1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Hiến pháp Việt Nam và quyền bình đẳng của phụ nữ" ppt

6 365 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 130,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với sự phát triển của các chế định khác, chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong đó có quyền bình đẳng của phụ nữ cũng ngày càng được phát triển và hoàn thiện, phù hợp

Trang 1

ThS Ph¹m ThÞ T×nh * uyền con người và quyền công dân là

yếu tố quan trọng trong mục tiêu và

động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội

Do đó, nó được khẳng định là chế định cơ

bản nhất trong mọi hiến pháp Sự phát triển

của lịch sử loài người đã chứng minh sức

mạnh to lớn của nhu cầu về quyền tự do

Quyền được xem xét dưới góc độ là nhu cầu

độc lập, đã tạo ra động lực mạnh mẽ cho con

người, đặc biệt ở lĩnh vực chống áp bức, bóc

lột, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, tự

do Trong nhà nước XHCN những tiền đề,

điều kiện để giải phóng con người gắn liền

với sự thay đổi về quan hệ sở hữu tư liệu sản

xuất, đặc biệt là việc thiết lập chế độ chính

trị với bản chất “tất cả quyền lực nhà nước

thuộc về nhân dân”

Xuất phát từ vai trò, giá trị của quyền mà

trong tư duy chính trị của nhân loại, vấn đề

quyền công dân trong đó có quyền bình đẳng

nam nữ đã trở thành nội dung chính của lịch

sử lập hiến Trong hiến pháp của tất cả các

nước dù thuộc chế độ xã hội nào vấn đề

quyền con người, quyền công dân đều được

xác định là chế định quan trọng, là nội dung

cơ bản nhất của mỗi bản hiến pháp Nội

dung này chi phối đến cả kết cấu của bản

hiến pháp, thường chế định quyền công dân

được đặt lên hàng đầu trong các hiến pháp

tảng pháp lí quan trọng cho mỗi công dân nói chung và nữ công dân nói riêng thực hiện các quyền tự do, dân chủ của mình trên

cơ sở bảo đảm của nhà nước và pháp luật Lịch sử Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm sống dưới chế độ phong kiến, gần một trăm năm dưới ách thống trị của thực dân Pháp, phụ nữ Việt Nam vừa bị áp bức về giai cấp, vừa bị trói buộc bởi lễ giáo phong kiến

hà khắc Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đánh dấu sự ra đời của bản Hiến pháp dân chủ nhân dân đầu tiên - Hiến pháp 1946 Với

7 chương và 70 điều, lần đầu tiên trong lịch

sử Việt Nam, nhân dân ta được thực hiện các quyền tự do, dân chủ và cũng là lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, phụ nữ Việt Nam được ngang quyền với nam giới trong mọi phương diện Những quy định của bản hiến pháp này

là cơ sở pháp lí vững chắc tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia cống hiến vào sự nghiệp chung giải phóng dân tộc đồng thời giải phóng chính mình

Đảng ta ngay từ khi mới ra đời đã nhận thức đầy đủ vai trò to lớn của mọi tầng lớp nhân dân trong đó có 51% phụ nữ “nếu quảng đại quần chúng không thể tham gia

Q

* Giảng viên chính Khoa hành chính - nhà nước Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

cách mạng thì cách mạng không thể thành

công được” Trong luận cương chính trị

đầu tiên Đảng cũng xác định “nam nữ bình

đẳng” là một trong mười mục tiêu hành

động Quan điểm của Đảng, chính sách của

Nhà nước luôn thể hiện tính độc lập cho

dân tộc, tự do, dân chủ cho nhân dân, phù

hợp với nguyện vọng quần chúng và xu thế

thời đại

Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân

và vì dân, khái niệm quyền công dân trong

Hiến pháp luôn gắn liền với dân chủ Hơn

nửa thế kỉ của lịch sử lập hiến, Việt Nam có

4 bản hiến pháp, đánh dấu 4 giai đoạn phát

triển quan trọng Cùng với sự phát triển của

các chế định khác, chế định quyền và nghĩa

vụ cơ bản của công dân trong đó có quyền

bình đẳng của phụ nữ cũng ngày càng được

phát triển và hoàn thiện, phù hợp với điều

kiện thực tế của đất nước Ngoài các quyền

và nghĩa vụ cơ bản công dân nói chung mà

phụ nữ cũng được hưởng, cả 4 bản hiến pháp

đều có những điều khoản riêng quy định về

quyền bình đẳng của phụ nữ

Ngay từ những ngày đầu tiên giành được

chính quyền, Nhà nước ta đã bắt tay vào

công việc cấp thiết - xây dựng Hiến pháp

Cũng trong bản Hiến pháp này địa vị pháp lí

của công dân đặc biệt được chú trọng Trong

số các chế định cơ bản của Hiến pháp thì chế

định “nghĩa vụ và quyền lợi công dân” được

quy định tại chương II Hiến pháp khẳng

định: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về

là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam quyền

bình đẳng nam nữ được ghi nhận trong đạo

luật cơ bản của nhà nước - văn bản có hiệu lực pháp lí cao nhất Khẳng định ý nghĩa lớn lao về các quyền tự do dân chủ, trong đó có quyền bình đẳng của phụ nữ, Hồ Chủ Tịch

đã từng nhận định: “Hiến pháp đã tuyên bố

th ế giới phụ nữ Việt Nam đã được đứng

ngang hàng v ới đàn ông để được hưởng

chung m ọi quyền tự do dân chủ của một

công dân”.(2) Dù chỉ với cách thể hiện ngắn gọn, cụ thể trong một điều khoản nhưng Hiến pháp 1946 không chỉ thể hiện thái độ trân trọng, đánh giá đúng những đóng góp đáng khích lệ của phụ nữ mà còn thể hiện quan điểm kiên quyết bảo vệ quyền lợi phụ

nữ của Nhà nước, của chế độ dân chủ rộng rãi Điều này càng có ý nghĩa hơn khi chúng

ta biết rằng Hiến pháp 1946 ra đời trong điều kiện Nhà nước Việt Nam còn quá non trẻ, lại phải đương đầu với nhiều thế lực thù trong

và giặc ngoài và muôn vàn khó khăn về tất

cả các mặt

Ra đời trong một điều kiện hoàn cảnh mới, Hiến pháp 1959 đã kế thừa tư tưởng về quyền bình đẳng phụ nữ ở Điều 24 Mặc dù cũng chỉ ghi nhận tại một điều trong số 21 điều của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, song Hiến pháp 1959 đã quy định khá cụ thể, chi tiết hơn về quyền bình đẳng phụ nữ Không những chỉ khẳng định

“Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

có quy ền bình đẳng với nam giới về các mặt

sinh ho ạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội

và gia đình” mà hơn thế để phụ nữ có điều

kiện thực hiện quyền bình đẳng của mình,

Trang 3

Hiến pháp còn quy định rõ trách nhiệm của

Nhà nước trong việc đảm bảo quyền bình

đẳng về việc làm, bảo vệ quyền lợi của bà

mẹ và trẻ em, bảo vệ hôn nhân và gia đình

Với quan điểm kế thừa và phát triển quy

định của Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980

đã có hai điều (63 và 64) quy định về quyền

bình đẳng của phụ nữ Bên cạnh việc thừa

nhận quan điểm “phụ nữ và nam giới có

quyền ngang nhau về mọi mặt” như các Hiến

pháp trước, Hiến pháp 1980 còn khẳng định

“Nhà nước và xã hội chăm lo nâng cao trình

độ chính trị, văn hóa, khoa học, kĩ thuật và

huy vai trò c ủa phụ nữ trong xã hội” đồng

thời Nhà nước và xã hội có chính sách

“chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, nhà trẻ,

l ớp mẫu giáo, nhà ăn công cộng và những

cho ph ụ nữ sản xuất, công tác, học tập và

nhân và gia đình” đã được Hiến pháp 1980

tách ra thành một điều khoản riêng (Điều 64)

nhằm quy định cụ thể hơn vai trò của gia

đình trong xã hội, ghi nhận nguyên tắc hôn

nhân tiến bộ một vợ một chồng, vợ chồng

bình đẳng, trách nhiệm của các thành viên

trong gia đình, quan điểm nhân đạo của Nhà

nước và xã hội trong việc thừa nhận bình

đẳng giữa các con

Hiến pháp năm 1992 ra đời trong công

cuộc đổi mới đất nước với quan điểm mở

rộng tự do dân chủ cho công dân, chú ý đến

tính khả thi của các quyền và nghĩa vụ, vì

vậy, quyền bình đẳng của phụ nữ có nhiều

điểm được bổ sung cho phù hợp với yêu cầu

thực tế của xã hội và đảm bảo quyền con người Cụ thể Hiến pháp quy định: Lao động

nữ và nam làm việc như nhau thì tiền lương ngang nhau, quy định này không chỉ được áp dụng đối với nữ công nhân viên chức mà còn được khẳng định với tất cả người lao động thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trong nền kinh tế thị trường Điều đó, thể hiện sự trân trọng của Nhà nước đối với mọi lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội Đồng thời Nhà nước còn quy định chế độ nghỉ bảo hiểm đối với lao động nữ nói chung

Xuất phát từ quan điểm cho rằng sự bình đẳng với phụ nữ trước hết phải được thể hiện trong nhận thức, đánh giá đúng về vị trí vai trò của phụ nữ, tôn trọng phụ nữ, do đó Hiến pháp năm 1992 còn quy định thêm việc

“nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ”, đặc biệt là trong quan hệ vợ chồng Ngoài ra Hiến pháp còn quy định một loạt biện pháp nhằm tạo điều kiện để phụ nữ không ngừng nâng cao trình độ và phát huy vai trò của mình trong xã hội, góp phần giảm gánh nặng gia đình, tạo điều kiện cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập, nghỉ ngơi và làm tròn bổn phận của người mẹ

Những quy định của Hiến pháp năm

1992 về quyền bình đẳng của phụ nữ là một trong những điểm nổi bật phản ánh bản chất

ưu việt, được thể hiện nhất quán trong Hiến pháp nước ta Địa vị của phụ nữ được coi là một tiêu chí của trình độ văn minh, một trong những tiêu chí cơ bản nhất của sự nghiệp giải phóng con người Chính Liên hợp quốc, trong một tài liệu của mình đã xác

Trang 4

nhận: Chỉ có ở các nước xã hội chủ nghĩa

Hi ến pháp và luật pháp đặt vấn đề quyền

bình đẳng của phụ nữ thành một quốc sách

thâm nh ập vào cuộc sống hàng ngày của

toàn dân và là m ối quan tâm chung của toàn

xã h ội, chứ không phải là vấn đề riêng của

n ữ giới.(3) Giải phóng phụ nữ, thực hiện nam

nữ bình đẳng là cả một quá trình đấu tranh

lâu dài mang tính cách mạng sâu sắc trong

đời sống thực tiễn Ở nước ta sự nghiệp đó

càng phức tạp, khó khăn hơn nhiều bởi do sự

chi phối của những quan điểm thiếu tính

toàn diện về đặc điểm truyền thống Xã hội

phong kiến, đặc biệt ở phương Đông với tư

tưởng trọng nam khinh nữ đã là một trở ngại

lớn Thực tế đó đòi hỏi Nhà nước và toàn xã

hội phải quan tâm nhiều hơn đối với sự nghiệp

giải phóng phụ nữ, sự tiến bộ của phụ nữ

Thực tế lịch sử lập hiến thế giới đã

khẳng định: Hiến pháp ra đời gắn liền với

cuộc cách mạng dân chủ tư sản lật đổ chế độ

quân chủ chuyên chế, là sản phẩm về

phương diện chính trị - pháp lí, đánh dấu

bước chuyển mình từ xã hội thần dân sang

xã hội công dân Hiến pháp ra đời do áp lực

của nhu cầu tự do, dân chủ, trở thành thiết

chế ghi nhận và đảm bảo về mặt pháp lí các

quyền cơ bản của công dân trong đó có

quyền bình đẳng của phụ nữ

Nghiên cứu những quy định của Hiến

pháp Việt Nam về quyền bình đẳng của phụ

nữ chúng tôi nhận thấy:

- Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công

dân nói chung và quyền bình đẳng của phụ

nữ nói riêng gắn liền với chủ quyền dân tộc

Lịch sử dân tộc ta đã khẳng định, độc lập

dân tộc, chủ quyền quốc gia là nhân tố quyết định để mỗi người dân nói chung trong đó có phụ nữ có được địa vị làm chủ đất nước Thực tế này được phản ánh rõ nét trong lịch

sử lập hiến Việt Nam, chế định quyền và nghĩa vụ của công dân trong đó có quyền bình đẳng của phụ nữ luôn gắn liền với chủ quyền quốc gia và nền độc lập dân tộc

- Trong các Hiến pháp Việt Nam, vấn đề quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân nói chung và quyền bình đẳng của phụ nữ nói riêng luôn được thể hiện nhất quán, là một trong những nội dung cơ bản của Hiến pháp Điều này xuất phát từ sự nhất quán trong quan điểm xây dựng Hiến pháp của Nhà nước: Ở nước ta toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức Xuất phát từ quan điểm này địa vị làm chủ của mọi công dân trong đó có phụ nữ đã được các bản hiến pháp thể chế hóa thành các quyền tự do dân chủ của công dân

- Quyền bình đẳng của phụ nữ ngày càng được quy định mở rộng và hoàn thiện hơn trong các bản Hiến pháp nước ta Không chỉ

kế thừa tư tưởng về quyền bình đẳng nam nữ trong Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, quyền bình đẳng của phụ nữ trong Hiến pháp năm 1992 quy định cụ thể hơn, mang tính khả thi cao, thể hiện quá trình phát triển liên tục về phương diện chính trị - pháp lí cũng như kĩ thuật lập pháp Sự kế thừa và phát triển này không chỉ khẳng định rõ bản chất nhà nước mà còn phản ánh được những thay đổi lớn của đời sống đất nước đồng thời thể hiện sự hòa nhập những giá trị văn minh của

Trang 5

nhân loại về quyền con người

Quy định về quyền bình đẳng của phụ nữ

trong Hiến pháp đã được nhiều văn bản pháp

luật khác cụ thể hóa như: Bộ luật dân sự, Bộ

luật lao động, Luật hôn nhân và gia đình

Chẳng hạn như để tạo điều kiện cho phụ nữ

tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà

nước, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của

Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 2001 đã

bổ sung quy định: “Số đại biểu Quốc hội là

phụ nữ do Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự

kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn chủ tịch

Ban chấp hành trung ương Hội liên hiệp phụ

nữ Việt Nam, bảo đảm để phụ nữ có số đại

biểu thích đáng” (Điều 10) Đây được xem là

cơ sở pháp lí quan trọng để phụ nữ vươn lên

khẳng định vai trò của mình trong hoạt động

xã hội Có thể nói, số lượng đại biểu phụ nữ

tham gia vào cơ quan quyền lực nhà nước

cao nhất (Quốc hội) tuy chưa nhiều nhưng

nó đã phần nào khẳng định sự cố gắng của

chị em trong hoạt động xã hội mà cao hơn

nữa nó còn khẳng định được giá trị của các

quy định pháp luật về quyền bình đẳng của

phụ nữ Nếu Quốc hội đầu tiên (Quốc hội

khóa I năm 1946) tỉ lệ đại biểu nữ chỉ chiếm

2,5%, thì Quốc hội trong giai đoạn đổi mới

đất nước không ngừng tăng lên về số đại

biểu nữ: Quốc hội khóa VIII (1987) là 18%,

Quốc hội khóa IX (1992) là 18,8%, Quốc hội

khóa X (1997) là 26,22%, Quốc hội khóa XI

(2002) là 27,31%

Hiến pháp Việt Nam luôn phù hợp với

sự phát triển kinh tế - xã hội Hiến pháp cũng

khẳng định nhu cầu, nguyện vọng cơ bản của

quần chúng nhân dân, hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn với những điều kiện sống bình đẳng, tự do, dân chủ Sự phát triển những quy định về quyền bình đẳng của phụ

nữ trong lịch sử lập hiến cũng tuân thủ bản chất nêu trên Thắng lợi của Cách mạng Việt Nam cùng những quy định về quyền bình đẳng của phụ nữ trong văn bản có hiệu lực pháp lí cao nhất đã đưa người phụ nữ lên địa

vị làm chủ trong xã hội Điều này đối với chúng ta tưởng chừng như là một sự tất yếu nhưng nó đã, đang và sẽ còn là mục tiêu đấu tranh, là mơ ước của nhiều phụ nữ ở một số quốc gia trên thế giới

Ngày nay trên phạm vi toàn thế giới, mặc dù phong trào phụ nữ đã có nhiều điểm tiến bộ nhất định nhưng tại một số nước vấn

đề phụ nữ bình đẳng trước pháp luật vẫn còn nhiều điểm quy định chưa phù hợp Một số nước đưa ra nguyên tắc “người chồng là chủ gia đình” đã điều chỉnh một cách hợp pháp quan hệ bất bình đẳng giữa vợ và chồng, cũng như giữa cha mẹ và con cái Tại một số nước theo đạo Hồi, người phụ nữ không được hành nghề luật pháp, một số nước khác thì luật pháp cấm sinh đẻ có kế hoạch, cấm li

dị ngay cả trong tình trạng hôn nhân không thể kéo dài Thậm chí có nơi luật hình sự còn trừng phạt cả những phụ nữ góa chồng đi lấy người khác Ngay cả với quyền bầu cử - một quyền chính trị quan trọng song “lúc đầu luật bầu cử tư sản chỉ là luật bầu cử dành cho đàn ông Trong một thời gian dài phụ nữ không

có quyền bầu cử Năm 1983, điều kiện về giới tính đã bị xóa bỏ ở New Zealand, sau đó

Trang 6

và đặc biệt là sau Chiến tranh thế giới lần

thứ II đã bị xóa bỏ ở đa số các nước tư sản

Ở Mĩ phụ nữ có quyền bầu cử từ năm 1920,

ở Anh - năm 1928, ở Pháp - năm 1944, ở

Italia - năm 1945, Hi Lạp - năm 1956, Thụy

Sĩ - năm 1971.(4)

Mặc dù còn có những hạn chế nhất định

nêu trên song thực tế bằng nỗ lực của bản

thân cùng với những quy định pháp luật tiến

bộ của nhiều quốc gia, các tổ chức quốc tế,

phụ nữ thế giới đã và đang khẳng định vai

trò của mình trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt

là lĩnh vực chính trị Tiêu biểu là phụ nữ

Phần Lan, trong cuộc cải cách Nghị viện

năm 1906, phụ nữ đã được trao quyền bỏ

phiếu và tham gia ứng cử Phần Lan là nước

đầu tiên trên thế giới cho phép phụ nữ tham

gia hoạt động chính trị và phụ nữ Phần Lan

sử dụng quyền hoạt động chính trị của mình

rất tích cực, “Trong số 200 nghị sĩ hiện có 77

là n ữ, trong số 17 thành viên của Hội đồng

nhà n ước có tới 6 bộ trưởng là nữ, đặc biệt

có n ữ Bộ trưởng quốc phòng”.(5) Theo báo

cáo của Liên hợp quốc về toàn cảnh phụ nữ

tại 5 châu lục thì có 10 quốc gia đứng đầu về

số phụ nữ tham gia vào các lĩnh vực kinh tế

và chính trị bao gồm: Thụy Điển, Na Uy,

Phần Lan, Đan Mạch, Canada, New Zealand,

Hà lan, Mĩ, Áo, Ý Có 50% phụ nữ trong

Chính phủ Thụy Điển, Chính phủ nước này

được xem là chính phủ đầu tiên trên thế giới

đạt được sự cân bằng giữa nam và nữ Kỉ lục

thế giới về số phụ nữ là dân biểu thuộc về

Phần Lan với 39%, tiếp theo là Na Uy 35%,

Thụy Điển 34% Hiện có 12 quốc gia trong

đó phụ nữ là tổng thống hay thủ tướng.(6)

Có thể nói những quy định trong Hiến pháp Việt Nam và trong các văn bản cụ thể hướng dẫn công tác phụ nữ hiện nay hoàn toàn phù hợp với CEDAW (được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 18/12/1979 và chính thức có hiệu lực từ ngày 3/9/1981) - Văn kiện pháp lí quốc tế đầu tiên có tính chất bắt buộc nhằm xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ

và thực hiện nam nữ bình đẳng Công ước này đã được Nhà nước Việt Nam phê chuẩn ngày 27/11/1981 Dù còn những hạn chế về giới tính, về tư tưởng nhận thức trong một bộ phận xã hội, về sự thiếu đồng bộ trong chính sách cụ thể nhưng về cơ bản, những quy định trong Hiến pháp đã và đang giúp cho phụ nữ Việt Nam có đầy đủ điều kiện tốt nhất để sống, làm việc và mưu cầu hạnh phúc, thực hiện thiên chức và thực hiện quyền bình đẳng./

(1).Xem: "Hiến pháp năm 1946 và sự kế thừa, phát

tri ển trong các hiến pháp Việt Nam", Văn phòng

Quốc hội, Nxb Chính trị quốc gia, H 1998, tr 221

(2).Xem: Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị quốc

gia, H 1995, tr.440

(3).Xem: "Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ

ngh ĩa Việt Nam" (Bình luận), Uỷ ban khoa học xã hội

Việt Nam, Viện luật học, Nxb Khoa học xã hội, H

1985, tr 234

(4).Xem “Thuyết tam quyền phân lập” và bộ máy nhà

nước tư sản hiện đại, Viện thông tin khoa học xã hội,

H 1992, tr.45

(5).Xem: "Uỷ ban đối ngoại Quốc hội, Nghị viện các

n ước trên thế giới", H 1995

(6).Xem: "Vị thế phụ nữ trên thế giới thời nay", Báo

Giao thông vận tải ngày 7/3/2003, tr.11

Ngày đăng: 31/03/2014, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w