Về thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự được quy định tại Điều 51 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự gồm một thẩm phán và hai hội
Trang 1ThS NguyÔn Huy Du * heo quy định tại Điều 129, 130 Hiến
pháp năm 1992 thì toà án thực hiện
chế độ xét xử tập thể và quyết định theo đa
số; việc xét xử có hội thẩm tham gia, hội
thẩm ngang quyền với thẩm phán Nội
dung của các điều luật trên cũng đã được
quy định lại tại Điều 4, 6 Luật tổ chức toà
án nhân dân năm 2002 Trên cơ sở đó,
trong Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự có 4
điều luật quy về thành phần giải quyết vụ
việc dân sự, bao gồm thành phần hội đồng
xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (Điều 51),
thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm vụ
án dân sự (Điều 52), thành phần hội đồng
xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án dân
sự (Điều 53) và thành phần giải quyết việc
dân sự (Điều 54) Tuy vậy, hiện nay vẫn
còn nhiều ý kiến khác nhau, nhất là về
thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm, phúc
thẩm vụ án dân sự
1 Về thành phần hội đồng xét xử sơ
thẩm vụ án dân sự
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm vụ
án dân sự được quy định tại Điều 51 Dự
thảo Bộ luật tố tụng dân sự gồm một thẩm
phán và hai hội thẩm nhân dân Trong
trường hợp đặc biệt thì hội đồng xét xử sơ
thẩm có thể gồm hai thẩm phán và ba hội
thẩm nhân dân Có ý kiến tán thành với nội
dung quy định của điều luật này vì cho
rằng việc quy định như vậy sẽ bảo đảm được sự kiểm tra, giám sát của nhân dân trong quá trình xét xử sơ thẩm của toà án
Ý kiến khác lại cho rằng nên quy định thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai thẩm phán và một hội thẩm nhân dân vì cho rằng quy định như vậy mới bảo đảm được tính chuyên nghiệp, nâng cao được chất lượng xét xử của toà án Vậy có thể tiếp thu ý kiến nào để quy định thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự? Theo quy định của Pháp lệnh thẩm phán và hội thẩm toà án nhân dân năm
2002 thì để được bổ nhiệm làm thẩm phán ngoài các tiêu chuẩn về sức khoẻ, đạo đức, chính trị, năng lực còn đòi hỏi người cán
bộ phải trình độ cử nhân luật và được đào tạo nghiệp vụ xét xử Ngoài ra, đối với người được tuyển chọn, bổ nhiệm làm thẩm phán toá án cấp huyện phải có thời hạn làm công tác pháp luật ít nhất là bốn năm trở lên; người được tuyển chọn, bổ nhiệm làm thẩm phán toà án nhân dân cấp tỉnh phải là người đã là thẩm phán toà án nhân dân cấp huyện ít nhất là năm năm, có năng lực xét xử những vụ án và những việc thuộc thẩm quyền của toà án cấp tỉnh; người đã là thẩm phán toà án nhân dân cấp
T
* Tòa án nhân dân thị xã Bắc Ninh
Trang 2tỉnh ít nhất là 5 năm, có năng lực xét xử
các vụ án và những việc khác thuộc thẩm
quyền của Toà án nhân dân tối cao thì có
thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm thẩm
phán Toà án nhân dân tối cao Trong
trường hợp do nhu cầu cán bộ thì người có
đủ các tiêu chuẩn làm thẩm phán tuy chưa
phải là thẩm phán toà án cấp dưới mà có
thời gian công tác pháp luật từ mười năm
trở lên, có năng lực xét xử những vụ án và
những việc thuộc thẩm quyền của toà án
cấp tỉnh thì có thể tuyển chọn, bổ nhiệm
làm thẩm phán toà án nhân dân cấp tỉnh,
người có thời gian công tác pháp luật từ 15
năm trở lên, có năng lực xét xử những vụ
án và những việc thuộc thẩm quyền của
Toà án nhân dân tối cao thì có thể tuyển
chọn, bổ nhiệm làm thẩm phán Toà án
nhân dân tối cao Với các quy định như
vậy thì một người muốn được bổ nhiệm
làm thẩm phán toà án nhân dân cấp huyện
(cấp toà án thấp nhất trong hệ thống tổ
chức toà án) cũng đã phải trải qua thực tiễn
làm công tác pháp luật và được đào tạo về
chuyên môn và nghiệp vụ một cách hết sức
công phu mới đáp ứng được nhiệm vụ
được giao Nhưng đối với người có thể
được bầu làm hội thẩm nhân dân, pháp luật
không quy định cụ thể về tiêu chuẩn
chuyên môn, nghiệp vụ Khoản 2 Điều 5
Pháp lệnh thẩm phán và hội thẩm tòa án
nhân dân quy định: ''Công dân Việt Nam
trung thành với tổ quốc và Hiến pháp nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có
phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung
thực, có kiến thức pháp lí, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, kiên quyết đấu tranh bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, có sức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể được bầu hoặc cử làm hội thẩm” So sánh tiêu chuẩn để được bổ nhiệm làm thẩm phán và tiêu chuẩn để được bầu làm hội thẩm nhân dân chúng tôi thấy người được bổ nhiệm làm thẩm phán cần phải đạt được những yêu cầu rất cao về đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ và thời gian công tác thực tiễn pháp luật nhưng đối với người được bầu làm hội thẩm nhân dân thì tiêu chuẩn về đào tạo và thời gian công tác pháp luật không đặt ra cao như thẩm phán bởi hoạt động xét xử không phải là nghề nghiệp của hội thẩm nhân dân Trên thực tế, hội thẩm nhân dân là những người đại diện cho các ngành, các giới, sống tại địa bàn dân cư Hội thẩm nhân dân tuy là người có kinh nghiệm thực tiễn, am hiểu các phong tục, tập quán tại địa phương nhưng có điểm yếu cần khắc phục, đó là trình độ chuyên môn thiếu, năng lực xét xử hạn chế Nhiều hội thẩm nhân dân được hội đồng nhân dân cùng cấp bầu nhưng do trình độ chuyên môn, nghiệp vụ yếu, thậm chí vốn hiểu biết
xã hội lại không nhiều nên khi tham gia xét
xử họ chủ yếu dựa vào ý kiến của thẩm phán Khi nghị án, các hội thẩm nhân dân đều đề nghị thẩm phán nêu quan điểm trước mà không đưa ra được những kết luận một cách độc lập và chính xác Trong
Trang 3những trường hợp đó, việc xét xử tập thể
và việc tham gia xét xử của hội thẩm nhân
dân không còn ý nghĩa nữa và nguyên tắc
''khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật” được quy định
tại Điều 130 Hiến pháp năm 1992 và Điều
5 Luật tổ chức toà án nhân dân năm 2002
cũng không thực hiện được Cũng do năng
lực trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của
hội thẩm nhân dân đa số còn hạn chế nên
trong thực tiễn khi xét xử một số vụ án dân
sự còn xảy ra những trường hợp cả hai hội
thẩm nhân dân đều kết luận, biểu quyết và
giữ quan điểm theo phong tục, tập quán tại
địa phương mà không căn cứ vào quy định
của pháp luật hiện hành dẫn đến việc thẩm
phán phải bảo lưu quan điểm của mình
Việc quyết định giải quyết vụ án theo đa số
trong những trường hợp đó làm cho một số
bản án, quyết định của tòa án đã bị huỷ,
sửa do chưa phù hợp với quy định của
pháp luật
Việc xét xử của toà án nhân dân có hội
thẩm nhân dân tham gia là hết sức cần
thiết, điều này thể hiện tính dân chủ trong
tố tụng, đảm bảo nhân dân thực hiện quyền
lực của mình, phát huy vai trò của nhân
dân trong xét xử, bảo đảm việc xét xử đúng
và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân
nhưng trên thực tế ít hội thẩm nhân dân
phát huy được đầy đủ vai trò của mình để
có thể tham gia xét xử tốt Trong khi đó,
các vụ án phức tạp toà án phải thụ lí giải
quyết ngày càng nhiều Từ những vấn đề
nêu trên chúng tôi thấy quy định của Điều
51 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự là chưa phù hợp với thực tế hiện nay nên cần phải
có sự sửa đổi theo hướng: “Hội đồng xét
xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm hai thẩm phán và một hội thẩm nhân dân” Với hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm hai thẩm phán và một hội thẩm nhân dân thì vẫn thể hiện được tính dân chủ trong xét
xử, bảo đảm sự tham gia của nhân dân vào hoạt động xét xử, bảo đảm sự giám sát của nhân dân đối với hoạt động xét xử của toà
án đồng thời sẽ đảm bảo trong hội đồng xét
xử có nhiều thành viên được đào tạo chuyên sâu về chuyên môn, nghiệp vụ làm cho việc giải quyết vụ án được đúng đắn Hơn nữa, quy định này vẫn hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 129 Hiến pháp
năm 1992 là ''việc xét xử của toà án nhân
dân có hội thẩm nhân dân, của toà án quân
sự có hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của pháp luật” Tất nhiên, khi thực hiện quy định: “Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm hai thẩm phán và một hội thẩm nhân dân” thì số lượt thẩm phán tham gia xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự sẽ tăng gấp đôi Tuy vậy, vấn đề này cũng có thể giải quyết được vì chúng
ta đã có nhiều cơ sở đào tạo luật ở trình độ đại học, hàng năm có rất nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học luật là nguồn bổ sung cán bộ dồi dào cho ngành toà án Mặt khác, theo Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự thì tới đây đương sự sẽ phải chứng minh sự việc, toà án không phải điều tra, xác minh sự việc nhiều như hiện nay nên có thể tập
Trang 4trung vào xét xử được, số thẩm phán có thể
thiếu nhưng sẽ không nhiều lắm
2 Về thành phần hội đồng xét xử
phúc thẩm vụ án dân sự
Theo nguyên tắc toà án thực hiện chế
độ hai cấp xét xử (Điều 11 Luật tổ chức toà
án nhân dân) thì các vụ án dân sự còn có thể
được giải quyết ở toà án cấp phúc thẩm Tại
Điều 52 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự kế
thừa quy định: “Hội đồng xét xử phúc thẩm
gồm ba thẩm phán” Đây là sự kế thừa quy
định tại khoản 2 Điều 16 Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án dân sự Song xung
quanh quy định này cũng có nhiều ý kiến
khác nhau Ý kiến thứ nhất tán thành với
quy định của Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự
vì cho rằng tính chất của phúc thẩm khác
với sơ thẩm Về nguyên tắc, phúc thẩm là
hoạt động xét xử cuối cùng đối với vụ án
dân sự, bản án, quyết định của toà án cấp
phúc thẩm là chung thẩm được thi hành
ngay nên hội đồng xét xử phúc thẩm phải
gồm toàn thẩm phán Ý kiến thứ hai cũng
tán thành với quy định của điều luật đó
nhưng đề nghị quy định thêm trong trường
hợp đặc biệt thì thành phần hội đồng xét xử
phúc thẩm gồm ba thẩm phán và hai hội
thẩm nhân dân để bảo đảm quyền giám sát
của nhân dân đối với hoạt động xét xử của
toà án Ý kiến thứ ba thì cho rằng để bảo
đảm tính nhân dân trong xét xử theo quy
định tại Điều 129 Hiến pháp năm 1992 thì
ngoài thẩm phán cần quy định cả hội thẩm
nhân dân tham gia hội đồng xét xử Theo
chúng tôi việc quy định hội thẩm nhân dân tham gia hội đồng xét xử phúc thẩm là cần thiết nhưng ở một mức độ nhất định Trước hết, cần nhận thức việc xét xử phúc thẩm là việc xét xử lại vụ án dân sự nên tính chất và yêu cầu của việc xét xử phúc thẩm khác với xét xử sơ thẩm Theo nguyên tắc xét xử theo hai cấp thì đương sự có quyền kháng cáo, viện kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị bản án, quyết định của toà án cấp sơ thẩm yêu cầu toà án cấp trên xét xử lại nhưng đối với bản án, quyết định của toà án cấp phúc thẩm được thi hành ngay thì cơ hội để đương sự bảo vệ quyền lợi của họ trước toà án một lần nữa là rất ít Hơn nữa, những vụ án dân sự phải xét xử lại ở toà án cấp phúc thẩm thường rất phức tạp, nếu thẩm phán không có trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi thì khó có thể giải quyết đúng đắn được Như đã nêu ở phần trên, không thể đòi hỏi hội thẩm nhân dân đáp ứng được những yêu cầu đó vì họ là những người tham gia xét xử không chuyên nghiệp
và thường là không được đào tạo cơ bản Tuy vậy, theo Điều 129 Hiến pháp năm
1992 thì việc xét xử của toà án nhân dân có hội thẩm nhân dân tham gia theo quy định của pháp luật Nếu Bộ luật không quy định việc tham gia xét xử của hội thẩm nhân dân
ở tòa án cấp phúc thẩm là vi hiến Do vậy, chúng tôi đề nghị sửa Điều 52 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự theo hướng thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm 2 thẩm phán và 1 hội thẩm nhân dân./