Về cơ cấu phần trong Dự thảo Bộ luật Hiện tại Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự gồm chín phần: Phần thứ nhất: Những quy định chung; Phần thứ hai: Thủ tục giải quyết vụ án tại toà án cấp sơ
Trang 1
heo kế hoạch xây dựng pháp luật của
Quốc hội khoá XI, Bộ luật tố tụng dân sự
sẽ được Quốc hội thông qua vào kì họp thứ
năm, đầu năm 2004 Việc ban hành Bộ luật tố
tụng dân sự có ý nghĩa rất quan trọng trong
việc phát triển kinh tế xã hội và mở rộng quan
hệ hợp tác quốc tế Tính khả thi và hiệu lực
thực tế của Bộ luật tố tụng dân sự khi được
ban hành phụ thuộc vào nhiều vấn đề, trong đó
có vấn đề cơ cấu của Bộ luật Cơ cấu của Bộ
luật tố tụng dân sự khoa học sẽ làm cho các
quy định của Bộ luật rõ ràng, chặt chẽ, thuận
tiện cho việc thực hiện Để xác định được cơ
cấu của Bộ luật tố tụng dân sự cần phải căn cứ
vào nhiều vấn đề khác nhau như phạm vi, nội
dung các vấn đề tố tụng dân sự được Bộ luật
điều chỉnh, đặc điểm của các loại vụ án dân sự,
việc dân sự (gọi chung là vụ việc dân sự), các
giai đoạn, trình tự của tố tụng dân sự Ở bài
viết này, chúng tôi xin trao đổi vài ý kiến về cơ
cấu phần, chương, mục trong Bộ luật tố tụng
dân sự
1 Về cơ cấu phần trong Dự thảo Bộ luật
Hiện tại Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự
gồm chín phần: Phần thứ nhất: Những quy
định chung; Phần thứ hai: Thủ tục giải quyết
vụ án tại toà án cấp sơ thẩm; Phần thứ ba: Thủ
tục giải quyết vụ án tại toà án cấp phúc thẩm;
Phần thứ tư: Thủ tục xét lại bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật; Phần thứ năm: Thủ
tục giải quyết việc dân sự; Phần thứ sáu: Thủ
tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
bản án, quyết định của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài; Phần thứ bảy: Thi hành bản án, quyết định của toà án; Phần thứ tám: Xử lí các hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự và khiếu nại, tố cáo trong
tố tụng dân sự và Phần thứ chín: Thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Với cơ cấu các phần của Bộ luật như vậy làm cho nhiều vấn đề quy định phần nào bị lộn xộn, rời rạc, thiếu sự thống nhất Điều này được thể hiện khá rõ trong các phần từ phần thứ hai đến phần thứ sáu của Dự thảo Bộ luật
tố tụng dân sự quy định về hai thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự Các phần này dường như chỉ là sự gộp đơn thuần các quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết các việc dân
sự, kinh tế, lao động, việc công nhận, không công nhận bản án quyết định của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài Theo Điều 26, 28, 30, 32 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự thì các việc dân sự không chỉ gồm các việc được quy định tại Phần thứ năm mà còn cả các việc được quy định tại Phần thứ sáu của Bộ luật Việc quy định thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự ở các phần như hiện nay sẽ dẫn đến sự mâu thuẫn với quy định của các điều luật đó Qua nghiên cứu chúng tôi thấy việc giải quyết các vụ việc dân sự về cơ bản đều có nhiều điểm giống nhau do chúng đều
T
* Giảng viên chính Khoa luật dân sự Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2phát sinh từ những quan hệ pháp luật có đặc
trưng giống nhau là các chủ thể bình đẳng và
có quyền định đoạt Tuy vậy, ở một số vụ việc
như các vụ việc được quy định tại Điều 26;
khoản 3, 5 Điều 27; khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7 Điều
28; khoản 1 Điều 30 và khoản 2 Điều 31 Dự
thảo Bộ luật tố tụng dân sự việc giải quyết
cũng có những điểm khác Do vậy, cần có một
phần quy định chung về thủ tục giải quyết các
vụ việc dân sự và một phần riêng quy định về
thủ tục giải quyết các vụ việc quy định tại
Điều 26; khoản 3, 5 Điều 27; khoản 2, 3, 4, 5,
6, 7 Điều 28; khoản 1 Điều 30 và khoản 2
Điều 31 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự Phần
sau này có thể gọi là thủ tục đặc biệt giải quyết
vụ việc dân sự Như vậy, từ phần thứ hai đến
phần thứ sáu của Dự thảo Bộ luật tố tụng dân
sự có thể cơ cấu lại thành ba phần: Phần thủ
tục giải quyết vụ việc dân sự, Phần thủ tục đặc
biệt giải quyết vụ việc dân sự và Phần thủ tục
công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản
án, quyết định của toà án nước ngoài, quyết
định của trọng tài nước ngoài Ngoài ra, cũng
nên chuyển Phần thứ bảy (thi hành bản án,
quyết định của toà án) và Phần thứ tám (xử lí
các hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự
và khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự)
xuống cuối Bộ luật vì xét xử rồi mới thi hành
án và việc xử lí các hành vi cản trở hoạt động
tố tụng dân sự và khiếu nại, tố cáo không chỉ
thực hiện đối với việc giải quyết các vụ việc
dân sự không có yếu tố nước ngoài mà cả các
vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Đồng
thời phần thi hành bản án, quyết định của tòa
án chỉ bao gồm các quy định chung, liên quan
đến xét xử nên cần đổi tên thành những quy
định chung về thi hành bản án, quyết định của
tòa án Sau khi cơ cấu lại Bộ luật chỉ còn bảy phần:
Phần thứ nhất: Những quy định chung; Phần thứ hai: Thủ tục giải quyết vụ việc dân sự; Phần thứ ba: Thủ tục đặc biệt giải quyết vụ việc dân sự; Phần thứ tư: Thủ tục giải quyết
vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài; Phần thứ năm: Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài; Phần thứ sáu: Những quy định chung
về thi hành bản án, quyết định của toà án và Phần thứ bảy: Thủ tục xử lí các hành vi vi phạm pháp luật và khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự
2 Về cơ cấu chương trong các phần của
Dự thảo Bộ luật
Phần thứ nhất của Dự thảo Bộ luật tố tụng
dân sự gồm 11 chương Đây là phần có cơ cấu chương khoa học nhất Tuy vậy, vẫn cần phải
bổ sung, điều chỉnh lại các chương trong phần này như sau:
- Chương 1 cần bổ sung thêm điều luật giải thích rõ một số thuật ngữ tố tụng dân sự như vụ việc dân sự, vụ án dân sự, việc dân sự,
vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, tổ chức, tập thể người lao động Nếu không có sự giải thích rõ các thuật ngữ này thì không có sự nhất quán giữa quy định của Điều 1 và các điều luật
từ Điều 25 đến Điều 32 của Bộ luật Theo Điều 1, vụ việc dân sự gồm vụ án dân sự, việc dân sự nhưng theo Điều 25 đến Điều 32 vụ việc dân sự bao gồm cả vụ án dân sự, việc dân
sự, vụ án hôn nhân và gia đình, việc hôn nhân
và gia đình, vụ án kinh tế, việc kinh tế, vụ án lao động, việc lao động Vậy trong các thuật ngữ này thì cái nào sẽ bao quát cái nào? Thực
Trang 3ra trước đây, Điều 23 Chương 2 Dự thảo Bộ
luật tố tụng dân sự thứ 11 (Dự thảo Bộ luật tố
tụng dân sự trình tại kì họp thứ 4 của Quốc hội
khoá XI) cũng đã có quy định nghĩa các thuật
ngữ này nên có thể sửa lại cho rõ ràng hơn và
xếp vào Chương 1 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân
sự Chương này sẽ quy định về nhiệm vụ, hiệu
lực của Bộ luật tố tụng dân sự và giải thích
một số thuật ngữ của tố tụng dân sự Do vậy,
tên Chương nên đổi thành “nhiệm vụ, hiệu lực
của Bộ luật và giải thích thuật ngữ”
- Chương 2 quy định về những nguyên tắc
cơ bản cần bổ sung thêm 2 điều luật quy định
về tranh tụng và xác định sự thật của vụ án Sở
dĩ cần thiết phải bổ sung hai điều quy định về
tranh tụng và xác định sự thật của vụ án vì hai
vấn đề này là hai vấn đề cốt lõi của loại hình tố
tụng tranh luận và loại hình tố tụng xét hỏi Từ
truyền thống, phong tục tập quán, văn hoá,
điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam, ưu điểm
và hạn chế của hai loại hình tố tụng chúng ta
cần xây dựng thủ tục tố tụng kết hợp được cả
tố tụng xét hỏi và tranh luận cho phù hợp.(1)
Nghiên cứu quan điểm chỉ đạo việc soạn
thảo(2) và nội dung Dự thảo Bộ luật tố tụng dân
sự chúng tôi thấy việc soạn thảo Bộ luật cũng
theo hướng này Theo Nghị quyết số
08-NQ/TW và Nghị quyết Hội nghị lần thứ IX
Ban chấp hành trung ương Đảng Khoá IX thì
phải mở rộng tranh tụng ở tại phiên toà, coi
trọng xem xét kết quả tranh tụng ở toà khi kết
án, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư
pháp Hơn nữa, xét xử là khâu trung tâm của
hoạt động tư pháp Toà án của bất kì nhà nước
nào cũng có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật vì
quyền tư pháp là quyền bảo vệ pháp luật(3) -
quyền bảo vệ công lí.(4) Theo Điều 12 Bộ luật
dân sự và Điều 1 Luật tổ chức toà án nhân dân năm 2002 thì các toà án Việt Nam đều có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ các quyền dân sự của các chủ thể Hơn nữa, Điều 4 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự cũng đã khẳng định lại vấn đề này Do vậy, để bảo vệ pháp luật, bảo vệ được các quyền dân sự của các chủ thể khi giải quyết các vụ việc, tất yếu toà
án phải xác định được sự thật khách quan của
vụ việc
Ngoài ra, Chương 2 là chương quy định về những nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự nên chỉ đưa vào chương này những vấn đề có tính chất bắt buộc chung cho các hoạt động tố tụng dân sự Vì thế, cần phải chuyển Điều 22 của chương này sang Chương 10 của Bộ luật
vì Điều này chỉ quy định về một dạng hoạt động tố tụng cụ thể là cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng
- Chương 4 quy định về người tiến hành tố tụng và việc thay đổi người tiến hành tố tụng cần bổ sung các quy định về cơ quan tiến hành
tố tụng và đổi tên thành chương cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng Vì nếu không có cơ quan tiến hành tố tụng thì làm sao có người tiến hành tố tụng Hơn nữa, trong
Bộ luật cũng đã có một số điều luật (Điều 147) nói đến tên cơ quan tiến hành tố tụng nhưng không có quy định cơ quan tiến hành tố tụng là
cơ quan nào, quyền và nghĩa vụ cụ thể của cơ quan đó
- Chương 5 quy định về thành phần giải quyết vụ việc dân sự Đây là những quy định
cụ thể nên cần chuyển về phần thủ tục giải quyết vụ việc dân sự, phần thủ tục đặc biệt giải quyết vụ việc dân sự Việc chuyển như vậy còn bảo đảm sự nhất quán trong cách sắp xếp
Trang 4các vấn đề được quy định trong Bộ luật vì hiện
tại Điều 185 Chương 13 cũng đã quy định
thành phần phiên hoà giải
- Chương 6 quy định về người tham gia tố
tụng cần bổ sung quy định đương sự gồm cả
người yêu cầu, khiếu nại; người bị yêu cầu,
khiếu nại trong việc dân sự vì ngoài Điều 55
quy định đương sự trong vụ án dân sự thì
không có điều luật nào của Dự thảo Bộ luật tố
tụng dân sự quy định về họ Đồng thời cũng
phải quy định người định giá tài sản là người
tham gia tố tụng vì theo Điều 81, 84, 91 và
một số điều khác định giá tài sản đã được quy
định là biện pháp thu thập chứng cứ, xác minh
các tình tiết của vụ việc dân sự Nếu không
quy định người định giá là người tham gia tố
tụng thì hoạt động định giá của họ sẽ tuỳ tiện
vì không chịu sự chi phối của pháp luật Thực
tế hiện nay đã chứng minh nhiều trường hợp
việc định giá tài sản không được người định
giá thực hiện nghiêm chỉnh, toà án cũng không
có cơ sở buộc họ phải thực hiện đúng
- Chương 7 quy định về chứng minh và
chứng cứ cần đổi lại thành chứng cứ và chứng
minh vì chứng cứ là một trong những cơ sở
của chứng minh Mặt khác, trong chương này
có quy định về những sự kiện không cần
chứng minh nên cũng cần bổ sung thêm quy
định về những vấn đề cần chứng minh cho rõ
ràng, nhất quán, thuận tiện cho việc áp dụng
- Chương 10 quy định về cấp, tống đạt,
thông báo các văn bản tố tụng Nội dung
chương này cần bổ sung các quy định về
nguyên tắc cấp, tống đạt, thông báo các văn
bản tố tụng bằng việc chuyển Điều 22 của
Chương 1 sang như đã nêu trên
- Chương 11 quy định về thời hạn tố tụng,
cần chuyển tất cả các quy định về thời hạn ở các phần khác của Dự thảo Bộ luật tố tụng dân
sự về chương này cho rõ ràng Đồng thời cũng
bỏ các quy định về thời hiệu trong chương này
vì thời hiệu là vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của luật nội dung, nếu quy định trong Bộ luật này sẽ không khoa học mà còn dẫn đến sự trùng lặp, mâu thuẫn Hơn nữa, hai điều của
Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự (Điều 158, 159) quy định về thời hiệu không rõ ràng, cụ thể nên không có ý nghĩa
Ngoài ra, hoà giải có ý nghĩa rất lớn, có thể tiến hành được ở các cấp xét xử đối với đa
số các vụ việc dân sự Hoà giải là hoạt động tố tụng của toà án trong việc giúp các đương sự thoả thuận giải quyết các vấn đề của vụ việc
dân sự còn chuẩn bị là “làm cho có sẵn cái
cần thiết để làm việc gì”(5) nên không thể xếp các quy định về hoà giải trong chương 13 chuẩn bị xét xử Do vậy, cần chuyển các quy định về hoà giải của Chương 13 Phần thứ hai sang phần này tập hợp thành chương mới - Chương hoà giải
Như vậy, sau khi sắp xếp, bổ sung theo hướng đề xuất trên thì Phần thứ nhất vẫn gồm 11 chương Thứ tự và tên gọi các chương như sau:
Chương 1: Nhiệm vụ, hiệu lực của Bộ luật và giải thích thuật ngữ; Chương 2: Những nguyên tắc cơ bản; Chương 3: Thẩm quyền của toà án; Chương 4: Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Chương 5: Người tham gia tố tụng; Chương 6: Chứng cứ và chứng minh; Chương 7: Các biện pháp khẩn cấp tạm thời; Chương 8: Hoà giải; Chương 9: Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng; Chương 10:
Trang 5Thời hạn tố tụng và Chương 11: Án phí, lệ
phí và các chi phí về tố tụng
Phần thứ hai theo Dự thảo Bộ luật tố tụng
dân sự là thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp
sơ thẩm Nếu cơ cấu lại các phần của Bộ luật
theo đề xuất trên thì phần này quy định về thủ
tục giải quyết các vụ việc dân sự nói chung
chứ không chỉ là các vụ án dân sự, trừ những
vụ việc dân sự được giải quyết theo thủ tục đặc
biệt quy định ở phần sau Phần này có thể cơ
cấu như sau:
- Chương 12: Thủ tục giải quyết vụ việc
dân sự ở toà án cấp sơ thẩm Chương này quy
định về việc khởi kiện, khởi tố, thụ lí, lập hồ
sơ vụ việc dân sự và giải quyết vụ việc dân sự
ở toà án cấp sơ thẩm
- Chương 13: Thủ tục giải quyết vụ việc
dân sự ở toà án cấp phúc thẩm Chương này
quy định về kháng cáo, kháng nghị theo thủ
tục phúc thẩm; chuẩn bị xét xử phúc thẩm;
phiên toà phúc thẩm và quyền hạn của hội
đồng xét xử phúc thẩm
- Chương 14: Thủ tục giám đốc thẩm, tái
thẩm Chương này quy định về hai thủ tục xét
lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của toà án là thủ tục giám đốc thẩm và tái
thẩm Nội dung chương này bao gồm các quy
định về kháng nghị; chuẩn bị xét xử; phiên toà
giám đốc thẩm, tái thẩm và quyền hạn của hội
đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm
Phần thứ ba của Dự thảo Bộ luật tố tụng
dân sự là phần thủ tục giải quyết vụ án tại tòa
án cấp phúc thẩm nhưng nếu cơ cấu lại Bộ luật
theo đề xuất trên thì là phần thủ tục đặc biệt
giải quyết vụ việc dân sự Ở phần này quy
định về thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự
có những đặc trưng riêng, bao gồm các việc
dân sự đã quy định trong Phần thứ ba của Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự hiện nay và một số
vụ việc dân sự khác nữa Ngoài chương quy định chung, theo chúng tôi cơ cấu của phần này cần có một số chương quy định về thủ tục giải quyết một số vụ việc dân sự cụ thể như vụ
án dân sự giải quyết theo thủ tục rút gọn, xác định năng lực hành vi dân sự của cá nhân, xác định người mất tích hoặc đã chết, tranh chấp lao động, đình công Phần này có thể cơ cấu như sau:
- Chương 15: Những quy định chung Chương này quy định về những vấn đề cơ bản của việc giải quyết các vụ việc dân sự theo thủ tục đặc biệt như phạm vi áp dụng, thành phần giải quyết vụ việc dân sự, nguyên tắc áp dụng các quy định khác của Bộ luật giải quyết các
vụ việc dân sự quy định ở phần này
- Chương 16: Thủ tục giải quyết vụ án dân
sự theo thủ tục rút gọn Chương này quy định
về thủ tục giải quyết một số vụ án dân sự có giá trị nhỏ, nội dung đơn giản, chứng cứ rõ ràng cần phải rút ngắn thời gian và giải quyết bảo đảm quyền lợi cho các đương sự
- Chương 17: Thủ tục xác định năng lực hành vi dân sự của cá nhân Chương này bao hàm những quy định có tính chất đặc trưng về trình tự xác định năng lực hành vi dân sự của
cá nhân như quyền yêu cầu, điều kiện yêu cầu, trình tự xác định cá nhân mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự, có năng lực hành vi dân sự
- Chương 18: Thủ tục thông báo tìm người vắng mặt, xác định người mất tích hoặc đã chết Chương này cũng bao hàm các quy định
có tính đặc trưng về việc giải quyết yêu cầu thông báo tìm người vắng mặt, xác định người mất tích hoặc đã chết như yêu cầu, điều kiện
Trang 6thụ lí, trình tự, thủ tục giải quyết
- Chương 19: Thủ tục xác định tài sản của
người phải thi hành án và miễn, giảm việc thi
hành án Chương này bao gồm các quy định về
quyền yêu cầu và thủ tục giải quyết yêu cầu
toà án xác định tài sản của người phải thi hành
án khi có tranh chấp; trình tự xét miễn, giảm
thi hành án cho người phải thi hành án
- Chương 20: Thủ tục giải quyết tranh
chấp lao động và đình công Chương này
cũng bao hàm các quy định riêng về việc giải
quyết các tranh chấp lao động như tổ chức,
tập thể nào có quyền khởi kiện, điều kiện
khởi kiện, thụ lí, thủ tục giải quyết các tranh
chấp về lao động
- Chương 21: Thủ tục giải quyết các việc
liên quan đến trọng tài thương mại Chương
này quy định cụ thể về quyền yêu cầu, nguyên
tắc, trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu công
nhận, huỷ quyết định của trọng tài thương mại
Việc phải quy định thủ tục công nhận quyết
định của trọng tài thương mại vì trọng tài
thương mại không phải là cơ quan xét xử của
Nhà nước Hơn nữa, nếu quy định như Điều
341 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự hiện nay
thì trở thành luẩn quẩn, không có ý nghĩa
Phần thứ tư quy định về thủ tục giải quyết
các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài và
tương trợ tư pháp Trong Dự thảo Bộ luật tố
tụng dân sự, phần này gồm ba chương nhưng
cũng chỉ quy định về hai vấn đề lớn là thủ tục
giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước
ngoài và tương trợ tư pháp nên có thể chia
thành hai chương sau:
- Chương 24: Thủ tục giải quyết vụ việc
dân sự có yếu tố nước ngoài Chương này quy
định những vấn đề có tính đặc trưng về nguyên tắc, thẩm quyền việc áp dụng các quy định của Bộ luật để giải quyết vụ việc dân sự
có yếu tố nước ngoài
- Chương 25: Tương trợ tư pháp trong tố tụng Chương này quy định về các vấn đề tương trợ tư pháp trong tố tụng dân sự như nguyên tắc tương trợ tư pháp, vấn đề uỷ thác
tư pháp
Phần thứ năm quy định về thủ tục công
nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài Phần này trong Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự gồm bốn chương quy định về hai vấn đề lớn là thủ tục xét đơn yêu cầu công nhận hoặc không công nhận bản
án, quyết định của toà án nước ngoài và thủ tục xét đơn yêu cầu công nhận hoặc không công nhận quyết định của trọng tài nước ngoài nên cần sắp xếp lại thành hai chương sau cho
rõ ràng:
- Chương 22: Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định của toà
án nước ngoài Chương này quy định về quyền yêu cầu, thẩm quyền, nguyên tắc, trình tự xét công nhận hoặc không công nhận bản án, quyết định của toà án nước ngoài
- Chương 23: Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài Chương này quy định về quyền yêu cầu, thẩm quyền, nguyên tắc, trình tự xét công nhận quyết định của trọng tài nước ngoài Phần thứ sáu quy định những quy định chung về thi hành bản án, quyết định của toà
án Trong phần này chỉ nên quy định về những vấn đề có tính nguyên tắc về thi hành án liên
Trang 7quan tới xét xử, trách nhiệm của toà án, cơ
quan thi hành án và viện kiểm sát trong thi
hành án còn các vấn đề cụ thể sẽ do các văn
bản pháp luật khác như luật, pháp lệnh quy
định Trong Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự,
phần này gồm hai chương nhưng nên bổ sung,
sắp xếp lại như sau cho rõ ràng:
- Chương 26: Những nguyên tắc thi hành
án Chương này quy định về các nguyên tắc thi
hành án như nguyên tắc tổ chức thi hành án,
trách nhiệm của cơ quan thi hành án, tổ chức
và cá nhân trong việc thi hành án bảo đảm
quyền lợi của cơ quan thi hành án và vấn đề
kiểm sát thi hành án
- Chương 27: Những quy định chung về
thủ tục thi hành án Chương này gồm các quy
định chung về cấp, chuyển giao, giải thích bản
án, quyết định; quyền yêu cầu thi hành án, thời
hiệu thi hành án; các biện pháp để thi hành án;
các biện pháp cưỡng chế thi hành án được áp
dụng; khởi kiện và việc giải quyết tranh chấp
tài sản trong thi hành án; việc tòa án xét miễn,
giảm thi hành án cho đương sự, hậu quả của
việc hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án,
giải quyết những vấn đề phát sinh khi bản án,
quyết định bị đình chỉ thi hành mà đã thi hành
được một phần
Phần thứ bảy quy định về xử lí các hành
vi vi phạm pháp luật và khiếu nại, tố cáo
trong tố tụng dân sự Cơ cấu phần này của
Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự khá hợp lí có
thể giữ nguyên Phần này gồm hai chương:
Chương 28: Xử lí các hành vi vi phạm pháp
luật; Chương 29: Khiếu nại tố cáo
3 Về cơ cấu mục trong các chương của
Dự thảo Bộ luật
Cơ cấu của Bộ luật tố tụng dân sự có khoa
học hay không còn phụ thuộc vào việc các mục trong mỗi chương có được phân chia hợp
lí không Do vậy, các mục ở một số chương của Dự thảo Bộ luật cũng cần được sắp xếp, phân chia lại Nếu cơ cấu lại các phần, chương của Bộ luật tố tụng dân sự theo đề xuất trên thì cũng cần phải sắp xếp lại các mục theo hướng sau:
- Chương 3: Thẩm quyền của toà án có hai mục Mục 2: Thẩm quyền của toà án các cấp nhưng nội dung ngoài việc quy định về thẩm quyền của toà án các cấp còn quy định
cả về thẩm quyền của toà án theo lãnh thổ, chuyển, tách nhập vụ việc dân sự và giải quyết tranh chấp về thẩm quyền là không hợp
lí Từ đó, Mục này cần được tách thành ba mục cho rõ ràng: Mục 2: Thẩm quyền của toà
án các cấp, Mục 3: Thẩm quyền của toà án theo lãnh thổ, Mục 4: Tách, nhập vụ việc dân
sự, chuyển vụ việc dân sự và giải quyết tranh chấp về thẩm quyền
- Chương 4 theo đề xuất trên quy định về
cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành
tố tụng nên tách thành hai mục riêng Mục 1:
Cơ quan tiến hành tố tụng, Mục 2: Người tiến hành tố tụng
- Chương 5: Những người tham gia tố tụng Những người tham gia tố tụng bao gồm
3 nhóm: Nhóm tham gia tố tụng bảo vệ quyền lợi của mình (đương sự), nhóm tham gia tố tụng bảo vệ quyền lợi cho đương sự (người đại diện, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện vì lợi ích chung) và nhóm tham gia tố tụng hỗ trợ toà án trong việc giải quyết vụ việc dân sự (người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, người định
Trang 8giá tài sản) Vì vậy, cần chia chương này thành
ba mục Mục 1: Đương sự; Mục 2: Người đại
diện, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, tổ
chức tham gia tố tụng vì lợi ích chung; Mục 3:
Người tham gia tố tụng khác
- Chương 6: Chứng cứ và chứng minh nên
chia thành hai mục Mục 1: Quy định về các
vấn đề liên quan đến chứng cứ Mục 2: Quy
định về các vấn đề liên quan đến hoạt động
chứng minh trong tố tụng dân sự
- Chương 12: Thủ tục giải quyết vụ việc
dân sự cần sắp xếp các vấn đề được quy định
trong chương này theo trình tự của tố tụng dân
sự với các mục sau: Mục 1: Khởi kiện, khởi tố
vụ việc dân sự; Mục 2: Thụ lí vụ việc dân sự;
Mục 3: Lập hồ sơ vụ việc dân sự; Mục 4:
Phiên toà sơ thẩm
- Chương 13: Thủ tục giải quyết vụ việc
dân sự ở toà án cấp phúc thẩm nên cơ cấu
thành ba mục Mục 1: Những quy định chung
Mục 2: Kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục
phúc thẩm Mục 3: Xét xử phúc thẩm
- Chương 14: Quy định về hai thủ tục tố
tụng đặc biệt là thủ tục giám đốc thẩm, tái
thẩm do vậy cần cơ cấu tương tự như phần thứ
tư của Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự Chương
này gồm hai mục Mục 1: Thủ tục giám đốc
thẩm; Mục 2: Thủ tục tái thẩm
- Các chương 15, 17, 18, 21 của Phần thứ
ba quy định về thủ tục đặc biệt giải quyết vụ
việc dân sự Nội dung các vấn đề được quy
định trong chương này đơn giản, rõ ràng nên
không cần chia thành các mục Riêng Chương
16: Thủ tục giải quyết vụ án rút gọn, Chương
19: Thủ tục xác định tài sản của người phải thi
hành án và miễn, giảm việc thi hành án,
Chương 20: Thủ tục giải quyết tranh chấp lao động và đình công của phần này nên chia thành hai mục Chương 16, Mục 1: Điều kiện
áp dụng thủ tục rút gọn; Mục 2: Thủ tục giải quyết vụ án.Chương 19, Mục 1: Thủ tục giải quyết yêu cầu xác định tài sản của người phải thi hành án; Mục 2 thủ tục xét miễn, giảm tiền thi hành án cho đương sự Chương 20, Mục 1 thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động; Mục 2: Thủ tục xác định tính hợp pháp của cuộc đình công
- Chương 22 bao gồm các quy định về hai thủ tục công nhận, không công nhận bản án, quyết định của toà án nước ngoài nên cần chia thành hai mục cho rõ ràng Mục 1: Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản
án, quyết định của toà án nước ngoài Mục 2: Thủ tục xét yêu cầu không công nhận bản án, quyết định của toà án nước ngoài
Trên đây là những ý kiến bước đầu của chúng tôi về cơ cấu của Bộ luật tố tụng dân sự
Hi vọng rằng vấn đề này cũng được quan tâm nghiên cứu để Bộ luật tố tụng dân sự được hoàn chỉnh và có hiệu lực trên thực tế khi được ban hành./
(1).Xem: Nguyễn Công Bình, "Vấn đề tranh tụng trong
tố tụng dân sự", Tạp chí luật học số 6/2003, tr.8 (2).Toà án nhân dân tối cao, Tờ trình về Dự án Bộ luật tố tụng dân sự, tr.3
(3).Xem L.Montesquyeu, "Tinh thần pháp luật", Nxb
Giáo dục năm 1996, tr.100
(4).Xem: Vũ Hồng Anh, "Quyền tư pháp trong nhà nước tư sản", Tạp chí luật học số 6/2003, tr.64 (5).Xem: "Từ điển Tiếng Việt", Trung tâm từ điển học, Nxb Đà Nẵng năm 1998, tr 672