1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Các quy định về chứng minh trong tố tụng dân sự" docx

8 1,1K 16
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 142,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài các đương sự, BLTTDS quy định các cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng có nghĩa vụ chứng minh khoản 3 Điều 79 BLT

Trang 1

§Æc san vÒ bé luËt tè tông d©n sù

ThS NguyÔn C«ng B×nh * hứng minh là một chế định lớn của

BLTTDS Trong giới hạn của bài tạp

chí, tác giả chỉ xin trao đổi về quy định chủ

thể chứng minh, đối tượng chứng minh,

trình tự và thủ tục chứng minh của chế

định này

- Về chủ thể chứng minh

Theo quy định tại các điều 6, 58, 64,

74, 79, 117, 118, 165, 230 v.v của

BLTTDS, các chủ thể chứng minh trong tố

tụng dân sự bao gồm: các đương sự, người

đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp

pháp của đương sự và toà án Các chủ thể

chứng minh đều có quyền, nghĩa vụ chứng

minh Tuy vậy, mỗi chủ thể tham gia tố

tụng dân sự đều xuất phát từ những mục

đích, nhiệm vụ khác nhau nên BLTTDS

quy định quyền, nghĩa vụ chứng minh của

các chủ thể khác nhau Trong đó, BLTTDS

quy định đề cao vai trò, trách nhiệm chứng

minh của đương sự

Mỗi một bên đương sự khi tham gia tố

tụng đều cần phải chứng minh tất cả các

tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự mà

trên cơ sở đó họ đưa ra yêu cầu hay phản

đối yêu cầu của người khác Trong mối

tương quan giữa các đương sự thì nguyên

đơn phải chứng minh trước sau đó đến bị

đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan Nguyên đơn đưa ra yêu cầu phải đưa

ra các chứng cứ, căn cứ pháp lý để chứng

minh trên cơ sở đó quyền và lợi ích hợp

pháp của nguyên đơn được xác lập Bị đơn phản đối lại yêu cầu của nguyên đơn thì phải đưa ra các chứng cứ, căn cứ pháp lý làm cơ sở cho sự phản đối của mình Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng phải chứng minh cho yêu cầu hay sự phản đối yêu cầu của họ (khoản 1, 2 Điều

79 BLTTDS)

Ngoài các đương sự, BLTTDS quy định các cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng có nghĩa vụ chứng minh (khoản 3 Điều 79 BLTTDS) Tuy không có quyền và lợi ích gắn liền với

vụ việc dân sự như đương sự nhưng các cá nhân, cơ quan, tổ chức này cũng đưa ra yêu cầu và biết rõ sự việc Do đó, tương tự như đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Trong trường hợp các cá nhân, cơ quan, tổ chức này không thực hiện được nghĩa vụ chứng minh của mình thì sẽ dẫn đến sự bất lợi cho các đương sự

Đối với người đại diện của đương sự, trong BLTTDS không có điều luật nào quy định trực tiếp quyền và nghĩa vụ chứng

C

* Giảng viên chính Khoa luật dân sự Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

minh của họ Tuy vậy, theo Điều 74

BLTTDS, người đại diện của đương sự

thay mặt đương sự thực hiện các quyền,

nghĩa vụ tố tụng của đương sự nên nghĩa vụ

chứng minh của họ được hình thành trên cơ

sở quyền và nghĩa vụ chứng minh của

đương sự Trong tố tụng dân sự, tuỳ theo

việc họ đại diện cho đương sự nào mà có

quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương

sự đó Người đại diện theo pháp luật, người

đại diện do toà án chỉ định có quyền và

nghĩa vụ thực hiện tất cả nghĩa vụ chứng

minh của đương sự họ đại diện Người đại

diện theo uỷ quyền của đương sự thực hiện

quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương

sự trong phạm vi được uỷ quyền

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp

pháp của đương sự tham gia tố tụng với

mục đích bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp

của đương sự nên cũng có quyền và nghĩa

vụ chứng minh (khoản 2 Điều 64

BLTTDS) Ngoài việc giúp đương sự về

mặt pháp lý để đương sự bảo vệ quyền, lợi

ích hợp pháp của họ thì người bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

chứng minh sự tồn tại các quyền và lợi ích

hợp pháp của đương sự để bảo vệ quyền và

lợi ích hợp pháp của đương sự trước toà

án Nói cách khác, người bảo vệ quyền và

lợi ích hợp pháp của đương sự cũng đưa ra

các chứng cứ, lý lẽ để chứng minh cho các

yêu cầu và sự phản đối yêu cầu của đương

sự là có cơ sở

Toà án là chủ thể có nhiệm vụ giải

quyết vụ việc dân sự tuy không có nghĩa

vụ chứng minh làm rõ các tình tiết, sự kiện

làm cơ sở cho yêu cầu hay phản đối yêu

cầu của đương sự nhưng để giải quyết đúng vụ việc dân sự thì toà án vẫn phải xác định xem trong vụ việc dân sự phải chứng minh làm rõ những sự kiện, tình tiết nào? Các chứng cứ, tài liệu của đương sự và những người tham gia tố tụng cung cấp đã

đủ để giải quyết vụ việc dân sự chưa? Nếu thiếu thì toà án phải yêu cầu đương sự cung cấp bổ sung Đối với trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu thì toà án có thể tiến hành thu thập chứng cứ (khoản 2 Điều

85 BLTTDS) Toà án thực hiện việc đánh giá, công bố công khai chứng cứ trước khi

sử dụng (Điều 96, Điều 97 BLTTDS) Mặt khác, toà án phải chỉ rõ cơ sở của quyết định giải quyết vụ việc dân sự Như vậy, việc chứng minh của toà án mang tính hỗ trợ cho việc chứng minh của đương sự và phục vụ cho việc làm rõ cơ sở quyết định của mình

Việc thực hiện đúng và đầy đủ quyền

và nghĩa vụ chứng minh của mỗi một chủ thể có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả giải quyết vụ việc dân sự Do vậy, BLTTDS quy định các các chủ thể chứng minh phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện nghĩa

vụ chứng minh của họ Chẳng hạn, theo quy định tại khoản 3 Điều 79 BLTTDS, nếu đương sự không thực hiện đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ chứng minh của mình thì phải chịu trách nhiệm về việc đó

- Về đối tượng chứng minh

Để giải quyết đúng được các vụ việc dân sự thì tất cả các sự kiện, tình tiết liên quan đến vụ việc đều phải chứng minh,

Trang 3

bao gồm những tình tiết, sự kiện mà các

chủ thể căn cứ vào đó đưa ra yêu cầu hay

phản đối yêu cầu của người khác và những

tình tiết, sự kiện có ý nghĩa cho việc giải

quyết vụ việc dân sự Xuất phát từ yêu cầu

này, các khoản 1, 2 Điều 79 BLTTDS đã

quy định đương sự có yêu cầu toà án bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho

yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp

Đương sự phản đối yêu cầu của người khác

đối với mình phải chứng minh sự phản đối

đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để

chứng minh Cá nhân, cơ quan, tổ chức

khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích

của Nhà nước hoặc yêu cầu toà án bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp của người khác

phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho

việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn

cứ và hợp pháp Tuy vậy, có một số loại

tình tiết, sự kiện xuất phát từ tính chất rõ

ràng của chúng toà án có thể sử dụng để

giải quyết vụ việc dân sự mà không phải

xác định trong quá trình tố tụng, do đó

Điều 80 BLTTDS quy định những tình tiết,

sự kiện này không cần phải chứng minh

Những tình tiết này bao gồm: Những tình

tiết, sự kiện mọi người đều biết; những

tình tiết, sự kiện đã được xác định trong

các bản án, quyết định của toà án hoặc

quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm

quyền; những tình tiết, sự kiện đã được ghi

trong văn bản được công chứng, chứng

thực hợp pháp

Đối với những tình tiết, sự kiện mọi

người đều biết thì không phải chứng minh

vì mục đích của chứng minh là để làm rõ

tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ việc dân

sự để giải quyết đúng vụ việc dân sự Đối với những tình tiết, sự kiện này không chứng minh thì mọi người cũng đã biết rõ

về chúng Tuy vậy, Điều 80 BLTTDS quy

định những tình tiết này phải được “toà án

thừa nhận” vì toà án có trách nhiệm giải quyết vụ việc dân sự Trên thực tế mức độ phổ biến của các tình tiết, sự kiện mọi người đều biết có thể rất khác nhau, có tình tiết, sự kiện phổ biến ở phạm vi rất rộng nhưng cũng có tình tiết, sự kiện chỉ phổ biến ở phạm vi hẹp Vấn đề đặt ra là tình tiết, sự kiện phổ biến ở mức độ nào thì không phải chứng minh? Thực tiễn xét xử của các toà án cho thấy không thể xác định được chính xác những người biết được tình tiết, sự kiện Vì thế việc đánh giá mức độ phổ biến của tình tiết, sự kiện mọi người đều biết chỉ mang tính tương đối nên BLTTDS không thể quy định giới hạn tối thiểu về mức độ phổ biến của tình tiết, sự kiện không cần chứng minh Khi giải quyết các vụ việc dân sự, toà án phải xem xét từng trường hợp cụ thể và trên cơ

sở yêu cầu của việc công khai, minh bạch các hoạt động xét xử mà quyết định thừa nhận hay không?

Đối với những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong các bản án, quyết định của toà án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật cũng không phải chứng minh vì toà án, cơ quan nhà nước nào giải quyết

vụ việc cũng đều dựa trên việc thực hiện quyền lực của Nhà nước ta Hơn nữa, việc chứng minh lại một tình tiết, sự kiện còn

Trang 4

có khả năng dẫn đến sự phức tạp trong

việc giải quyết vụ việc dân sự, làm trì trệ

thủ tục tố tụng dân sự, giảm uy tín của toà

án và cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Để giải quyết nhanh được các vụ việc dân

sự, tránh những phức tạp không đáng có,

Điều 80 BLTTDS quy định khi giải quyết

vụ việc dân sự, toà án không cho chứng

minh lại những tình tiết, sự kiện đã được

xác định trong các bản án, quyết định của

toà án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết

định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Đối với những tình tiết, sự kiện đã

được ghi trong văn bản và được công

chứng, chứng thực hợp pháp, Điều 80

BLTTDS quy định không phải chứng

minh Bởi, những tình tiết, sự kiện này đã

được ghi lại dưới hình thức nhất định và

được cơ quan nhà nước có thẩm quyền

công chứng, chứng thực hợp pháp Mặt

khác, phải bảo đảm giá trị các giấy tờ, tài

liệu đã được các cơ quan nhà nước công

chứng, chứng thực hợp pháp

Ngoài ra, đối với những tình tiết, sự

kiện mà đương sự hoặc người đại diện của

đương sự bên này thừa nhận hoặc không

phản đối Điều 80 BLTTDS cũng quy định

đương sự bên kia không phải chứng minh

Như vậy, sự thừa nhận của một bên đương

sự hay người đại diện của họ có giá trị miễn

nghĩa vụ chứng minh cho đương sự phía

bên kia Vì một trong vấn đề thuộc bản chất

của chứng minh là làm cho đương sự bên

kia thấy rõ sự tồn tại của các tình tiết, sự

kiện liên quan đến vụ việc dân sự để thừa

nhận Mặt khác, quyền thừa nhận còn thuộc

quyền tự định đoạt của đương sự

- Về trình tự, thủ tục chứng minh

Các chủ thể chứng minh có quyền, nghĩa

vụ chứng minh nhưng các chủ thể có thực hiện được quyền, nghĩa vụ chứng minh của họ hay không phụ thuộc một phần rất lớn vào cơ chế tố tụng pháp luật quy định Quán triệt tinh thần đổi mới công tác tư pháp đã được ghi nhận tại Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác

tư pháp trong năm tới, BLTTDS đã quy định quy trình tố tụng mới bảo đảm cho các chủ thể chủ động thực hiện được quyền

và nghĩa vụ chứng minh của họ, nhất là đương sự

Theo quy định tại các điều 165, 175 BLTTDS thì ngay khi khởi kiện, thụ lý vụ

án, đương sự đã thực hiện quyền và nghĩa

vụ chứng minh bằng việc người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình; bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án phải gửi cho toà án văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và chứng cứ, tài liệu kèm theo Trong quá trình toà án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho toà án (Điều 84 BLTTDS) Tại phiên toà, các bên đương sự được tham gia tranh luận để chứng minh bảo vệ quyền lợi của mình, thời gian tranh luận của họ không hạn chế (Điều 233 BLTTDS) Kèm theo đơn kháng cáo, người kháng cáo phải gửi cho toà án các tài liệu, chứng cứ bổ sung nếu có để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp (Điều

Trang 5

244 BLTTDS) v.v

Ngoài ra, BLTTDS cũng quy định được

các biện pháp, trình tự, thủ tục thu thập,

đánh giá và sử dụng chứng cứ của toà án

Theo quy định tại Điều 85 BLTTDS, trong

trường hợp đương sự không tự mình thu

thập được và có yêu cầu thì thẩm phán có

thể tiến hành một hoặc một số biện pháp

thu thập chứng cứ Khi áp dụng các biện

pháp thu thập chứng cứ, thẩm phán phải ra

quyết định bằng văn bản, trừ việc lấy lời

khai của đương sự, người làm chứng Theo

quy định tại Điều 95, Điều 96 BLTTDS,

việc đánh giá chứng cứ phải khách quan,

toàn diện, đầy đủ và chính xác; toà án phải

đánh giá từng chứng cứ, sự liên quan giữa

các chứng cứ và khẳng định giá trị pháp lý

của từng chứng cứ; mọi chứng cứ phải

được công bố và sử dụng công khai như

nhau, trừ trường hợp có liên quan đến bí

mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân

tộc, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh

doanh, bí mật đời tư của cá nhân theo yêu

cầu chính đáng của đương sự

Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu BLTTDS,

tác giả nhận thấy các quy định về chứng minh

trong tố tụng dân sự có nhiều điểm tiến bộ,

bảo đảm việc làm rõ các tình tiết của vụ

việc dân sự Trước hết, so với quy định của

các văn bản pháp luật tố tụng dân sự được

ban hành trước đây như Điều 3 Pháp lệnh

thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, các

điều 3, 4 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các

vụ án kinh tế và các điều 2, 3 Pháp lệnh

thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động

thì BLTTDS đã quy định đúng các chủ thể

chứng minh trong tố tụng dân sự, quyền và

nghĩa vụ chứng minh của các chủ thể Mặt khác, các quy định của BLTTDS cũng rõ ràng hơn, hợp lý hơn, từ đó đã đề cao được trách nhiệm của các chủ thể trong việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của họ, tránh được sự ỷ lại vào toà án Đối với đối các sự kiện, tình tiết không phải chứng minh lần đầu tiên cũng được quy định trong BLTTDS, điều này có tác dụng hướng các chủ thể chứng minh vào việc chứng minh làm rõ những tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự cần chứng minh, không chứng minh những tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự một cách không cần thiết, do

đó tiết kiệm được thời gian, sức lực trong việc tham gia tố tụng của các chủ thể Ngoài ra, việc BLTTDS quy định tương đối rõ ràng trình tự, thủ tục chứng minh như trình tự, thủ tục cung cấp, thu thập chứng cứ; trình tự, thủ tục trình bày, tranh luận tại phiên toà v.v đã tạo ra một cơ chế

tố tụng mới cần thiết cho các chủ thể chứng minh thực hiện được các quyền và nghĩa vụ chứng minh của họ Mặt khác, thực hiện việc công khai, dân chủ và minh bạch các hoạt động tố tụng, bảo đảm được việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và việc giải quyết đúng vụ việc dân sự của toà án Để thực hiện đúng các quy định của BLTTDS, thời gian qua Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

đã ra Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 31 tháng 3 năm 2005 hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất

“Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 Tuy vậy, thực tiễn thực hiện các quy định này của BLTTDS

Trang 6

từ ngày 01/01/2005 đến nay đã bộc lộ

những vướng mắc nhất định, thể hiện ở các

điểm sau:

- BLTTDS đã quy định những tình tiết,

sự kiện không phải chứng minh (Điều 80

BLTTDS) nhưng không có quy định về

những tình tiết, sự kiện phải chứng minh

Điều này không những làm mất cân đối

giữa các quy định của BLTTDS mà còn

làm cho các chủ thể lúng túng trong việc

thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh

của họ, nhất là đối với đương sự Khi tham

gia tố tụng, đương sự chỉ chứng minh trong

phạm vi yêu cầu hay phản đối yêu cầu của

họ cũng chưa đủ mà còn phải chứng minh

cả những sự kiện, tình tiết khác của vụ việc

dân sự Chẳng hạn, khi họ cho rằng việc họ

không thực hiện được nghĩa vụ tố tụng là

do gặp bất khả kháng thì phải chứng minh

có sự bất khả kháng Ngoài ra, do thiếu

kinh nghiệm tham gia tố tụng nên các

đương sự thường không biết phải chứng

minh làm rõ những sự kiện, tình tiết gì và

vì vậy cũng không xác định được các

chứng cứ, tài liệu phải cung cấp cho toà án

để chứng minh bảo vệ quyền lợi của họ

- Tại điểm c khoản 1 Điều 80 BLTTDS

có quy định những tình tiết, sự kiện đã

được ghi trong văn bản và được công

chứng và chứng thực hợp pháp thì không

phải chứng minh Tuy vậy, trong trường

hợp toà án có nghi ngờ về tính đúng đắn

của việc công chứng, chứng thực thì những

tình tiết, sự kiện đã được công chứng,

chứng thực vẫn phải được xác định lại, tức

là vẫn phải chứng minh nhưng trong

BLLTTDS không quy định rõ có phải

chứng minh không và nếu phải chứng minh thì ai có nghĩa vụ chứng minh Thực chất đây là chỉ những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh xuất phát từ một

sự suy đoán pháp lý Đối với những tình tiết, sự kiện này trong trường hợp cần thiết vẫn có thể phải xác định lại

- Quy định tại các điều 6, 85 BLTTDS tuy đã đề cao vai trò chứng minh của đương sự nhưng lại hạn chế sự chủ động của toà án trong việc giải quyết vụ việc dân sự, không bảo đảm cho toà án giải quyết nhanh và đúng đắn các vụ việc dân

sự Ví dụ, trong trường hợp phát hiện thấy

chứng cứ đang bị tiêu huỷ hoặc có nguy cơ

bị tiêu huỷ, toà án muốn chủ động thu thập cũng không được mà phải chờ đương sự yêu cầu Bên cạnh đó, nhiều quy định về chứng minh còn chưa rõ, mâu thuẫn, chồng chéo như quy định tại Điều 6, Điều 85, với Điều 87, 92 BLTTDS Theo quy định tại các điều 6, 85 BLTTDS thì các đương sự

có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, trong trường hợp xét thấy trong hồ sơ vụ việc chưa đủ cơ sở để giải quyết thì thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung, nếu đương sự không thể tự mình thu thập được

và có yêu cầu thì thẩm phán có thể tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ, trong khi đó, tại Điều 87, Điều 92 BLTTDS lại quy định toà án lấy lời khai của người làm chứng khi xét thấy cần thiết, toà án ra quyết định định giá tài sản khi các bên thoả thuận theo mức giá thấp nhằm mục đích trốn thuế hoặc giảm mức đóng án phí Tại Điều 64 BLTTDS tuy có quy định quyền xác minh, thu thập chứng cứ và

Trang 7

cung cấp cho toà án của người bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

nhưng trong BLTTDS lại không có quy

định về các biện pháp họ được thực hiện để

xác minh, thu thập chứng cứ Vậy, người

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

đương sự có thể áp dụng các biện pháp toà

án được áp dụng để thu thập chứng cứ

không? Trong trường hợp người bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

bên này đưa ra chứng cứ mà người bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

phía bên kia lại cho rằng việc thu thập

chứng cứ đó không hợp pháp thì toà án căn

cứ vào đâu để chấp nhận hay bác bỏ?

- Để thực hiện việc chứng minh dù

trong tố tụng dân sự hay trong tố tụng hình

sự thì các chủ thể đều phải sử dụng những

phương tiện chứng minh nhất định do pháp

luật quy định chứ không phải sử dụng bất

kỳ một phương tiện nào Các phương tiện

chứng minh trong tố tụng hình sự hiện nay

đã được quy định tại khoản 2 Điều 64 Bộ

luật tố tụng hình sự nhưng các phương tiện

chứng minh trong tố tụng dân sự lại không

được BLTTDS quy định Vậy khi chứng

minh, các chủ thể chứng minh được sử

dụng những phương tiện nào để chứng

minh? Việc sử dụng phương tiện nào được

coi là hợp pháp, việc sử dụng phương tiện

nào được coi là không hợp pháp?

- Đối với trách nhiệm không thực hiện

hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ chứng

minh của các chủ thể cũng chưa được

BLTTDS quy định cụ thể Điều 79

BLTTDS tuy có quy định đương sự phải

chịu hậu quả của việc không chứng minh

được hoặc chứng minh không đầy đủ nhưng hậu quả đó là gì thì điều luật này lại không quy định Khi xét xử, toà án có thể

xử bác yêu cầu hay chấp nhận yêu cầu của đương sự khi các chứng cứ của vụ việc dân

sự được các đương sự cung cấp có đầy đủ không? Trường hợp tại toà án cấp sơ thẩm đương sự không chịu cung cấp chứng cứ

mà lên toà án cấp phúc thẩm mới cung cấp hoặc sau khi bản án có hiệu lực pháp luật

họ mới khiếu nại và cung cấp thì phải chịu hậu quả gì? Vấn đề này nếu không nghiên cứu kỹ thì sẽ dẫn đến việc quy định mâu thuẫn vì theo quy định tại Điều 283

BLTTDS thì “kết luận trong bản án, quyết định của toà án không phù hợp với những

tình tiết khách quan của vụ án” là một trong những căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Do vậy, trong trường hợp chứng cứ của vụ việc dân sự không đầy đủ

mà toà án vẫn quyết định giải quyết vụ việc thì theo quy định này bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Ngoài ra, để bảo đảm cho các đương sự thực hiện được quyền, nghĩa vụ chứng minh thì Điều 7, Điều 385 BLTTDS có quy định trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cho đương sự và biện pháp xử lý đối với những trường hợp vi phạm Tuy vậy, những quy định này chưa cụ thể nên trên thực tế đương sự vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong việc yêu cầu các cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ

Để giải quyết được những vướng mắc nêu trên về lâu dài thì phải sửa đổi, bổ

Trang 8

sung các quy định về chứng minh của

BLTTDS Trước mắt, cần phải có các

hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền theo

hướng sau đây:

- Những sự kiện, tình tiết phải chứng

minh bao gồm các sự kiện, tình tiết mà

quan hệ giữa các bên phụ thuộc vào nó và

các tình tiết, sự kiện khác có ý nghĩa cho

việc giải quyết vụ việc dân sự Trong đó,

có cả các tình tiết mà các bên đương sự

đưa ra làm cơ sở cho yêu cầu của mình hay

hay phản đối yêu cầu của đương sự khác

- Những tình tiết, sự kiện đã được ghi

trong văn bản và được công chứng, chứng

thực hợp pháp quy định tại điểm c khoản 1

Điều 80 BLTTDS không phải là những

tình tiết, sự kiện không phải chứng minh

theo nghĩa tuyệt đối Do vậy, trong trường

hợp cần thiết (có nghi ngờ về tính đúng

đắn của nó) toà án vẫn có thể cho chứng

minh những tình tiết, sự kiện đã được ghi

trong văn bản và được công chứng, chứng

thực hợp pháp

- Toà án chủ động trong việc quyết

định áp dụng một số biện pháp thu thập

chứng cứ, bảo vệ chứng cứ như chủ động

trong việc lấy lời khai của đương sự, người

làm chứng, quyết định áp dụng biện pháp

bảo vệ chứng cứ trong trường hợp đang bị

tiêu huỷ, có nguy cơ bị tiêu huỷ hoặc sau

này khó có thể thu thập được

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp

pháp của đương sự có thể áp dụng để xác

minh, thu thập được chứng cứ bao gồm các

biện pháp được quy định tại điểm d, e

khoản 2 Điều 85 BLTTDS

- Các phương tiện chứng minh được sử dụng trong tố tụng dân sự bao gồm: Lời khai của đương sự; lời khai của người làm chứng; các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; các vật chứng; kết luận giám định; biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ; kết quả định giá tài sản; tập quán và các phương tiện khác

mà pháp luật có quy định

- Toà án có thể định cho đương sự một thời hạn để giao nộp chứng cứ Trong thời hạn này đương sự phải có nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho toà án, nếu không giao nộp được thì phải nêu rõ lý do Đối với những trường hợp đương sự cố tình không giao nộp chứng cứ đúng hạn thì toà án có thể phạt tiền theo mức quy định của pháp luật Sau đó, đương sự vẫn không giao nộp, khi toà án đã quyết định giải quyết vụ việc dân

sự mới giao nộp để căn cứ vào đó kháng cáo, khiếu nại thì không được chấp nhận

- Quy định cụ thể việc áp dụng các chế tài đối với các trường hợp bị xử lý theo quy định tại Điều 385 BLTTDS để nâng cao trách nhiệm các chủ thể đối với việc giải quyết vụ việc dân sự của toà án Trong

đó, cần quy định hình thức xử lý cụ thể người đứng đầu các cơ quan, tổ chức đối với những trường hợp cơ quan, tổ chức không chịu cung cấp chứng cứ, tài liệu khi được toà án, đương sự, người bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của đương sự yêu cầu hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án của toà án./

Ngày đăng: 31/03/2014, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w