Qua quá trình thực hiện phần lớn các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ đã phù hợp với thực tế cũng như những yếu tố đặc thù của họ.. Vì vậy, trong bài viết nà
Trang 1
ThS TrÇn Thuý L©m *
ới những đặc điểm riêng biệt về thể
chất, tinh thần, tâm sinh lí cũng như
thiên chức sinh đẻ và nuôi con, lao động nữ
được coi là một trong những đối tượng thuộc
loại lao động đặc thù Điều này sẽ ảnh hưởng
không nhỏ đến việc họ tham gia vào quan hệ
lao động Nhiều chủ sử dụng lao động đã
không muốn tuyển nhận lao động nữ nếu
không có các quy định hợp lí của pháp luật
hoặc các quy định đó không có tính khả thi
Bởi vậy, ngoài những quy định áp dụng cho
tất cả mọi người lao động nói chung (gồm cả
lao động nam và lao động nữ), pháp luật lao
động đã có một số quy định riêng áp dụng
cho lao động nữ nhằm bảo vệ và bảo hộ họ
trước những nguy cơ bất lợi có thể xảy ra do
ảnh hưởng từ chính những yếu tố đặc thù
Đồng thời cũng giúp cho họ vừa có thể thực
hiện tốt chức năng lao động xã hội lại vừa có
thể thực hiện tốt chức năng sinh thành, nuôi
dạy con cái - thế hệ lao động tương lai của
đất nước
Pháp luật lao động bảo vệ lao động nữ
trong mọi lĩnh vực của quan hệ lao động như
việc làm, tiền lương, chấm dứt hợp đồng, sa
thải nhưng đặc biệt nhất vẫn là trong lĩnh
vực bảo hiểm xã hội - lĩnh vực vừa liên quan
đến chức năng lao động xã hội vừa liên quan
đến thiên chức làm mẹ của đối tượng lao
động này Đã có nhiều văn bản quy định về
bảo hiểm xã hội trong đó có đề cập quyền lợi
của lao động nữ như Bộ luật lao động đã được sửa đổi bổ sung năm 2002, Nghị định số 12/CP của Chính phủ ngày 26/1/1995 ban hành Điều lệ bảo hiểm xã hội, Nghị định số 01/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 9/1/2003
về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều
lệ bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định
số 12/CP, Thông tư số 07/2003/TT-BLĐTBXH ngày 12/3/2003 của Bộ lao động - thương binh
và xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 01/2003/NĐ-CP
Qua quá trình thực hiện phần lớn các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ đã phù hợp với thực tế cũng như những yếu tố đặc thù của họ Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn không tránh khỏi một số các quy định của pháp luật vẫn còn bất cập, chưa sát với thực tế ảnh hưởng đến quyền lợi của lao động nữ (mặc dù Bộ luật lao động sửa đổi bổ sung năm 2002 đã có những sửa đổi so với trước) Vì vậy, trong bài viết này chúng tôi xin được đề cập những quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ, phân tích những điểm còn bất cập của pháp luật và trên cơ sở đó đưa ra phương hướng hoàn thiện Cũng cần phải nói rằng khi tham gia bảo hiểm xã hội, lao động nữ cũng sẽ được hưởng tất cả các chế độ bảo
V
* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2hiểm xã hội (gồm chế độ ốm đau, thai sản,
tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp, hưu trí
và tử tuất) như những lao động khác (gồm cả
lao động nam và nữ) khi có các điều kiện
bảo hiểm xã hội phát sinh Song trong bài
viết này chúng tôi chỉ xin được đề cập những
quy định riêng về bảo hiểm xã hội đối với
lao động nữ thể hiện yếu tố đặc thù của đối
tượng lao động này Điều này được thể hiện
ở một số khía cạnh sau đây:
1 Chế độ nghỉ để chăm sóc con ốm
Đây là một trong những quyền lợi của
người lao động nữ được quy định trong chế
độ bảo hiểm xã hội ốm đau Theo đó, lao
động nữ tham gia bảo hiểm xã hội có con
dưới 7 tuổi bị ốm đau thì sẽ được nghỉ việc
để chăm sóc con ốm và trong thời gian đó
được hưởng bảo hiểm xã hội Thời gian tối
đa được nghỉ việc và hưởng bảo hiểm xã hội
trong trường hợp này là 20 ngày trong 1 năm
nếu con dưới 3 tuổi Trường hợp con từ 3
tuổi đến dưới 7 tuổi thì thời gian nghỉ tối đa
trong 1 năm là 15 ngày Mức trợ cấp bảo
hiểm khi nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau
là 75% mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo
hiểm xã hội trước khi nghỉ việc
Việc cho phép lao động nữ được nghỉ
việc để chăm sóc con ốm đau và hưởng bảo
hiểm xã hội là hoàn toàn hợp lí, phù hợp với
thực tế và thiên chức làm mẹ của lao động
nữ Trong khoảng thời gian từ 3 tuổi đến 7
tuổi trẻ em không thể tránh khỏi những lúc
ốm đau bệnh tật và trong những trường hợp
đó người mẹ phải nghỉ việc để chăm sóc là
điều tất yếu Thời gian nghỉ việc này cũng
không thể buộc người sử dụng lao động phải
chịu trách nhiệm trong việc đảm bảo thu
nhập cho người lao động bởi nếu thế sẽ chẳng đơn vị sử dụng lao động nào dám nhận lao động nữ Vì vậy, việc đảm bảo thu nhập cho lao động nữ trong trường hợp này chỉ có thể thuộc bảo hiểm xã hội
Khoảng thời gian pháp luật cho phép lao động nữ nghỉ việc để chăm sóc con 15 ngày hay 20 ngày trong 1 năm (tuỳ thuộc vào độ tuổi của con) về cơ bản là phù hợp với thực
tế Tuy nhiên, khoảng thời gian này sẽ chỉ phù hợp trong trường hợp ốm đau thông thường Còn đối với những trường hợp trẻ
em bị mắc các bệnh cần điều trị dài ngày thì khoảng thời gian này sẽ là quá ngắn ngủi Hơn nữa, pháp luật cũng đã quy định nếu cả
bố và mẹ đều tham gia bảo hiểm thì chỉ 1 người được hưởng bảo hiểm khi nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau Vậy nếu chẳng may người lao động có con bị mắc bệnh cần điều trị dài ngày (như bệnh tim, bệnh lao phổi ) thì sẽ như thế nào Chắc chắn trong trường hợp đó người lao động nữ dù không muốn cũng vẫn phải nghỉ việc và điều đó sẽ không chỉ ảnh hưởng đến thu nhập mà còn ảnh hưởng đến việc làm của họ Nguy cơ mất việc làm rất dễ có thể xảy ra Không phải chủ sử dụng lao động nào cũng có thể thông cảm được với người lao động trong những trường hợp này
Đối với bản thân người lao động khi bị
ốm đau, pháp luật cũng đã chia ra làm 2 loại thời gian nghỉ cho phù hợp Đó là trường hợp ốm đau thông thường và trường hợp mắc các bệnh cần điều trị dài ngày Thời gian nghỉ việc để điều trị bệnh dài ngày dài gấp 3 lần so với trường hợp ốm đau thông thường (thời gian nghỉ việc cho ốm đau
Trang 3thông thường cao nhất là 60 ngày, thời gian
nghỉ việc đối với các bệnh cần điều trị dài
ngày là 180 ngày) Đặc biệt, pháp luật còn
quy định đối với người lao động mắc các
bệnh cần điều trị dài ngày mà hết thời hạn
180 ngày còn phải điều trị thêm thì thời gian
điều trị thêm vẫn hưởng trợ cấp nhưng ở
mức thấp hơn Tuy nhiên, thời gian điều trị
thêm là bao lâu thì pháp luật lại không quy
định Vì vậy, thiết nghĩ pháp luật đã quy định
về thời gian nghỉ đối với người lao động mắc
các bệnh cần điều trị dài ngày thì cũng nên
quy định về thời gian nghỉ đối với trường hợp
người lao động có con dưới 7 tuổi ốm đau
mắc các bệnh cần điều trị dài ngày Thời gian
nghỉ việc được hưởng bảo hiểm xã hội trong
trường hợp này phải dài hơn so với các
trường hợp ốm đau thông thường
2 Chế độ trợ cấp thai sản
Đây là chế độ bảo hiểm xã hội đặc thù
của lao động nữ bởi nó phản ánh rõ nét nhất
chức năng sinh đẻ và làm mẹ của đối tượng
lao động này Mục đích chủ yếu của chế độ
này là nhằm đảm bảo và hỗ trợ những điều
kiện vật chất và tinh thần cho lao động nữ
khi họ bị giảm hoặc bị mất thu nhập do thực
hiện thiên chức của mình Vì vậy, chế độ trợ
cấp thai sản chủ yếu được áp dụng cho lao
động nữ khi mang thai, sẩy thai hoặc khi
sinh con nếu họ có tham gia bảo hiểm xã
hội Theo đó, khi mang thai lao động nữ
được nghỉ việc để đi khám thai 3 lần, mỗi
lần 1 ngày, trường hợp ở xa tổ chức cơ quan
y tế hoặc người mang thai có bệnh lí thì
được nghỉ việc 2 ngày cho mỗi lần khám
thai Trường hợp sẩy thai, lao động nữ được
nghỉ việc 20 ngày nếu thai dưới 3 tháng tuổi,
nghỉ 30 ngày nếu thai từ 3 tháng tuổi trở lên Tuỳ thuộc vào điều kiện lao động và môi trường sống mà khi sinh con, lao động nữ được nghỉ từ 4 tháng đến 6 tháng Nếu sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi mỗi con người mẹ còn được nghỉ thêm 30 ngày Trường hợp người lao động muốn đi làm sớm hơn thời hạn thì phải báo trước cho chủ
sử dụng lao động ít nhất là một tuần, phải nghỉ được 60 ngày kể từ ngày sinh con và phải có giấy chứng nhận của thầy thuốc về việc trở lại làm việc sớm không có hại cho sức khoẻ Trong trường hợp này, ngoài tiền lương, người lao động vẫn được hưởng bảo hiểm cho đến hết thời gian nghỉ theo quy định của pháp luật
Trường hợp sau khi sinh con mà con dưới 60 ngày tuổi chết, lao động nữ được nghỉ 75 ngày kể từ ngày sinh con Còn trường hợp con trên 60 ngày tuổi chết thì người mẹ được nghỉ 15 ngày kể từ ngày con chết nhưng không vượt quá quy định chung Nếu lao động nữ nuôi con nuôi sơ sinh thì cũng được nghỉ việc để chăm sóc con đến khi con đủ 4 tháng tuổi Mức trợ cấp thai sản được tính bằng 100% mức tiền lương làm căn
cứ đóng bảo hiểm xã hội trước khi nghỉ việc Ngoài ra, khi sinh con lao động nữ còn được nhận trợ cấp một lần bằng một tháng lương Chế độ trợ cấp thai sản mà đặc biệt là thời gian nghỉ việc để hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật hiện hành được các chuyên gia của tổ chức lao động quốc tế đánh giá là rộng rãi, là ưu đãi đối với lao động nữ so với các nước trong khu vực (ở Singapore thời gian lao động nữ nghỉ việc hưởng trợ cấp thai sản là 8 tuần, Thái Lan là
Trang 43 tháng, ở Philippine là 60 ngày trong trường
hợp đẻ thường và 78 ngày trong trường hợp
mổ đẻ) Đặc biệt là đã có sự tách bạch giữa
chính sách kế hoạch hoá dân số với chế độ
trợ cấp thai sản (trước đây pháp luật lao
động chủ yếu chỉ cho phép lao động nữ được
hưởng trợ cấp thai sản khi sinh con lần thứ
nhất, thứ hai; nay không khống chế số lần
sinh con được hưởng bảo hiểm xã hội) Hiện
nay, cũng có một số quan điểm cho rằng
pháp luật nên quy định thêm điều kiện về
thời gian đóng bảo hiểm xã hội trước khi
hưởng chế độ, để tránh sự lạm dụng ảnh
hưởng đến tài chính của quỹ Điều này cũng
là hợp lí nếu nhìn từ góc độ bảo toàn và phát
triển quỹ bảo hiểm xã hội Song nếu xem xét
dưới góc độ bản chất, mục đích của bảo hiểm
xã hội thì vấn đề này không cần thiết phải đặt
ra Bởi lẽ, bảo hiểm xã hội không chỉ thực
hiện theo nguyên tắc phân phối theo lao động
mà còn tuân thủ theo nguyên tắc lấy số đông
bù cho số ít Hơn nữa, nếu có sự lạm dụng
trong trường hợp này thì cũng chỉ là sự hãn
hữu bởi trong điều kiện ở Việt Nam hiện nay
sẽ rất hiếm có những trường hợp chủ sử dụng
lao động thiết lập quan hệ với lao động nữ khi
biết họ đã có thai Vì vậy, thiết nghĩ nên để
nguyên như quy định hiện nay là hợp lí
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn vấn đề
cần phải xem xét Đó là:
Đối với khoản trợ cấp một lần bằng một
tháng lương cho lao động nữ khi sinh con
không nên tính trên mức tiền lương đóng bảo
hiểm xã hội như hiện nay Bởi, mục đích cơ
bản của khoản trợ cấp này là giúp cho người
mẹ sắm sửa vật dụng cần thiết khi sinh con
và tăng cường sức khoẻ sau khi sinh nên có
lẽ cũng không cần thiết phải căn cứ vào mức
độ đóng góp Do vậy, nên chăng pháp luật cũng nên quy định một mức chung, một khoản tiền cụ thể cho mọi trường hợp lao động nữ khi sinh con như pháp luật một số nước (Ví dụ như ở Thái Lan trợ cấp một lần
là 4000 bạt, Nhật Bản là 300.000 yên)
3 Chế độ hưu trí
Đây là một trong những chế độ mà người lao động nói chung, lao động nữ nói riêng hết sức quan tâm khi tham gia quan hệ bảo hiểm xã hội Với việc sửa đổi bổ sung Bộ luật lao động năm 2002, quyền lợi của lao động nữ khi về hưu đã được quan tâm chú ý hơn so với trước Theo quy định của pháp luật, điều kiện chung nhất để lao động nữ được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng là đủ
55 tuổi, có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên và trong một số trường hợp họ còn được giảm đi 5 tuổi
Tuy nhiên, điều đáng chú ý là lương hưu hàng tháng của lao động nữ được tính khác
so với lao động nam Người lao động có đủ
15 năm đóng bảo hiểm xã hội được tính bằng 45% mức bình quân của tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội, sau
đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được tính thêm 3% đối với lao động nữ, 2% đối với lao động nam nhưng tối đa là bằng 75% mức bình quân tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội Vì vậy, mặc
dù kém lao động nam 5 tuổi đời và 5 năm đóng bảo hiểm song lao động nam và lao động nữ vẫn được hưởng tỉ lệ lương hưu hàng tháng tối đa như nhau Điều này là hợp
lí bởi thực tế lao động nữ về hưu sớm hơn lao động nam 5 tuổi nên để đảm bảo quyền
Trang 5lợi cho lao động nữ cũng như góp phần làm
cân bằng chế độ hưu trí giữa lao động nữ và
lao động nam thì lao động nữ có 25 năm
đóng bảo hiểm xã hội cũng được hưởng như
lao động nam làm việc 30 năm (Điều 27
Nghị định số 12/CP)
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là tuy cùng
được hưởng mức lương hưu hàng tháng tối
đa bằng 75% nhưng lương hưu của lao động
nam và lao động nữ chưa chắc đã ngang
nhau dù ở cùng một ngạch, một trình độ Bởi
lẽ, đối với những lao động đóng bảo hiểm xã
hội theo hệ thống thang bảng lương của Nhà
nước thì mức bình quân tiền lương tháng làm
căn cứ đóng bảo hiểm xã hội là mức lương
trung bình của 5 năm về cuối trước khi nghỉ
hưu Song với những quy định của pháp luật
về tiền lương hiện nay thì người lao động
thông thường cứ 3 năm nâng một bậc lương
(không phân biệt nam hay nữ) Vì vậy, đến
khi về hưu, lương của lao động nữ chưa chắc
đã bằng lao động nam dẫn đến mức tiền
lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của
họ sẽ khác nhau và đương nhiên lương hưu
của họ cũng khác nhau Do đó, khi xây dựng
và cải cách chế độ tiền lương mới các nhà
làm luật cần xem xét vấn đề này để có những
biện pháp thích hợp đảm bảo quyền lợi cho
lao động nữ Chẳng hạn như thiết kế hệ
thống thang bảng lương sao cho khi đến gần
độ tuổi nghỉ hưu, lao động nữ có thể đạt đến
bậc lương cuối cùng, bậc cao nhất của ngạch
lương hoặc thang lương đó
Ngoài ra, độ tuổi nghỉ hưu của lao động
nữ hiện nay cũng là một vấn đề cần được
xem xét và quy định lại cho phù hợp hơn
Theo quy định hiện hành thì tuổi nghỉ hưu đối với lao động nữ làm việc trong điều kiện bình thường là 55 tuổi, trường hợp người lao động có 15 năm làm công việc nặng nhọc độc hại thì tuổi nghỉ hưu được giảm xuống
50 tuổi Song thực tế hiện nay, trong khu vực sản xuất kinh doanh tuổi nghỉ hưu ở khu vực này đang có xu hướng giảm xuống đặc biệt
là lao động làm nghề nặng nhọc độc hại Nhiều trường hợp (đặc biệt là lao động nữ)
đã buộc phải về hưu trước tuổi do sức khoẻ
bị suy giảm không thể tiếp tục làm việc đến khi đủ tuổi theo quy định chung của Bộ luật lao động và điều lệ bảo hiểm xã hội Những trường hợp cố gắng ở lại làm việc thì tỏ ra rất mệt mỏi và năng suất lao động không cao Vì vậy, thiết nghĩ cần phải giảm tuổi nghỉ hưu cho những lao động nói chung, lao động nữ nói riêng làm việc trong những ngành nghề nặng nhọc độc hại (có thể giảm
từ 2 đến 3 tuổi) Điều đó không những vừa đảm bảo quyền lợi cho lao động nữ lại vừa
có thể bảo đảm quyền lợi cho doanh nghiệp, tạo điều kiện để doanh nghiệp có thể thiết lập được các quan hệ với những lao động có sức khoẻ hơn
Tóm lại, với những quy định của pháp luật hiện hành, quyền lợi của lao động nữ trong lĩnh vực về bảo hiểm xã hội về cơ bản
đã được đảm bảo, đã thể hiện được sự quan tâm ưu đãi của Nhà nước đối với họ Tuy vậy vẫn còn một số vấn đề đòi hỏi cần phải được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện nhằm đảm bảo hơn nữa quyền lợi cho lao động nữ Song trong quá trình hoàn thiện cần lưu ý rằng quan tâm ưu đãi đối với lao động nữ khác với việc phân biệt đối xử với lao động nữ./