩa vụ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty còn các cá nhân là thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm tài sản về các nghĩa vụ tài sản của công ty bằng toàn

bộ tài sản của mình (điểm b,c khoản 1 Điều 95 Luật doanh nghiệp)

+ Trường hợp cơ quan, tổ chức bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản là cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội,

tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, doanh nhà nước thì đại diện hợp pháp của

cơ quan, tổ chức được giao tiếp nhận các quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó tham gia tố tụng

- Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và

Trang 3

được toà án chấp nhận hoặc người khởi

kiện không có quyền khởi kiện

Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền

khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của

pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp

pháp của mình hoặc bảo vệ quyền và lợi

ích hợp pháp của người khác Hành vi khởi

kiện của họ là cơ sở để toà án giải quyết vụ

án nhưng sau khi toà án thụ lý giải quyết

vụ án thì người khởi kiện rút đơn khởi kiện

và được toà án chấp nhận hoặc xác định

người khởi kiện không có quyền khởi kiện

làm cho cơ sở của việc giải quyết vụ án

không còn nữa

- Cơ quan, tổ chức rút văn bản khởi

kiện trong trường hợp không có nguyên

đơn hoặc nguyên đơn yêu cầu không tiếp

tục giải quyết vụ án

Cơ quan dân số, gia đình và trẻ em

hoặc Hội liên hiệp phụ nữ khởi kiện vụ án

dân sự theo quy định của Luật hôn nhân và

gia đình Việt Nam là cơ sở để toà án giải

quyết vụ án dân sự nhưng sau khi toà án đã

thụ lý vụ án các cơ quan, tổ chức này lại

rút lại văn bản khởi kiện do không có

nguyên đơn hoặc nguyên đơn không yêu

cầu tiếp tục giải quyết vụ án làm cho cơ sở

của việc giải quyết vụ án không còn nữa

- Các đương sự đã tự thoả thuận và

không yêu cầu toà án tiếp tục giải quyết

vụ án

Sau khi toà án đã thụ lý vụ án mà các

đương sự tự thoả thuận với nhau về việc

giải quyết vụ án và không yêu cầu toà án

tiếp tục giải quyết vụ án làm cho đối tượng

cần giải quyết trong vụ án không còn nữa

- Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ

đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt Nguyên đơn là người cho rằng quyền hay lợi ích của mình bị vi phạm do vậy đã khởi kiện hoặc được người khác khởi kiện

để bảo vệ quyền, lợi ích đó Vì vậy, nguyên đơn phải có mặt theo giấy triệu tập của toà án để thực hiện các biện pháp hợp pháp chứng minh cho yêu cầu của mình Tuy nhiên, nếu nguyên đơn đã được toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện

mà không cần xem xét đến việc vắng mặt của nguyên đơn có lý do chính đáng hay không có lý do chính đáng Quy định này khác với quy định trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động, trong hai pháp lệnh này đều quy định toà

án đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong

trường hợp: "Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng"

- Đã có quyết định của toà án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác

xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó

Trong quá trình toà án giải quyết vụ

án dân sự, nếu một trong các bên đương

sự trong vụ án là doanh nghiệp, hợp tác

xã đã có quyết định mở thủ tục phá sản thì các quyền, nghĩa vụ của các đương sự

sẽ được giải quyết thông qua thủ tục phá sản Vì vậy, toà án đang giải quyết vụ án

sẽ phải đình chỉ việc giải quyết vụ án dân

sự kể từ ngày toà án ra quyết định mở thủ

Trang 4

tục phá sản

1.2 Những căn cứ phát sinh trước khi

toà án thụ lý vụ án (khoản 2 Điều 192

BLTTDS)

Đây là những căn cứ đã phát sinh trước

khi toà án thụ lý vụ án, khi thụ lý vụ án

toà án phát hiện ra phải trả lại đơn khởi

kiện và các chứng cứ, tài liệu kèm theo

cho đương sự theo quy định tại Điều 168

BLTTDS Do vậy, sau khi thụ lý vụ án

mới phát hiện ra những căn cứ này thì toà

án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án

dân sự, xoá tên vụ án đó trong sổ thụ lý

và trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng

cứ kèm theo cho đương sự Những căn cứ

này bao gồm:

- Thời hiệu khởi kiện đã hết;

- Người khởi kiện không có quyền khởi

kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố

tụng dân sự;

- Sự việc đã được giải quyết bằng bản

án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của

toà án hoặc quyết định đã có hiệu lực của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ

trường hợp vụ án mà toà án bác đơn xin ly

hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức

cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc

vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi

nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà toà

án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều

kiện khởi kiện;

- Hết thời hạn được thông báo quy định

tại khoản 2 Điều 171 của BLTTDS mà

người khởi kiện không đến toà án làm thủ

tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp có lý do

chính đáng;

- Chưa có đủ điều kiện khởi kiện;

- Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án

2 Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết án dân sự

Khi có quyết định đình chỉ giải quyết

vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu toà giải quyết lại vụ án dân sự đó nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật tranh chấp, trừ các trường hợp quy định tại các điểm c, e và g khoản 1 Điều 192 của BLTTDS và các trường hợp pháp luật có quy định khác Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của toà án cấp sơ thẩm

có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm

Tiền tạm ứng án phí mà đương sự nộp được sung công quỹ nhà nước trong trường hợp toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại khoản

1 Điều 192 của BLTTDS Trong trường hợp toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại khoản

2 Điều 192 của BLTTDS thì tiền tạm ứng

án phí mà đương sự đã nộp được trả lại cho người đã nộp tiền tạm ứng án phí

3 Một số ý kiến về các quy định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự

Nghiên cứu các quy định của BLTTDS

về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, chúng tôi thấy một số bất cập sau:

- Trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện trước phiên toà sơ thẩm nhưng không được toà án chấp nhận thì toà án vẫn tiếp tục giải quyết vụ án mà không thể ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án theo

Trang 5

quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192

BLTTDS Tuy nhiên, khi toà án tiếp tục

giải quyết vụ án mà triệu tập nguyên

đơn đến lần thứ hai để tham gia mà

nguyên đơn vẫn vắng mặt thì toà án lại

phải ra quyết định đình chỉ việc giải

quyết vụ án theo quy định tại điểm e

khoản 1 Điều 192 BLTTDS

- Trước phiên toà sơ thẩm, nếu nguyên

đơn được toà án triệu tập hợp lệ đến lần

thứ hai mà vẫn vắng mặt thì toà án ra quyết

định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự

(điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS) Hậu

quả là toà án chấm dứt toàn bộ việc giải

quyết vụ án và tiền tạm ứng án phí mà

đương sự nộp sung vào công quỹ nhà nước

(khoản 1 Điều 193 BLTTDS) Quy định

như vậy là chưa hợp lý Bởi vì:

Thứ nhất, không chỉ nguyên đơn đưa ra

yêu cầu mà bị đơn có thể đưa ra yêu cầu

phản tố, người có quyền lợi nghĩa vụ liên

quan đưa ra yêu cầu độc lập Nếu như

nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến

lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ

bỏ việc khởi kiện, toà án không phải giải

quyết yêu cầu của nguyên đơn nữa nhưng

vẫn có yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu

của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

có yêu cầu độc lập trong vụ mà họ cũng đã

nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm

Do vậy, toà án cũng cần phải giải quyết

yêu cầu của họ mới bảo đảm sự bình đẳng

giữa các đương sự

Thứ hai, nếu trong vụ án có nhiều

nguyên đơn, mỗi nguyên đơn lại có yêu

cầu độc lập với bị đơn và họ đã nộp tiền

tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà một

nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt mà toà án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án thì sẽ ảnh hưởng đến việc bảo vệ quyền lợi của các nguyên đơn khác Hơn nữa, không chỉ nguyên đơn đưa ra yêu cầu là phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố cũng phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cũng phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, nếu chỉ do nguyên đơn không đến khi được toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà toà án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự (điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS) và xử lý sung vào công quỹ nhà nước toàn bộ số tiền tạm ứng án phí của đương sự đã nộp (khoản 2 Điều 193 BLTTDS) là chưa thoả đáng

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì có các quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn (khoản 2 Điều 61 BLTTDS) Trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đã được toà án sơ thẩm triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ

bỏ yêu cầu độc lập của mình và toà án ra quyết định đình giải quyết vụ án đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu nguyên đơn và bị đơn đều đồng ý Trong trường hợp toà án

ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu độc lập thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn (khoản 3 Điều 201 BLTTDS) Tuy nhiên, trường hợp nguyên

Trang 6

đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ

hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc

khởi kiện và toà án ra quyết định đình chỉ

việc giải quyết vụ án mà không cần bị đơn,

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có

yêu cầu độc lập đồng ý Trong trường hợp

này, toà án ra quyết định đình chỉ giải

quyết vụ án thì nguyên đơn có quyền khởi

kiện lại nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn

Các quy định này không bảo đảm sự bình

đẳng giữa các đương sự trong vụ án

- Tại phiên toà sơ thẩm mà đương sự

rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của

mình và việc rút yêu cầu của họ là tự

nguyện thì hội đồng xét xử chấp nhận và

đình chỉ việc xét xử đối với phần yêu cầu

hoặc toàn bộ yêu cầu đương sự đã rút

(khoản 2 Điều 218 BLTTDS) Trong

trường hợp này địa vị tố tụng của đương sự

có thể sẽ thay đổi như sau:

+ Nếu nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu

cầu khởi kiện nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên

yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trở

thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành

bị đơn (khoản 1 Điều 219 BLTTDS)

+ Nếu nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu

khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu

phản tố nhưng người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan có yêu cầu độc lập vẫn giữ

nguyên yêu cầu độc lập của mình thì

người có quyền lợi liên quan trở thành

nguyên đơn, người có nghĩa vụ đối với

yêu cầu độc lập trở thành bị đơn (khoản 2

Điều 219 BLTTDS)

Tuy nhiên, trước phiên toà sơ thẩm mà

nguyên đơn rút đơn khởi kiện là tự nguyện

và được toà án chấp nhận thì toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự (điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS) Vậy trong trường hợp này bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập họ vẫn giữ nguyên yêu cầu và họ

đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm vậy yêu cầu của họ lại không được giải quyết do vụ án đã bị chấm dứt Như vậy có thể thấy cùng một trường hợp nhưng việc giải quyết trước phiên toà và tại phiên toà

sơ thẩm là chưa thống nhất

- Trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện trước khi mở phiên toà hoặc tại phiên toà phúc thẩm thì hội đồng xét xử phải hỏi

bị đơn có đồng ý hay không Nếu bị đơn đồng ý thì hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn và hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án Trường hợp này các đương sự vẫn phải chịu án phí sơ thẩm theo quyết định của toà án cấp sơ thẩm và phải chịu một nửa án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật (khoản 1 Điều 269 BLTTDS) Tuy nhiên, nếu trong vụ án có sự tham gia của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

có yêu cầu cầu độc lập thì có cần sự đồng

ý của người này hay không khi nguyên đơn rút đơn khởi kiện ở trước hoặc tại phiên toà phúc thẩm thì BLTTDS lại không có quy định

Để khắp phục được những bất cập nêu trên, chúng tôi thấy rằng BLTTDS cần quy

Trang 7

định căn cứ và hậu quả của việc đình chỉ

việc giải quyết vụ án dân sự các theo

hướng sau đây:

- Đương sự đã được toà án triệu tập

hợp lệ mà vắng mặt có lý do chính đáng

lần thứ bao nhiêu cũng phải hoãn để triệu

tập lần thứ tiếp theo để bảo đảm quyền

tham gia của đương sự Tuy nhiên, nếu

đương sự được toà án triệu tập hợp lệ vắng

mặt không có lý do chính đáng lần thứ nhất

thì cần áp dụng ngay các biện pháp xử lý

đối với đương sự để việc giải quyết vụ án

được nhanh chóng, kịp thời đồng thời hạn

chế việc đương sự cố tình gây khó khăn

cho toà án nhằm trì hoãn quá trình tố tụng

- Trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi

kiện trước phiên toà sơ thẩm thì toà án ra

quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối

với yêu cầu của nguyên đơn đã rút đơn, toà

án vẫn giải quyết các yêu cầu của các

nguyên đơn khác (nếu có) Nếu nguyên

đơn rút đơn khởi kiện mà bị đơn có yêu

cầu phản tố thì bị đơn trở thành nguyên

đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn Nếu

nguyên đơn rút đơn khởi kiện, bị đơn rút

yêu cầu phản tố mà người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan vẫn giữ yêu cầu độc lập

thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

trở thành nguyên đơn còn người có nghĩa

vụ với yêu cầu này trở thành bị đơn

- Nguyên đơn được triệu tập hợp lệ đến

lần thứ nhất mà vẫn vắng mặt không có lý

do chính đánh thì toà án quyết định đình

chỉ xét xử phần yêu cầu cầu của nguyên đơn còn vẫn giải quyết yêu cầu phản tố của

bị đơn, yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập (nếu có) Trường hợp này cũng dẫn tới việc thay đổi tư cách tố tụng như trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện tại phiên toà sơ thẩm

- Nguyên đơn rút đơn khởi kiện trước phiên toà hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu của nguyên đơn thì cũng chỉ sung vào công quỹ nhà nước số tiền tạm ứng án phí của nguyên đơn đã rút đơn khởi kiện hoặc nguyên đơn vắng mặt không có lý do chính đáng

- Tại phiên toà sơ thẩm, nếu nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì toà án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án đối với yêu cầu của nguyên đơn còn toà án vẫn giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu cầu độc lập (nếu có) Trường hợp này dẫn tới việc thay đổi tư cách tố tụng như trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện tại phiên toà sơ thẩm

- Trong trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện, cơ quan, tổ chức rút văn bản khởi kiện thì toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu của các chủ thể này./

Ngày đăng: 31/03/2014, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w