Bên cạnh đó, chính sách tiền tệ là một công cụ cực kì quan trọng của nhà nước trong điều hành nền kinh tế thị trường vì nó có ảnh hưởng lớn đến các biến số vĩ mô như: công ăn việc làm, t
Trang 1-
VŨ THỊ PHƯƠNG THỦY
TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2013
Trang 2-
VŨ THỊ PHƯƠNG THỦY
TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN QUỐC KHANH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Nội dung và số liệu phân tích trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của học viên và chưa được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào
Học viên
Vũ Thị Phương Thủy
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
DANH MỤC CÁC HÌNH
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ LẠM PHÁT 4
1.1 Chính sách tiền tệ: 4
1.1.1 Khái niệm chính sách tiền tệ 4
1.1.2 Phân loại chính sách tiền tệ 5
1.1.3 Các công cụ của chính sách tiền tệ 5
1.1.4 Vai trò của các công cụ thực thi chính sách tiền tệ 8
1.2 Lạm phát, nguyên nhân và tác động của lạm phát đến nền kinh tế 10
1.2.1 Khái niệm về lạm phát 10
1.2.2 Phân loại lạm phát 12
1.2.3 Nguyên nhân của lạm phát 13
1.2.4 Tác động của lạm phát đến nền kinh tế 15
1.2.5 Các biện pháp kiểm soát lạm phát 17
1.3 Mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và lạm phát trong một nền kinh tế 18
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM 23
2.1 Tóm tắt thực trạng chính sách tiền tệ và lạm phát 23
2.1.1 Chính sách tiền tệ và lạm phát từ năm 1995 - 1999 23
Chính sách tiền tệ và lạm phát từ năm 2000 - 2005 23
Trang 52.1.3 Chính sách tiền tệ và lạm phát từ năm 2006 - 2012 24
2.2 Tổng quan về các nghiên cứu tác động điển hình về chính sách tiền tệ và lạm phát ở các nước 29
2.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới 29
2.2.2 Các nghiên cứu trong nước 31
2.3 Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu 32
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu 32
2.3.2 Mô tả dữ liệu 33
2.3.3 Cung tiền (M2) 33
2.3.4 Lãi suất (DR) 34
2.3.5 Tỷ giá danh nghĩa (ER) 35
2.3.6 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 35
2.4 Nội dung các kiểm định 36
2.4.1 Kiểm định tính dừng 36
2.4.2 Xác định độ trễ 39
2.4.3 Phân tích đồng liên kết Johansen 41
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1995 – 2013 44
3.1 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu lạm phát và chính sách tiền tệ 44
3.2 Xác định độ trễ tối ưu của chuỗi dữ liệu lạm phát và chính sách tiền tệ 45
3.3 Phân tích đồng liên kết Johansen 47
3.4 Phân tích VAR chuỗi số liệu lạm phát và và chính sách tiền tệ 52
3.4.1 Xem xét phản ứng của CPI đối với M2, DR, ER 52
3.4.2 Xem xét phản ứng CPI đối với M2, ER 54
3.4.3 Xem xét phản ứng CPI đối với M2, DR 55
3.4.4 Xem xét phản ứng CPI đối với DR, ER 57
3.4.5 Phản ứng của CPI đối với các công cụ riêng lẻ của chính sách tiền tệ 58
Trang 64.2 Nhóm giải pháp nhằm tạo điều kiện, môi trường thuận lợi 64
4.3 Nhóm giải pháp hoàn thiện và nâng cao năng lực điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước 65
4.4 Nhóm giải pháp về việc hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệ 66
4.4.1 Đối với công cụ hạn mức tín dụng 66
4.4.2 Đối với công cụ lãi suất 67
4.4.3 Đối với công cụ dự trữ bắt buộc 68
4.4.4 Đối với công cụ cho vay tái chiết khấu 69
4.4.5 Đối với công cụ nghiệp vụ thị trường mở 70
4.4.6 Đối với công cụ tỷ giá 71
KẾT LUẬN 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: MÔ TẢ DỮ LIỆU
PHỤ LỤC 2: KIỂM ĐỊNH NGHIỆM CPI
PHỤ LỤC 3: KIỂM ĐỊNH NGHIỆM DR
PHỤ LỤC 4: KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ER
PHỤ LỤC 5: KIỂM ĐỊNH NGHIỆM M2
PHỤ LỤC 6: XÁC ĐỊNH TRỄ TỐI ƯU
PHỤ LỤC 7: KIỂM ĐỊNH ĐỒNG LIÊN KẾT JOHANSEN
PHỤ LỤC 8: VAR CPI M2 ER DR
PHỤ LỤC 10: VAR CPI M2 DR
PHỤ LỤC 11: VAR CPI ER DR
PHỤ LỤC 12: VAR CPI M2
PHỤ LỤC 13: VAR CPI DR
Trang 7N/A: không áp dụng từ Tiếng Anh
Trang 8Bảng 3.2 Kết quả kiểm định tính dừng bằng ADF có trend
Bảng 3.3: Xác định trễ tối ưu theo các tiêu chuẩn kiểm định
Bảng 3.4: Kiểm định Portmanteau và LM
Bảng 3.5: Bảng tóm lược mối quan hệ dài hạn giữa lạm phát và chính sách tiền tệ
Trang 9DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
Đồ thị 1: Tình hình cung tiền M2 qua các năm
Đồ thị 2: Tình hình lãi suất qua các năm
Đồ thị 3: Tình hình tỷ giá qua các năm
Đồ thị 4: Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng Việt Nam qua các năm
Trang 10Hình 3.2: Đồ thị phản ứng của lạm phát với ER, M2
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Bàn về chính sách tiền tệ và các mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế trong đó có lạm phát luôn là vấn đề thường trực trong thực tiễn của kinh tế học cũng như trong việc điều hành chính sách nhà nước Bên cạnh đó, chính sách tiền tệ là một công cụ cực kì quan trọng của nhà nước trong điều hành nền kinh tế thị trường vì nó có ảnh hưởng lớn đến các biến số vĩ mô như: công ăn việc làm, tốc độ tăng trưởng, lạm phát Để đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ thì việc sử dụng các công cụ của nó có vai trò cơ bản, quyết định Tuy nhiên, tác động của chính sách tiền tệ lên các mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế trong đó có lạm phát ở từng thời điểm, từng hoàn cảnh có những sắc thái riêng khác nhau
Ở Việt Nam kể từ khi đổi mới đến nay, chính sách tiền tệ đặc biệt là các công cụ của nó đang từng bước hình thành, hoàn thiện và phát huy tác dụng đối với nền kinh tế Với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam thì việc lựa chọn các công cụ nào, sử dụng nó ra sao ở các giai đoạn cụ thể của nền kinh tế luôn là một vấn đề thường xuyên phải quan tâm theo dõi và giải quyết đối với các nhà hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, các nhà nghiên cứu kinh tế Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập của nước ta hiện nay thì việc nghiên cứu về chính sách tiền tệ cụ thể là các công cụ của chính sách tiền tệ là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực
tiễn cao Xuất phát từ yêu cầu đó, đề tài: “Tác động chính sách tiền tệ đến lạm phát tại Việt Nam” được lựa chọn nghiên cứu
Trang 12- Từ kết quả kiểm định, tác giả đưa ra những gợi ý về điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiêm cứu:
- Nghiên cứu những vấn đề về lý luận liên quan đến chính sách tiền tệ và lạm phát; những tác động của chính sách tiền tệ đến lạm phát theo phương diện lý thuyết cũng như thực tiễn của Việt Nam
- Chính sách tiền tệ có rất nhiều công cụ tác động đến lạm phát với đề tài này tác giả lựa chọn có ba công cụ trong chính sách tiền tệ để khảo sát và chạy mô hình Ba công cụ đó là cung tiền M2, lãi suất tiền gửi và tỷ giá hối đoái
- Đánh giá thực trạng tác động chính sách tiền tệ đến lạm phát Việt Nam giai đoạn quý 1 năm 1995 đến quý 1 năm 2013
4 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng Trong phân tích định lượng, luận văn sử dụng mô hình VAR (công cụ tin học Eviews), mô hình VAR được xem là linh hoạt vì nó có thể chứa nhiều mối quan hệ qua lại giữa các biến số kinh tế vĩ mô, dựa trên lý thuyết kinh tế và lần lượt cho phép ta xác định được những cú sốc tiền tệ trực giao Trong mô hình này, tác giả thiết lập mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và lạm phát, sau đó đánh giá tác động của chính sách tiền tệ đến lạm phát và sử dụng một số mô hình kinh tế lượng khác với các cơ sở dữ liệu quý Nguồn số liệu lấy từ Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng nhà nước
5 Những điểm mới và hạn chế của luận văn:
Điểm mới của đề tài này là xem xét diễn biến khi kết hợp đồng thời ba công
cụ hay kết hợp 1 - 2 công cụ chính sách tiền tệ hoặc xem xét riêng lẻ từng công cụ
là cung tiền M2, lãi suất tiền gửi và tỷ giá hối đoái tác động đến lạm phát Ngoài ra, tác giả dùng phương pháp đồng liên kết Johansen xem xét sự điều chỉnh của ba công cụ chính sách tiền tệ trong cân bằng dài hạn Bên cạnh đó, tác giả dùng hàm phản ứng đẩy của mô hình vector tự quy (VAR) để xem ngay khi có tác động lạm phát trong ngắn hạn thì ba công cụ của chính sách tiền tệ có tính động tăng hay giảm Bộ dữ liệu nghiên cứu là từ quý 1 năm 1995 đến quý 1 năm 2013
Trang 13Việc xem xét ba công cụ của chính sách tiền tệ là tỷ giá hối đoái, lãi suất tiền gửi, cung tiền M2 tác động đến lạm phát cũng là một hạn chế vì trên thực tế còn nhiều các công cụ tiền tệ khác có tác động tới lạm phát như nghiệp vụ thị trường
mở, lãi suất chiết khấu, hạn mức tín dụng
6 Kết cấu của đề tài: Đề tài có 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách tiền tệ và lạm phát
Trong chương này, tác giả viết về các luận điểm lý thuyết về chính sách tiền
tệ như khái niệm, phân loại chính sách tiền tệ, các công cụ và vai trò của chích sách tiền tệ Về lạm phát, tác giả viết về khái niệm, phân loại, nguyên nhân và tác động của lạm phát đến nền kinh tế cũng như mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và lạm phát
Chương 2: Phân tích tác động của chính sách tiền tện đến lạm phát tại Việt
Nam
Đối với chương này, tác giả trình bày thực trạng chính sách tiền tệ giai đoạn
1995 – 2012, mô tả các biến được dùng trong nghiên cứu và nội dung các kiểm định
mà tác giả sử dụng trong đề tài này
Chương 3: Kết quả nghiên cứu tác động chính sách tiền tệ đến lạm phát Việt
Nam giai đoạn 1995 - 2013
Trong chương này, tác giả trình bày kết quả chạy mô hình VAR mà tác giả
đã khảo sát trong giai đoạn nghiên cứu
Chương 4: Giải pháp kiểm soát tác động của chính sách tiền tệ đến lạm phát
tại Việt Nam đến năm 2015
Đối với chương này, tác giả nêu lên một số giải pháp kiểm soát tác động của các công cụ chính sách tiền tệ đến lạm phát như là tạo điều kiện, môi trường thuận lợi và nâng cao năng lực điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hành nhà nước để việc điều hành chính sách tiền tệ có hiệu quả
Trang 14CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ LẠM PHÁT 1.1 Chính sách tiền tệ:
1.1.1 Khái niệm chính sách tiền tệ
Trong kinh tế học vĩ mô, chính sách tiền tệ được coi là một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô do ngân hàng trung ương (NHTW) thực hiện Chính sách tiền tệ (CSTT) là tổng thể các biện pháp, các công cụ của NHTW sử dụng để điều tiết khối lượng tiền, tín dụng nhằm ổn định tiền tệ, thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ Thực chất CSTT là chính sách cung tiền của NHTW NHTW căn cứ vào thực trạng của nền kinh tế, thực trạng điều chỉnh lượng tiền cung ứng bằng cách tăng hay giảm khối lượng cung tiền cho phù hợp với tổng cầu, nhằm duy trì sự cân bằng giữa cung và cầu tiền
Chính sách tiền tệ có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa thông thường Theo nghĩa rộng thì CSTT là chính sách điều hành toàn bộ khối lượng tiền trong nền kinh tế quốc dân nhằm tác động đến 4 mục tiêu lớn của kinh tế vĩ mô, trên cơ
sở đó đạt được mục tiêu cơ bản là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua của đồng tiền,
ổn định giá cả Theo nghĩa thông thường là chính sách quan tâm đến khối lượng tiền cung ứng trong thời kỳ tới (thường là một năm) phù hợp với mức tăng trưởng kinh
tế dự kiến và chỉ số lạm phát nếu có, tất nhiên cũng nhằm ổn định tiền tệ và ổn định giá cả hàng hóa
Chúng ta có thể khẳng định rằng, nếu như chính sách tài chính chỉ tập trung vào thành phần Kết cấu các mức chi phí thuế khóa của nhà nước, thì CSTT quốc gia tập trung vào mức độ khả năng thanh toán cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, bao gồm việc đáp ứng khối lượng tiền cung ứng cho lưu thông, điều hành hệ thống tiền
tệ và khối lượng tín dụng đáp ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện và thúc đẩy hoạt động của thị trường tiền tệ, thị trường vốn theo những quỹ đạo đã định, kiểm soát hệ thống các ngân hàng thương mại, cùng với việc xác định tỷ giá hối đoái hợp
lý nhằm ổn định và thúc đẩy kinh tế ngoại thương nhằm mục tiêu cuối cùng là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua của đồng tiền, ổn định giá cả hàng hóa Chính vì vậy chính sách tiến tệ tác động nhạy bén tới lạm phát
Trang 151.1.2 Phân loại chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ thường là chính sách mở rộng, hoặc là chính sách thắt chặt, một chính sách mở rộng làm gia tăng tổng cung tiền trong nền kinh tế hoặc làm giảm lãi suất, và một chính sách thắt chặt làm giảm quy mô cung tiền hoặc gia tăng lãi suất Theo truyền thống chính sách mở rộng được dùng để chống nạn thất nghiệp trong tình trạng suy thoái bằng cách hạ thấp lãi suất, trong khi chính sách thắt chặt nhằm mục tiêu tăng lãi suất để chống lạm phát (hoặc làm nguội nền kinh tế quá nóng)
Chính sách tiền tệ mở rộng: khi nền kinh tế thiếu tiền thì NHNN sẽ bơm một lượng tiền vào nền kinh tế qua các ngân hàng thương mại bằng các công cụ điều tiết
vĩ mô như: lãi suất tái chiết khấu, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thụ trường mở, lãi suất cơ bản
Chính sách tiền tệ thu hẹp: khi nền kinh tế thừa tiền thì NHNN sẽ rút bớt một lượng tiền ra khỏi nến kinh tế cũng qua các ngân hàng thương mại và bằng các công
cụ điều tiết
Chính sách tiền tệ trong tương lai được coi là thích hợp nếu chuyên gia tiền
tệ ở Trung ương quy định lãi suất dự định dùng nó để khuyến khích phát triển kinh
tế, trung lập nếu dự định không dùng nó để khuyến khích phát triển kinh tế hay chống lạm phát, hoặc là chặt nếu dự định dùng nó để giảm lạm phát
1.1.3 Các công cụ của chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ có 6 công cụ sau:
Công cụ tái cấp vốn: là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Trung ương đối
với các Ngân hàng thương mại Khi cấp 1 khoản tín dụng cho Ngân hàng thương mại, Ngân hàng Trung ương đã tăng lượng tiền cung ứng đồng thời tạo cơ sở cho Ngân hàng thương mại tạo bút tệ và khai thông khả năng thanh toán của họ
Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc: là tỷ lệ giữa số lượng phương tiện cần vô hiệu
hóa trên tổng số tiền gửi huy động, nhằm điều chỉnh khả năng thanh toán (cho vay) của các Ngân hàng thương mại
Trang 16Công cụ nghiệp vụ thị trường mở: là hoạt động Ngân hàng Trung ương mua
bán giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, điều hòa cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối lượng dự trữ của các Ngân hàng thương mại, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng của các Ngân hàng thương mại dẫn đến làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ
Công cụ lãi suất tín dụng: đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện
chính sách tiền tệ bởi vì sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền trong lưu thông, mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất Nó
là 1 công cụ rất lợi hại Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể những chủ trương chính sách và giải pháp cụ thể của Ngân hàng Trung ương nhằm điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong từng thời kỳ nhất định
Công cụ hạn mức tín dụng: là 1 công cụ can thiệp trực tiếp mang tính hành
chính của Ngân hàng Trung ương để khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà Ngân hàng Trung ương buộc các Ngân hàng thương mại phải chấp hành khi cấp tín dụng cho nền kinh
tế
Tỷ giá hối đoái: tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và
đồng ngoại tệ Nó vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa là biểu hiên quan hệ cung cầu ngoại hối Tỷ giá hối đoái là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại
tệ, tác động mạnh đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước Chính sách tỷ giá tác động một cách nhạy bén đến tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hóa, tình trạng tài chính, tiện tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút vốn đầu tư, dự trữ của đất nước Về thực chất tỷ giá không phải là công cụ của chính sách tiền tệ vì tỷ giá không làm thay đổi lượng tiền tệ trong lưu thông Tuy nhiên ở nhiều nước, đặc biệt là các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi coi tỷ giá là công
cụ hỗ trợ quan trọng cho chính sách tiền tệ
Tuy nhiên, có một cách phân loại khác là căn cứ vào mức độ và phương pháp tác động, các công cụ chính sách tiền tệ thông thường được chia thành 2 loại: công
cụ trực tiếp và công cụ gián tiếp Hệ thống các công cụ trực tiếp thường được áp
Trang 17dụng phổ biến ở các quốc gia mà hoạt động tài chính tiền tệ chiụ sự kiểm soát chặt chẽ đồng thời các yếu tố nền tảng của các công cụ chính sách tiền tệ và nền kinh tế chưa phát triển hoàn thiện, đó là các công cụ như ấn định lãi suất tiền gửi và cho vay, ấn định hạn mức tín dụng, phát hành tiền trực tiếp cho ngân sách và cho đầu tư, phát hành lượng trái phiếu nhà nước để làm giảm lượng tiền trong lưu thông… mang nặng biện pháp hành chính Trong khi đó, hệ thống các công cụ gián tiếp như
dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu và tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở, … lại thường sử dụng ở các quốc gia phát triển
Với đề tài nghiên cứu này, tác giả không khảo sát toàn bộ các công cụ của chính sách tiền tệ mà chỉ lựa chọn có 3 công cụ của chính sách tiền tệ để nghiên cứu Vì theo tác giả, ba công cụ này là 3 công cụ thường được ngân hàng nhà nước
(NHNN) Việt Nam sử dụng đó là cung tiền, lãi suất cơ bản và tỷ giá hối đoái
Cung tiền là một khái niệm dùng để chỉ lượng cung cấp tiền tệ trong nền kinh
tế nhằm đáp ứng nhu cầu mua hàng hóa, dịch vụ, tài sản, …của các cá nhân (hộ gia đình) và doanh nghiệp (không kể các tổ chức tín dụng) Để điều tiết lượng cung tiền của ngân hàng trung ương có thể thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng thương mại, qua đó thay đổi lượng tiền dự trữ R, và tổng lượng cung tiền M
Công thức tính lượng cung tiền:
m = M / H = (C+D) / (C+R)
Trong đó:
m là số nhân tiền tệ
M là tổng lượng cung tiền
H là lượng cung tiền có mãnh lực
C là lượng tiền mặt
D là lượng tiền gửi
R là lượng tiền mà các ngân hàng thương mại phải dự trữ và để trong tài khoản của họ tại ngân hàng trung ương
Ngoài ra, ngân hàng trung ương còn có thể điều chỉnh, bán các giấy tờ có giá của mình đối với các tổ chức tín dụng, từ đó tác động tới lượng vốn khả dụng của
Trang 18các tổ chức này Khi đó lượng cung tiền cũng sẽ được điều tiết thông qua công cụ nghiệp vụ thị trường mở
Lãi suất cơ bản là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của NHNN
trong ngắn hạn Theo Luật Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cơ bản chỉ áp dụng cho VND, do Ngân hàng Nhà nước công bố, làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh Lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở của NHNN, lãi suất huy động đầu vào của tổ chức tín dụng và xu hướng biến động cung cầu vốn Theo Luật Dân sự, các tổ chức tín dụng không được cho vay với lãi suất cao gấp rưỡi lãi suất cơ bản Như vậy lãi suất cơ bản là công cụ rất mạnh tác động trực tiếp đến lãi suất huy động
và cho vay của các NHTM
Tỷ giá hối đoái đóng vai trò quan trong trong việc điều tiết thương mại quốc
tế và góp phần làm ổn định nền kinh tế Sự thay đổi vể tỷ giá hối đoái sẽ kéo theo
sự thay đổi giá cả hàng hóa xuất nhập khẩu Đối với các quốc gia nhập siêu như Việt Nam, việc tăng hay giảm tỷ giá hối đoái đều có tác động mạnh mẽ đến giá cả hàng hóa trong nước
1.1.4 Vai trò của các công cụ thực thi chính sách tiền tệ
Vai trò của các công cụ thực thi CSTT chủ yếu để điều tiết kinh tế vĩ mô, thông thường khi nói đến mục tiêu kinh tế vĩ mô thường tập trung vào bốn mục tiêu chính sau:
* Tốc độ tăng trưởng kinh tế phản ánh qua tốc độ tăng trưởng GDP hay GNP
so với chỉ tiêu GDP/người vào những mốc thời gian nhất định Đây là mục tiêu bao trùm nhất của kinh tế vĩ mô phản ánh chung nhất về thành tựu phát triển của một nền kinh tế Tuy chỉ số báo này chưa phản ánh đầy đủ chất lượng của một nền kinh
tế, nhưng luôn luôn là chỉ số báo quan trọng nhất để đánh giá sự thành công hay thất bại của một nền kinh tế
* Kiểm soát giá cả thông qua chỉ số báo CPI hay thường nói là kiểm soát lạm phát là chỉ số báo quan trọng nhất phản ảnh tính ổn định của kinh tế vĩ mô Chỉ số
Trang 19báo còn được sử dụng như một công cụ giải quyết mối quan hệ giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế và an ninh xã hội
* Tạo việc làm mới cho xã hội, kiểm soát tỷ lệ thất nghiệp là chỉ số báo vừa phản ảnh tình trạng của nền kinh tế, vừa phản ảnh tính ổn định về mặt an ninh xã hội Thông thường ở các nước đây là chỉ số báo quan trọng không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà có ý nghĩa chính trị phản ánh năng lực quản lý và điều hành của một chính phủ Số việc làm mới tạo ra một năm còn phản ánh mối quan hệ giữa đầu tư với tăng trưởng kinh tế
* Tăng xuất nhập khẩu ròng (lấy kim ngạch xuất khẩu – kim ngạch nhập khẩu) nhất là đối với những nền kinh tế hướng về xuất khẩu
Để thực thi bốn mục tiêu kinh tế vĩ mô trên, Nhà nước thường sử dụng bốn nhóm chính sách hay còn gọi là nhóm các công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô như sau: + Chính sách tài khóa bao gồm chính sách thuế và chi tiêu của Chính phủ Đây
là chính sách quan trọng nhất vì nó không chỉ tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế mà còn có ý nghĩa dẫn dắt, định hướng thị trường Chính sách tài khóa thường rất linh hoạt để điều chỉnh kịp thời các mục tiêu kinh tế vĩ mô
+ Nhóm các CSTT được NHTW sử dụng để điều tiết thị trường tài chính mà trọng tâm là thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát ổn định giá cả Thông thường CSTT có ảnh hưởng mạnh nhất đến điều chỉnh tổng cầu của nền kinh tế thông qua các công cụ như: lãi suất, tỷ giá hối hoái, DTBB, tái chiết khấu, điều chỉnh cung tiền, các nghiệp vụ thị trường mở
+ Chính sách chi tiêu nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng
và điều tiết khối cầu của nền kinh tế Chính sách này được sử dụng thường xuyên trong trường hợp nền kinh tế trong tình trạng lạm phát hoặc giảm phát
+ Chính sách ngoại thương nhằm điều chỉnh mối quan hệ xuất nhập khẩu, đảm bảo mục tiêu tăng xuất khẩu ròng, đồng thời cũng điều tiết tổng cung và tổng cầu nội địa của nền kinh tế
Tóm lại: với vai trò là công cụ thực thi CSTT chủ yếu tác động đến sự vận
động của tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế CSTT của nước ta trong thời gian
Trang 20gần đây đã được Chính phủ sử dụng linh hoạt trong việc kiềm chế lạm phát và đang góp phần quan trọng trong việc ngăn chặn suy giảm kinh tế hiện nay CSTT chính là công cụ hỗ trợ các doanh nghiệp tái cấu trúc nhằm nâng cao sức cạnh tranh, thông qua việc sử dụng linh hoạt và hiệu quả các công cụ tiền tệ
1.2 Lạm phát, nguyên nhân và tác động của lạm phát đến nền kinh tế
1.2.1 Khái niệm về lạm phát
Lạm phát là một phạm trù vốn có của nền kinh tế thị trường, nó xuất hiện khi các yêu cầu của các quy luật kinh tế hàng hoá không được tôn trọng, nhất là quy luật lưu thông tiền tệ Ở đâu còn sản xuất hàng hoá, còn tồn tại những quan hệ hàng hoá tiền tệ thì ở đó còn tiềm ẩn khả năng xảy ra lạm phát và lạm phát chỉ xuất hiện khi các quy luật của lưu thông tiền tệ bị vi phạm Lạm phát đã trở thành mối quan tâm của rất nhiều người và hầu hết chúng ta đều có thể chứng kiến hay trải qua thời
kỳ lạm phát tùy theo mức độ khác nhau Do đó lạm phát được đề cập đến rất nhiều trong các công trình nghiêm cứu của các nhà kinh tế Mỗi người đều đưa ra khái niệm về lạm phát theo quan điểm, phương hướng nghiên cứu của mình Song, chúng ta vẫn chưa được thống nhất hoàn toàn về lạm phát Có thể kể ra một số quan điểm về lạm phát rất khác nhau như sau:
Trong bộ tư bản nổi tiếng của mình, Các Mác viết:”Việc phát hành tiền giấy phải được giới hạn ở số lượng vàng hoặc bạc thực sự lưu thông nhờ các đại diện tiền giấy của mình“ Điều này có nghĩa là khi khối lượng tiền giấy do Nhà nước phát hành vào lưu thông vượt qua số lượng vàng mà nó đại diện thì giá trị của tiền giấy giảm xuống, giá cả tăng vọt và tình trạng lạm phát xuất hiện
Từ đây, ông cho rằng lạm phát là “bạn đường “của chủ nghĩa tư bản.Không những chủ nghĩa tư bản bóc lột người lao động bằng giá trị thặng dư mà còn gây ra lạm phát giảm tiền lương của người lao động
Nhà kinh tế học Samuelson cho rằng : ”lạm phát xảy ra khi mức chung của giá
cả và chi phí tăng – giá bánh mì, dầu xăng, xe ô tô tăng, tiền lương, giá đất, tiền thuê tư liệu sản xuất tăng “ Ông thấy rằng lạm phát chính là biểu thị sự tăng lên của giá cả
Trang 21Còn Milton Friedman, nhà kinh tế học nhận giải thưởng Nobel kinh tế 1976, lại quan niệm khác:”Lạm phát là việc giá cả tăng nhanh và kéo dài “ Ông cho rằng lạm phát chỉ là biểu hiện của tăng lên quá mức của cung tiền Theo thuyết số lượng tiền tệ thì giữa các tham số cung tiền và giá cả trong nền kinh tế có mối quan hệ và được thể hiện qua công thức:
Một số nhà kinh tế thuộc phái tiền tệ và phái Keynes đều tán thành ý kiến đó của Friedman Họ cho rằng khi thị trường tiền tệ phát triển, ảnh hưởng đến nền kinh
tế quốc dân của mỗi nước thì lạm phát có thể xảy ra bất kì thời điểm nào Nó chính
là một hiện tượng tất yếu của tài chính – tiền tệ Tuy nhiên, quan điểm về lạm phát tiền tệ gặp phải một trở ngại là việc xác định khối lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông là không khả thi, vì thực tế tổng lượng hàng hoá, dịch vụ luân chuyển trong nền kinh tế luôn biến động Ngoài ra, vòng quay tiền cũng không ổn định và mục đích sử dụng tiền cũng luôn thay đổi Do vậy, chúng ta chỉ có thể nhận diện ra lạm phát qua dấu hiệu hàng hoá, dịch vụ tăng giá
Một định nghĩa nữa về lạm phát do các nhà kinh tế học hiện đại đưa ra và nó được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường:”Lạm phát là sự tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian“
Trang 22Xu hướng chủ yếu của các nhà kinh tế học đa phần là đồng tình tỷ lệ lạm phát cao gây ra bởi tỷ lệ gia tăng của cung tiền cao Quan điểm về các yếu tố xác định tỷ
lệ vừa phải của lạm phát, đặc biệt là trong thời gian ngắn, bị thay đổi nhiều: sự thay đổi của lạm phát đôi khi phần lớn được cho là những thay đổi trong những thay đổi thực của nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ hay là những thay đổi bất thường trong những nguồn hàng cung cấp có giá trị (ví dụ như những thay đổi làm khan hiếm), và đôi khi là những thay đổi trong nguồn cung hay nhu cầu đối với tiền Giữa thế kỉ 20,
có hai trường phái đã bất đồng gay gắt về nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát (ở mức độ vừa phải): các “nhà tiền tệ” đã tranh cãi rằng cung tiền có ảnh hưởng lớn đến tất cả các nhân tố khác trong việc xác định lạm phát, trong khi đó, những người theo thuyết kinh tế của Keynes đã phản đối rằng nhu cầu thực tế thì luôn quan trọng hơn những thay đổi trong cung tiền
1.2.2 Phân loại lạm phát
Tùy theo thiêu thức phân loại lạm phát mà có các loại lạm phát khác nhau Thông tường việc phân loại lạm phát dựa trên cơ sở định tính và định lượng
Về mặt định lượng, người ta phân loại lạm phát dựa trên tỷ lệ phần trăm lạm
phát được tính torng năm Theo đó, lạm phát được chia thành 3 loại như sau: lạm phát vửa phải, lạm phát phi mã và siêu lạm phát
Lạm phát vừa phải: là lạm phát ở mức 1 con số (tỷ lệ giá cả hàng hóa trong
khoảng 10% trở lại) ở mức độ vửa phải, giá cả tăng chậm, dao động xung quanh mức tăng tiền lương
Lạm phát phi mã: là lạm phát với tốc độ 2 con số (từ 20%/năm đến dưới
100%/năm), mức độ tăng giá cả hàng hóa lúc này giống như “Một con ngựa bất kham đang tung vó để chạy” Khi lạm phát phi mã xảy ra, sản xuất bị đình trệ, nền kinh tế tài chính bị phá hoại
Siêu lạm phát: là lạm phát với tốc độ 3 con số trở lên, thậm chí người ta
không thể đo lường lạm phát bằng con số % mà bằng số lần tăng giá trong năm Siêu lạm phát thường xảy ra do có biến cố lớn như chiến tranh, khủng hoảng chính trị dẫn đến đảo lộn trật tư xã hội Khi những biến cố lớn xảy ra, sự thâm thụt ngân
Trang 23sách khiến Chính phủ phải phát hành thêm tiền giấy để bù đắp dẫn đến siêu lạm phát
Về mặt định tính, lạm phát được chia thành nhiều loại khác nhau, tùy theo
tính chất của lạm phát mà người ta chia ra các loại cơ bản sau:
Lạm phát thuần túy: là trường hợp đặt biệt của lạm phát, hầu như giá cả của
mọi hàng hóa đều tăng cùng một tỷ lệ trong cùng một đơn vị thời gian
Lạm phát cân bằng: là loại lạm phát có mức giá chung tăng tương ứng với
thu nhập
Lạm phát được dự đoán trước: là lạm phát mà mọi người có thể dự đoán
trước nhờ vào sự diễn tiến liên tục theo chuỗi thời gian trong nhiều năm
Lạm phát không được dự đoán trước: là lạm phát xảy ra bất ngờ, ngoài sự
tiên liệu của mọi người về quy mô, cường độ cũng như mức độ tác động
Lạm phát cao và lạm phát thấp: lạm phát cao là lạm phát mà mức tỷ lệ tăng
thu nhập thấp hơn tỷ lệ lạm phát Ngược lại, lạm phát thấp là mức tăng thu nhập cao hơn mức độ tăng của tỷ lệ lạm phát
Như vậy, có thể phân loại theo nhiều mức độ khác nhau để có những biện pháp kiểm soát thích hợp Song biện pháp “phòng chống” hay “chữa trị” cũng còn phải căn cứ vào nguyên nhân gây “bệnh”
1.2.3 Nguyên nhân của lạm phát
Có nhiều nguyên nhân gây ra lạm phát Các nguyên nhân này có thể xuất phát từ phía tổng cầu trong nền kinh tế, cũng có thể xuất phát từ phía tổng cung và cũng có thể là nguyên nhân xuất hiện đồng thời ở cả phía cung lẫn cầu Khi quan sát thực tế, người ta nhận thấy rằng, trong môi trường có lạm phát thì bản thân môi trường đó cũng có thể có khả năng và là nguyên nhân thúc đẩy hoặc tiếp tục gây ra một chu trình lạm phát mới, tức là tạo một sự luẩn quẩn trong vòng xoáy lạm phát
Sự khác biệt về quan điểm lạm phát dẫn đến việc tìm ra nguyên nhân gây lạm phát cũng có nhiều quan điểm khác nhau Theo học thuyết Keynes, nguyên nhân gây ra lạm phát là do cầu kéo Theo học thuyết học thuyết, chi phí đẩy, lạm phát sinh ra do tăng chi phí sản xuất (chi phí đẩy) Theo học thuyết tiền tệ, lạm phát
Trang 24là kết quả của việc tăng quá thừa mức cung tiền Trên thực tế, lạm phát còn xuất hiện do các nguyên nhân mất cân đối trong nội tại của nền kinh tế Dưới đây, tác giả trình bày sơ lược một số nguyên nhân gây ra lạm phát
Lạm phát do cầu kéo: Kinh tế học Keynes cho rằng nếu tổng cầu cao hơn
tổng cung ở mức toàn dụng lao động, thì sẽ sinh ra lạm phát Trong khi đó,trường phái trọng tiền giải thích rằng do tổng cầu cao hơn tổng cung, người ta có cầu về tiền mặt cao hơn, dẫn tới cung tiền phải tăng lên để đáp ứng Do đó có lạm phát
Lạm phát do cầu thay đổi: Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi,
trong khi lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng
mà không thể giảm), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá Kết quả là mức giá chung tăng lên, nghĩa là lạm phát
Lạm phát do chi phí đẩy: Nếu tiền công danh nghĩa tăng lên, thì chi phí
sản xuất của các xí nghiệp tăng Các xí nghiệp vì muốn bảo toàn mức lợi nhuận của mình sẽ tăng giá thành sản phẩm Mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng tăng Lạm phát chi phí đẩy bắt nguồn từ các yếu tố bên tổng cung và ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế
Lạm phát do cơ cấu: Ngành kinh doanh có hiệu quả tăng tiền công danh
nghĩa cho người lao động Ngành kinh doanh không hiệu quả, vì thế, không thể không tăng tiền công cho người lao động trong ngành mình Nhưng để đảm bảo mức lợi nhuận, ngành kinh doanh kém hiệu quả sẽ tăng giá thành sản phẩm Lạm phát nảy sinh vì điều đó
Lạm phát do xuất khẩu: Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn
tổng cung, hoặc sản phẩm được huy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường trong nước giảm khiến tổng cung thấp hơn tổng cầu Lạm phát nảy sinh do tổng cung và tổng cầu mất cân bằng
Lạm phát do nhập khẩu: Sản phẩm không tự sản xuất trong nước được mà
phải nhập khẩu Khi giá nhập khẩu tăng (do nhà cung cấp nước ngoài tăng giá
Trang 25như trong trường OPEC quyết định tăng giá dầu, hay do đồng tiền trong nước xuống giá) thì giá bán sản phẩm đó trong nước cũng tăng Lạm phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên
Lạm phát tiền tệ: Cung tiền tăng (chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua
ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền ngoại tệ khỏi mất giá so với trong nước; hay chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà nước) khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên là nguyên nhân gây ra lạm phát Lạm phát loại này nguyên nhân là do lượng tiền trong nền kinh tế quá nhiều, vượt quá mức hấp thụ của nó, nghĩa là vượt quá khả năng cung ứng giá trị của nền kinh tế Có thể do ngân hàng trung ương lưu thông lượng tiền quá lớn trong nền kinh tế bằng các nghiệp vụ thị trường mở hay chính sách tiền tệ nới lỏng Khi lượng tiền lưu thông quá lớn, ví dụ trong tay bạn có nhiều hơn 100 triệu , thì
sự tiêu dùng theo đó mà tăng rất lớn theo xã hội Áp lực cung hạn chế dẫn tới tăng giá trên thị trường, và do đó sức ép lạm phát tăng lên
Lạm phát đẻ ra lạm phát: Khi nhận thấy có lạm phát, cá nhân với dự tính
duy lý, đó là tâm lý dự trữ, giá tăng lên người dân tự phán đoán, tự suy nghĩ là đồng tiền không ổn định thì giá cả sẽ tăng cao tạo nên tâm lý dự trữ đẩy mạnh tiêu dùng hiện tại, tổng cầu trở nên cao hơn tổng cung hàng hóa sẽ càng trở nên khan hiếm, kích thích giá lên gây ra lạm phát
1.2.4 Tác động của lạm phát đến nền kinh tế
1.2.4.1 Hiệu ứng tích cực
Một lượng lạm phát nhỏ thì thường được xem như có ảnh hưởng khách quan đối với nền kinh tế Một lý do cho điều này là thật khó khăn khi thương lượng lại những giá cả, và đặc biệt là những hậu quả trở về sau, nên với những giá cả thường gia tăng, việc điều chỉnh các mức giá có liên quan dễ dàng hơn Nhiều giá cả “về sau khó giải quyết” và có khuynh hướng vượt lên trên, nên những nỗ lực để đạt được tỷ lệ lạm phát là 0 (mức độ giá cả không thay đổi) làm giá cả, lợi nhuận và việc làm ở khu vực khác bị giảm sút Những nỗ lực để đạt được sự ổn định giá cả hoàn toàn cũng có thể đưa đến giảm phát, nó thường được xem xét như một lời từ
Trang 26chối bởi những người theo chủ nghĩa Keynes bởi vì những điều chỉnh về sau trong tiền lương và sản lượng được kết hợp trong đó Tổng quát hơn, bởi vì lạm phát vừa phải có nghĩa là giá cả của bất cứ hàng hóa nào cho sẵn có thể gia tăng trong suốt thời gian với những lợi thế vốn có không sớm thì muộn sẽ tạo ra được lợi tức Sự ảnh hưởng này có khuynh hướng giữ thế chủ động của nền kinh tế trong một thời gian ngắn bằng cách khuyến khích chi tiêu và vay mượn, và trong thời gian dài sẽ khuyến khích đầu tư Mặc dù, lạm phát cao có khuynh hướng giảm bớt thông tin chính yếu về lâu dài bằng cách gây thiệt hại cho việc khuyến khích để tiết kiệm, và
để giảm thiểu chi tiêu lâu dài một cách hiệu quả bằng cách tạo ra sản phẩm mắc hơn Giảm phát, ngược lại, dẫn đến một sự khuyến khích để tiết kiệm nhiều hơn và khuyến khích chi tiêu ngắn hạn ít hơn làm chậm lại sự phát triển tiềm tàng của nền kinh tế
Lạm phát cũng được coi là một áp lực rủi ro tiềm tàng đưa ra sự khuyến khích sử dụng tiết kiệm để đầu tư, thay vì tạo ra sức mua cho những khoản tiết kiệm này để giảm dần lạm phát Trong đầu tư, những rủi ro lạm phát thường làm cho các nhà đầu tư nhận lấy nhiều rủi ro hệ thống hơn, để mà thu được lợi nhuận ở ngay vào lúc lạm phát có thể xảy ra sắp tới Lạm phát cũng được sử dụng như là một chỉ số
để điều chỉnh chi phí sinh hoạt và như là một cơ hội cho một số trái phiếu Thực ra
mà nói, lạm phát là tỷ lệ mà tại đó những giao dịch của nền kinh tế được chiết khấu trở về trước
Lạm phát cũng đưa đến cho các Ngân hàng Trung ương khả năng lèo lái, bởi
vì công cụ quan trọng nhất để kiểm soát cung tiền và tốc độ tiền là đưa ra tỷ lệ lãi suất thấp nhất cho nền kinh tế - đó là tỷ lệ chiết khấu mà các ngân hàng có thể vay mượn từ Ngân hàng Trung ương Từ khi vay mượn ở mức lãi suất âm bị vô hiệu thì một tỷ lệ lạm phát tuyệt đối sẽ đem đến “lý lẽ bào chữa” cho các giám đốc Ngân hàng Trung ương để kích thích nền kinh tế Bởi vì Chính phủ kiểm soát các Ngân hàng Trung ương nên thường cũng có những áp lực về mặt chính trị để gia tăng cung tiền chi trả cho những dịch vụ của Chính phủ, điều này làm gia tăng ảnh
Trang 27hưởng trong việc gây ra lạm phát và giảm đi lượng tiền ròng của Chính phủ trong những hợp đồng khế ước và nợ đã được thương lượng trong thời gian trước
Tuy nhiên, nói chung, những tỷ lệ lạm phát trên số lượng danh nghĩa đã quy định để tự do hóa tiền tệ, và khuyến khích đầu tư, đặc biệt bởi vì theo lý thuyết kinh
tế hiện tại, lạm phát sinh ra những khả năng lạm phát trong tương lai
1.2.4.2 Hiệu ứng tiêu cực
Đối với lạm phát dự kiến
- Tổn thất thứ nhất là gây biến dạng thuế lạm phát đánh vào số tiền mà mọi người đang giữ
- Tổn thất thứ hai của lạm phát phát sinh khi lạm phát cao buộc các doanh nghiệp phải thay đổi biểu giá thường xuyên hơn
- Tổn thất thứ ba của lạm phát phát sinh do các doanh nghiệp tránh điều chỉnh giá cả thường xuyên khi phải chịu chi phí thực đơn; vì vậy, lạm phát càng cao, sự biến động của giá tương đối càng lớn
- Tổn thất thứ tư của lạm phát do luật thuế gây ra Nhiều điều khoản của luật thuế không tính đến tác động của lạm phát Lạm phát có thể làm thay đổi nghĩa
vụ nộp thuế của cá nhân, thường trái với ý định của người làm luật
- Tổn thất thứ năm của lạm phát là sự bất tiện của cuộc sống trong một thế giới mà giá cả thị trường thường xuyên thay đổi Tiền là thước đo mà chúng ta dựa vào để tính tóan các giao dịch kinh tế Khi có lạm phát, cái thước này co giãn
Đối với lạm phát không dự kiến
Lạm phát không dự kiến có tác động nguy hại hơn so với bất kỳ tổn thất nào của lạm phát ổn định, đựơc dự kiến từ trứơc: lạm phát không dự kiến phân phối lại của cải giữa các cá nhân một cách độc đoán
1.2.5 Các biện pháp kiểm soát lạm phát
Biện pháp tiền tệ: NHTW thông quan việc quản lý và sử dụng các công cụ
của CSTT để tác động trực tiếp làm giảm khối lượng tiền trong lưu thông như thắt chặt tiền tệ bằng cách nâng cao tỷ lệ DTBB, tăng lãi suất tái chiết khấu, hạn chế tín
Trang 28dụng cung cấp cho các ngân hàng trung gian, huy động tiền gửi từ công chúng bằng cách nâng cao lãi suất tiết kiệm, phát hàng trái phiếu, công trái, đưa dự trữ vàng và ngoại tệ ra bán để thu hút bớt lượng tiền thừa trong lưu thông
Biện pháp tài chính: chính phủ sử dụng các biện pháp để ngăn chặn các
nguyên nhân dẫn đến gia tăng khối lượng tiền tệ như hạn chế chi tiêu ngân sách là giảm chi phí quốc phòng, giảm biên chế công nhân viên nhà nước, kiểm soát và chống thất thoát trong chi tiêu ngân sách, chống tham nhũng, tăng thu ngân sách bằng cách chống thất thu thuế, vay nợ của dân chúng….nhằm rút ngắn cách biệt giữa chi và thu dần dần tiến đến cân bằng thu chi ngân sách
Biện pháp nhập khẩu: đây là biện pháp cấp thời để đưa vào thị trường các
mặt hàng đang thiếu và lên giá, nhằm chặn đứng nhanh chóng và hữu hiệu cơn sốt giá cả vì khan hiếm hàng hóa Tuy nhiên giải pháp này chứa đựng nguy cơ tiềm tàng như làm cạn kiệt dự trữ ngoại hối, tạo thói quen tiêu dùng hàng ngoại, làm suy giảm sức sản xuất trong nước Do vậy về lâu dài các quốc gia bị lạm phát đều tìm cách gia tăng khả năng sản xuất hàng hóa trong nước
Gia tăng sản suất trong nước: đây là biện pháp cơ bản nhất trong chiến lược
chống lạm phát, nhằm gia tăng một cách vững chắc khối lượng hàng hóa và dịch vụ Tuy nhiên trong điều kiện lạm phát giá cả tăng hàng ngày hàng giờ và lãi suất tín dụng thường rất cao nên có những trở ngại nhất định đối với gia tăng sản xuất Bởi vậy, thông thường cần kết hợp vừa nhập khẩu hàng hóa để sớm ổn định giá cả vừa chú ý đến việc gia tăng sản xuất để tạo cơ sở vững chắc cho việc kiểm soát lạm phát
Biện pháp kiểm soát lạm phát có nhiều và mỗi biện pháp đều có mặt tích cực
và tiêu cực nhất định Do đó vấn đề là phải biết kết hợp hài hòa giữa các biện pháp
để nhằm đạt mục tiêu trước mắt lẫn lâu dài
1.3 Mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và lạm phát trong một nền kinh tế
Mối quan hệ giữa lạm phát với tiền tệ, tín dụng không phải mọi lúc, mọi nơi đều như nhau, không phải bất biến mà nó biến đổi và khác nhau tuỳ vào từng điều kiện kinh tế cụ thể, tuỳ từng mức độ phát triển của nền kinh tế thị trường, của thị
Trang 29trường tiền tệ, của hệ thống ngân hàng và khả năng sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước để điều tiết tiền tệ và kiểm soát lạm phát Các công
cụ chính sách tiền tệ: từ cung ứng tiền, lãi suất, tỷ giá, dự trữ bắt buộc, hạn mức tín dụng, nghiệp vụ thị trường mở đều tác động đến lạm phát
Quan hệ giữa cung tiền và lạm phát
Thu nhập quốc dân danh nghĩa bằng thu nhập quốc dân thực tế nhân với chỉ
số giảm phát GDP (tỷ lệ lạm phát) Thu nhập quốc dân danh nghĩa cũng bằng tốc độ lưu thông tiền tệ nhân với cung tiền Do đó, tỷ lệ lạm phát bằng tốc độ lưu thông tiền tệ nhân với cung tiền rồi chia cho thu nhập quốc dân thực tế Nếu hai yếu tố còn lại không đổi, tốc độ thay đổi của tỷ lệ lạm phát bằng đúng tốc độ thay đổi của cung tiền
Khi tiền cung ứng tăng, tức là tổng phương tiện thanh toán tăng lên do Nhà nước phát hành thêm tiền (NHTW) và do hệ số tạo tiền tăng lên Thực tế, tiền cung ứng tăng lên sẽ đưa đến tăng tín dụng cho nền kinh tế, tăng cho vay Chính phủ nên làm cho tổng phương tiện thanh toán tăng lên Ngoài ra, tổng phương tiện thanh toán tăng lên còn do nguồn ngoại tệ trong dân tăng lên Đây chính là nguyên nhân gây ra tổng cung tiền tệ lớn hơn tổng cầu tiền tệ Hơn nữa, tổng phương tiện thanh toán tăng lên mà không có hàng hoá và dịch vụ tăng lên tương thích thì đưa đến tổng cung tiền tệ càng lớn hơn tổng cầu tiền tệ Kết quả của vấn đề này là giá cả tăng lên
Tuỳ thuộc vào mức độ mở cửa và hội nhập của nền kinh tế khác nhau với bên ngoài mà tác động của cung tiền tệ đến lạm phát cũng khác nhau Như khi nền kinh tế khép kín, sự giao lưu thương mại với bên ngoài hầu như bằng không thì khi tổng cung tiền tệ tăng lên mà tổng cung hàng hoá không đổi thì hậu qủa lạm phát cao là dễ nhận thấy Với một lượng hàng hoá nhất định mà phải bỏ nhiều tiền hơn
để mua thì dấu hiệu lạm phát là chắc chắn, hay với một mức thu nhập nhất định mà không mua được lượng hàng hoá như trước thì cũng là lạm phát Đây là biểu hiện mất giá của đồng tiền hay biểu hiện mức sống của người dân bị giảm sút Tuy nhiên, giá cả tăng lên đồng loạt mới là lạm phát, còn chỉ một vài hàng hoá có giá
Trang 30cao lên không phải lạm phát Thực chất, mọi hàng hoá đều có giá trị và giá trị sử dụng và biểu hiện của chúng là tiền Khi không có nhiều tiền thì không thể mua được hàng hoá giá cao Và nếu giá hàng hoá cứ cao mà không có ai đủ tiền mua thì chắc chắn một lúc nào đó phải hạ giá để có người mua Như vậy, với một lượng hàng hoá nhất định trong xã hội mà giá luôn tăng lên thì rõ ràng phải có nhiều tiền hơn
Quan hệ giữa lãi suất và lạm phát
Lạm phát tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của một quốc gia Đáng kể đầu tiên là tác động đến lãi suất Với hệ thống ngân hàng, để duy trì và sự ổn định hoạt động của mình, nó luôn cố gắng duy trì tính hiệu quả của tài sản nợ và tài sản có Nghĩa là nó luôn giữ cho lãi suất thực ổn định
Ta biết rằng Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát
Do đó, khi tỷ lệ lạm phát cao, nếu muốn giữ cho tỷ lệ lãi suất thực ổn định, không còn cách nào khác là lãi suất danh nghĩa phải tăng lên cùng với tỷ lệ lạm phát Trong một nền kinh tế, đặc biệt là kinh tế thị trường vấn đề lãi suất là cực kỳ quan trọng và có tác động mạnh mẽ Tăng lãi suất danh nghĩa dẫn tới hậu quả mà nền kinh tế phải gánh chụi là suy thoái và hậu quả thất nghiệp gia tăng
Quan hệ giữa tỷ giá và lạm phát
Mối quan hệ giữa tỷ giá và lạm phát có thể đựơc giải thích theo thuyết
“Ngang giá sức mua” (purchasing power parity -PPP) Trong số các yếu tố quyết định của tỷ giá hối đoái, lạm phát thường được coi như là yếu tố quan trọng nhất
Việc so sánh sức mua giữa các đồng tiền, so sánh tỷ lệ lạm phát giữa các nước với nhau là điều tương đối phức tạp Trong các nước tư bản phát triển người ta hay dùng phương pháp so sánh sức mua Cách giải thích đơn giản nhất của phương pháp PPP là lấy ví dụ về một mặt hàng Nếu một chiếc xe Ô tô ở Đức đắt hơn ở Pháp thì người mua sẽ mua xe ở Pháp hơn ở Đức Vì nhiều người làm như vậy nên giá xe ở Đức hạ xuống và ở Pháp tăng lên, và do đó thu nhập xuất khẩu ở Đức giảm, ở Pháp tăng sẽ dẫn đến xu hướng đồng mark giảm so với đồng franc, giá cả
Trang 31xe hơi và tỷ giá giữa 2 đồng tiền tiếp tục thay đổi cho tới khi giá xe hơi ở hai nước, do tỷ giá điều chỉnh trở nên bằng nhau
Một trong những hệ quả khác của lý thuyết ngang giá là sức mua được biểu hiện bằng mức chênh lệch lạm phát giữa hai nước đó Trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh, mức độ lạm phát của hai nước nếu như khác nhau sẽ dẫn đến giá cả hàng hóa ở hai nước đó sẽ có sự biến động khác nhau, làm cho sự ngang giá sức mua của hai đồng tiền đó bị phá vỡ, tức là làm thay đổi tỷ giá hối đoái Mức chênh lệnh lạm phát càng lớn sẽ dẫn đến mức thay đổi tỷ giá cũng lớn theo
Tỷ giá thời điểm t = Tỷ giá thời điểm (t-1) x Chỉ số lạm phát trong nước
CSLP nước ngoài có đồng tiền định giá
Thuyết ngang giá sức mua quy định một mối liên hệ chính xác giữa tỷ lệ lạm phát tương đối và tỷ giá hối đoái ở hai nước Theo những điều kiện không chính xác, lý thuyết ngang giá sức mua cho rằng tỷ giá hối đoái cân bằng sẽ điều chỉnh cùng một mức độ với chênh lệch trong tỷ lệ lạm phát giữa hai nước Tỷ giá hối đoái sẽ biến động để bù đắp sự chênh lệch trong lạm phát giữa hai quốc gia để trạng thái ngang giá sức mua được duy trì Nghĩa là nếu chứng minh được trạng thái ngang giá sức mua tồn tại thì nhìn vào sự chênh lệch trong tỷ lệ lạm phát giữa hai quốc gia chúng ta có thể dự báo được sự biến động của tỷ giá hối đoái
Khi trị giá đồng nội tệ hạ xuống (tức là một đơn vị tiền tệ trong nước đổi được ít hơn đồng ngoại tệ) thì mức giá chung của hàng hóa trong nước chịu ảnh hưởng của giá cả nhập khẩu sẽ tăng dần lên Giá nhập khẩu các nguyên liệu, bán thành phẩm, thiết bị tăng dần lên làm cho chi phí sản xuất trong nước cũng tăng lên theo
Trái lại, khi trị giá đồng tiền trong nước được nâng lên (tức là một đơn vịtiền
tệ trong nước đổi được nhiều ngoại tệ hơn) thì giá hàng nhập trở nên rẻ hơn và từ đó góp phần làm cho mức giá chung trong nước được ổn định hơn
Trang 32Vì vậy khi xác định tỷ giá đồng tiền trong nước, nhà nước phải xem xét nhiều mặt tác động khác nhau của tỷ giá tới tình hình kinh tế trong nước, từ đó đề ra những biện pháp tỷ giá thích ứng vừa có thể khuyến khích xuất khẩu vừa có thể hạn chế được tác hại tiêu cực tới lưu thông tiền tệ và giá cả trong nước
Đồng tiền trong nước được nâng lên hay hạ xuống còn có tác động tới sự di chuyển của các luồng vốn ngoại tệ trong nước Việc xác định tỷ giá hối đoái đúng đắn, hợp lý có phối hợp các biện pháp kinh tế sẽ có tác động rất lớn trong việc huy động vốn từ nước ngoài đầu tư vào trong nước có lợi cho nền kinh tế, tạo công ăn việc làm và cải thiện đời sống của người dân
Kết luận chương 1: Thi hành chính sách tiền tệ chặt chẽ có ý nghĩa quan
trọng trong việc kiểm soát lạm phát Thời gian gần đây, NHNN đã nhận về mình trách nhiệm ổn định đồng tiền, chống lạm phát và đã áp dụng thành công các công
cụ của chính sách tiền tệ như: chính sách dự trữ bắt buộc, hạn mức tín dụng, mở các thị trường nội tệ và ngoại tệ liên ngân hàng, đấu thầu tín phiếu kho bạc…Tuy nhiên, lạm phát là hiện tượng thường trực của lưu thông tiền giấy trong nền kinh tế đang chuyển đổi của chúng ta, nguy cơ làm phát cao cũng thường xuyên phải đề phòng
Do đó, một công cụ nhạy cảm như chính sách tiền tệ không thể xem nhẹ
Trang 33CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN
LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM 2.1 Tóm tắt thực trạng chính sách tiền tệ và lạm phát
2.1.1 Chính sách tiền tệ và lạm phát từ năm 1995 - 1999
Lạm phát từ 3 con số được đưa về 12,7% năm 1995 và 4,5% năm 1996 Năm
1999 Việt Nam lạm phát rất thấp, thậm chí giảm phát đi cùng với đà tăng trưởng kinh tế chậm lại Mục tiêu điều tiết vĩ mô chuyển sang “kích” lạm phát thông qua kích cầu nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bằng cách cắt giảm lãi suất, giảm
tỷ lệ dự trữ bắt buộc, giảm lãi suất tái cấp vốn, cũng như nới lỏng điều kiện cung ứng tín dụng
2.1.2 Chính sách tiền tệ và lạm phát từ năm 2000 - 2005
Tháng 05 năm 2001 đến tháng 08 năm 2001 NHNN thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiểm soát lạm phát đang bắt đầu có xu hướng gia tăng Công cụ dự trữ bắt buộc được áp dụng để thực thi chính sách tiền tệ, tỷ lệ dự trữ bắt buộc ngoại tệ lúc này tăng lên đến 15% và đến tháng 11 năm 2001 tỷ lệ này giảm xuống còn 10% (lúc này dự trữ bắt buộc bằng VND còn 3%), tăng trưởng tín dụng thấp
Ngoài ra trong giai đoạn này ngành ngân hàng đang trong quá trình cải cách theo hướng tự do hóa và phù hợp với thông lệ quốc tế Bốn ngân hàng thương mại quốc doanh (Ngân hàng ngoại thương, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng đầu tư và phát triển và Ngân hàng công thương) được NHNN giao cho triển khai công tác cổ phần hóa trong giai đoạn 2006-2010 trong đó có sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài Đây có thể nói là một hướng đi quan trọng nhằm làm lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng, nâng cao sức mạnh cạnh tranh, cũng như từng bước đưa nền tài chính Việt Nam hội nhập với khu vực và thế giới
Từ ngày 1 tháng 7 năm 2002, NHNN ra quyết định nới lỏng biên độ tỷ giá mua, chủ động tăng tỷ giá nhằm khuyến khích xuất khẩu Chính sách này nhằm tăng giá trị nguồn thu nhập xuất nhập khẩu; ổn định kinh tế vĩ mô, đáp ứng nhu cầu
Trang 34ngoại tệ cho các doanh nghiệp và dân cư; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa
tỷ giá hối đoái tại ngân hàng và trên thị trường tự do Nhìn chung giai đoạn năm
2000 đến năm 2003 các diễn biến kinh tế, tiền tệ trong nước và quốc tế diễn ra ít phức tạp, tăng trưởng kinh tế tăng dần qua các năm
Năm 2004, lạm phát tăng cao do giá nhập khẩu (xăng dầu, sắt thép, phân bón…) và lương thực tăng; việc lạm phát tăng liên quan nhiều đến các yếu tố cung hơn là do sự mất cân đối về kinh tế vĩ mô Việc giảm giá của đồng đô la mà tiền đồng gắn chặt vào, có thể chỉ làm trầm trọng thêm việc tăng lạm phát Việt Nam xuất khẩu dầu thô và nhập khẩu các sản phẩm dầu tinh chế Cung tiền tăng liên tiếp qua các năm Tín dụng tăng nhưng chất lượng còn đáng lo ngại, tỷ lệ tăng trưởng cao hiện nay dẫn đến xu hướng tiền tệ hóa nền kinh tế và nhu cầu tín dụng tăng mạnh
Từ năm 2001 đến năm 2004, những năm đầu khi mức độ tăng trưởng kinh
tế ở mức thấp dưới 7%, chỉ số giá tiêu dùng 3-4% Nhưng đến năm 2004 có mức tăng trưởng 8%, chỉ số giá tăng lên đến mức 9,5% Đến năm 2005, khi tốc độ tăng trưởng đạt mức 8,43%, chỉ số giá là 8,4% Do vậy, lạm phát thể hiện khi chúng ta bắt đầu tăng trưởng cao, kèm theo tăng giá
Trong quý 1 năm 2005, GDP ước tính đã tăng 7,2% so với 7% trong cùng quý này năm 2004 Lạm phát vẫn còn là vấn đề đáng lo ngại từ năm 2004 còn hiệu ứng trực tiếp của cúm gia cầm và những điều kiện thời tiết bất lợi làm gia tăng giá thực phẩm Cú sốc này lại được tiếp sức bằng việc tăng giá cả quốc tế của những mặt hàng nhập khẩu trọng yếu như dầu mỏ, phân bón, xi măng và sắt thép
2.1.3 Chính sách tiền tệ và lạm phát từ năm 2006 - 2012
Năm 2006, tăng trưởng tín dụng giảm từ mức khoảng 40% trong đầu năm
2005 xuống còn 24% trong tháng hai năm 2006 Các cú sốc về cung tiếp tục gây tác động tới giá cả, mặc dù có xuất hiện sức ép về cầu Lạm phát đứng ở mức 7,5% vào tháng 5 năm 2006 so với 8,5% trong tháng 12 năm 2005 Các yếu tố then chốt nhằm đảm bảo sự tăng trưởng bền vững bao gồm: chính sách kinh tế vĩ mô thận trọng và cơ chế cho vay minh bạch các dự án phát triển hạ tầng
Trang 35Cuối quý 1 năm 2006, ước tính GDP của Việt Nam tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước, lạm phát vẫn ở mức cao Mặc dù quan ngại về khả năng mục tiêu tăng trưởng cao có thể ảnh hưởng đến mức độ lạm phát, các nhà hoạch định chính sách Việt Nam vẫn miễn cưỡng trong việc áp dụng biện pháp thắt chặt chính sách tiền tệ Tăng trưởng tín dụng chậm lại, sau khi đạt mức cao nhất là 42% vào tháng 12 năm 2004 và xuống còn khoảng 32% vào tháng 12 năm 2005 và 25% vào tháng 1 năm 2006 Mối quan ngại chủ yếu về tình trạng tăng trưởng tín dụng nhanh là ở chất lượng tín dụng Cuối cùng sự sụt giảm tốc độ tăng trưởng tín dụng trong một môi trường lạm phát có thể có tác dụng giảm bớt sức ép về cầu
Năm 2007 nghiệp vụ thị trường mở (bắt đầu áp dụng 2004) được tăng cường sử dụng và có những đổi mới như: cố định phiên mua, thay đổi phương thức đấu thầu nhằm giám sát diễn biến của thị trường vốn bằng VND của các tổ chức tín dụng Tổng cung tiền tệ đã tăng khoảng 49%, và tăng trưởng tín dụng ở mức trên 54% vào tháng 12 năm 2007 Một phần lớn trọng lượng tín dụng gia tăng này là xuất phát từ các ngân hàng thương mại cổ phần, với tỷ lệ tăng trưởng tín dụng lên đến 100% trong cùng kỳ
Cuối năm 2007 đầu năm 2008, Việt Nam đối mặt với tình trạng nền kinh tế phát triển quá nóng do nguồn vốn ngoại đổ mạnh vào Những nổ lực làm trung hòa nguồn vốn này đã không thể ngăn cản sự bùng nổ tín dụng ngân hàng, lạm phát tăng tốc, nhập siêu tăng cao và các bong bóng bất động sản Phản ứng kiên quyết của chính phủ từ tháng 3 năm 2008 trở đi đã thành công trong việc bình ổn nền kinh tế và giảm nhập siêu xuống trong vòng kiểm soát Sáu tháng cuối năm
2008, cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ Hoa Kỳ đã ảnh hưởng đến cầu bên ngoài Giá cả hàng hóa mà Việt Nam xuất khẩu trên thị trường thế giới nằm trong
xu hướng sụt giảm kể từ quý 3, và sự sụt giảm sản xuất bắt đầu rõ nét Chính phủ đã phản ứng nhanh với cú sốc kinh tế thứ 2 này, chuyển từ bình ổn kinh tế sang hỗ trợ hoạt động kinh tế vào tháng 11 năm 2008 Các biện pháp kích cầu đã được đưa ra sau đó đã giúp cho hoạt động kinh tế hồi phục trở lại
Trang 36Năm 2008 tình hình kinh tế có nhiều biến động do hai cuộc khủng hoảng nối tiếp nhau, cụ thể trong quý 1 năm 2008 nền kinh tế vẫn duy trì mức tăng trưởng, chưa thấy tác động gì của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, cuối quý
1 năm 2008 với mức tăng trưởng tín dụng lên đến đỉnh điểm 63% T ừ q u ý 2 đến quý 3 năm 2008 nền kinh tế có dấu hiệu ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế toàn cầu, ảnh hưởng này bắt đầu lộ rõ vào 3 tháng cuối năm 2008
Tháng 3 năm 2008, ngân hàng nhà nước áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt, coi đó là một phần quan trọng trong nhóm giải pháp ổn định kinh tế NHNN ngừng mua vào ngoại tệ từ cuối năm 2007 khi xu hướng lạm phát trong nước gia tăng Sau đó, đầu năm 2008 NHNN phát hành tín phiếu ngân hàng bắt buộc nhằm rút bớt thanh khoản bằng đồng Việt Nam trong hệ thống ngân hàng đồng thời áp dụng trần lãi suất huy động kết quả tăng trưởng tín dụng
đã giảm mạnh và làm dấy lên sự quan ngại về nguy cơ thiếu hụt thanh khoản vào tháng 6 và tháng 7 Tuy nhiên, chính sách tiền tệ đã được nới lỏng để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu sau một thời gian ở mức cao, lãi suất bắt đầu hạ
Gói giải pháp chính sách ban hành tháng 3 năm 2008 bao gồm chính sách thặt chặt tiền tệ và ngân hàng Các giải pháp này đã làm giảm đáng kể tốc
độ tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là trong quý 2 năm 2008 So với cùng kỳ, GDP đã giảm từ mức 7,4% trong quí 1 năm 2008 xuống còn 5,8% trong quý 2 năm 2008 Tuy nhiên, tăng trưởng quý 3 đã khôi phục phần nào, góp phần đưa tăng trưởng GDP chín tháng đầu năm tăng 6,5%
Năm 2009 vẫn là năm với đầy thách thức, tăng trường GDP của quý 1 năm
2009 chỉ tăng 3,1% so với cùng kỳ nằm 2008 Tình hình tín dụng hầu như không tăng trưởng trong vài tháng đầu năm 2009 NHNN Việt Nam kể từ tháng 11 đã nới lỏng chính sách tiền tệ, khẳng định chính sách đã được đưa ra một cách thận trọng vào hồi tháng 6 Song chính sách hỗ trợ lãi suất giai đoạn đầu có thể đóng vai trò quan trọng hơn trong việc đảm bảo luân chuyển tín
Trang 37dụng trong quý 1 năm 2009
Chính sách tiền tệ được nới lỏng thông qua nhiều biện pháp Trong đó có biện pháp giảm lãi s u ấ t v à giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc NHNN cũng mua lại lượng trái phiếu bắt buộc đã bán ra vào hồi tháng 3 năm 2008, khi ưu tiên chính sách còn là giải quyết tình trạng nền kinh tế phát triển quá nóng Tác động của các biện pháp này đối với cung tiền đã được tăng cường qua việc chuyển sang áp dụng tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn Biên độ thả nổi đối với đồng đôla được nới rộng lên +/-5% vào tháng 3 năm 2009, từ +/-3% vào tháng 1 năm 2008, +/-2% vào tháng 6 và +/-1% vào tháng 3 Những thay đổi này diễn ra sau khi tỷ giá tham chiếu giảm 3% vào tháng 12 năm 2008
Khủng hoảng tài chính toàn cầu làm cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam sụt giảm Tác động trầm trọng nhất là vào quý 1 năm 2009, khi GDP tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 2008 Tuy nhiên, những dấu hiệu phục hồi đã nổi lên từ quý 2 phần nào phản ánh những nổ lực hỗ trợ hoạt động kinh tế của chính phủ Gói kích thích kinh tế khá lớn được đưa ra vào năm 2009 bao gồm nhiều biện pháp khác nhau, từ chương trình hỗ trợ lãi suất, miễn và hoàn thu nhiều loại thuế, và đầu tư vốn bổ sung Kết quả là GDP tăng 4,5% trong quý 2 và 5,8% trong quý 3, nâng tốc độ tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm lên 4,6% so với cùng kỳ năm trước Năm 2009 là năm nền kinh tế tiếp tục gặp khó khăn Do tác dụng phụ của chính sách hỗ trợ cho vay bằng VND và việc điều chỉnh lãi suất từ 14% xuống 8% làm cho tình hình thị trường ngoại hối biến động: nhu cầu ngoại tệ tăng m ạ n h d o các doanh nghiệp và dân chúng chuyển sang vay VND để mua ngoại tệ Trước tình hình đó, chính phủ thực hiện nhiều chính sách như: kiểm soát giao dịch ngoại tệ, cấm niêm yết giá bằng ngoại tệ, giảm l ã i s u ấ t huy động và cho vay bằng ngoại tệ (giảm từ 6,5% xuống 4%) Cùng thời điểm này, tăng trưởng tín dụng cao, VND vẫn khan hiếm làm áp lực tăng lãi suất Nhờ chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đoái, tăng lãi suất huy động nội tệ, tác động tốt đến việc duy trì tỷ lệ tăng trưởng kinh tế và ngăn chặn sự gia tăng nhanh của tỷ lệ lạm phát
Trang 38Trong năm 2010, tăng trưởng nhanh trong bối cảnh rủi ro tăng lên Hậu khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng với tốc độ khá nhanh và ổn định Mặc dù tốc độ phục hồi kinh tế toàn cầu không đều khắp trên toàn thế giới và khu vực Châu Á vẫn đạt được thành tích khá tốt, Việt Nam vẫn tiếp tục đạt thành tích tăng trưởng khá ấn tượng Tuy vậy, thành tích tăng trưởng ấn tượng cũng song hành với một số vấn đề kinh tế vĩ mô, dấu hiệu rủi ro đầu tiên xuất hiện vào năm 2007 khi nền kinh tế Việt Nam đón nhận một nguồn vốn ngoại tăng vọt chưa từng thấy sau khi Việt Nam gia nhập WTO, khởi đầu cuộc bùng nổ tín dụng và bong bóng giá tài sản Kể từ
đó, vấn đề cảng trở nên trầm trọng hơn với một loạt cú sốc từ bên ngoài như giá cả hàng hóa thế giới tăng trong năm 2008, khủng hoảng tài chính và kinh
tế toàn cầu trong năm 2009 và khủng hoảng nợ quốc gia năm 2010 ở Châu Âu Việt Nam rơi vào tình trạng không mong muốn với tỷ lệ lạm phát cao nhất trong toàn bộ khu vực Đông Á Thái Bình Dương (6,5%) trong năm 2009 và khoản trên dưới 10% trong năm 2010 Bên cạnh tỷ lệ lạm phát cao, Việt Nam còn phải đối mặt với sức ép tiền tệ, mức dự trữ ngoại hối sụt giảm, thị trường chứng khoán ảm đạm và chênh lệch lãi suất quốc gia cao so với các nền kinh tế năng động nhất trong khu vực
Năm 2011 thực sự là năm “ thử lửa” đối với việc điều hành chính sách tiền tệ, chính sách “thắt lưng buộc bụng” được áp dụng Mối quan tâm của chính phủ lúc này là kiềm chế lạm phát, ổn định tỷ giá, giữ thanh khoản cho
hệ thống NHTM NHNN qui định lãi suất huy động không quá 14%, tăng trưởng tín dụng không quá 20%, chính sách tiền tệ tiếp tục thắt chặt Nhờ đó, mục tiêu tăng trưởng 6% cả năm 2011 vẫn đạt được Tuy nhiên tình hình lạm phát không mấy khả quan, tỷ lệ lạm phát vẫn tiếp tục tăng lên 18%
Năm 2012 lạm phát được kiềm chế về một con số, song vẫn đảm bảo được tăng trưởng kinh tế hợp lý, từng bước tạo tiền đề cho việc tăng trưởng kinh tế bền vững trung và dài hạn Chính sách tiền tệ trong năm 2012 được điều hành khá thận trọng Lãi suất huy động và cho vay đã giảm xuống theo định hướng
Trang 39của NHNN; phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và lạm phát Kết quả điều hành trong năm 2012 mức lãi suất huy động và cho vay giảm nhanh hơn dự kiể́n của NHNN; lãi suất huy động giảm từ 3 - 6%/năm, lãi suất cho vay giảm 5 - 9%/năm so với cuối năm 2011 Lãi suất tái cấp vốn đã giảm từ 15% xuống còn 10%, lãi suất tái chiết khấu đã giảm từ 13% xuống còn 8%, và trần lãi suất huy động kỳ hạn ngắn ngày giảm từ 14% xuống còn 9% Việc ngân hàng giảm lãi suất cho vay ở mức thấp là một trong những điều kiện làm giảm chi phí sản xuất
- kinh doanh, góp phần tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an toàn cho hệ thống ngân hàng Trong lĩnh vực ngoại hối và tỷ giá, thị trường ngoại hối và tỷ giá ổn định, cùng với các giải pháp phù hợp khác của Chính phủ đưa ra, đã góp phần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất - kinh doanh; khuyến khích xuất khẩu Thành công lớn trong năm 2012 đối với lĩnh vực xuất nhập khẩu đó là, năm đầu tiên kể từ năm 1993 đến nay, Việt Nam xuất siêu xấp xỉ 0,3 tỷ USD (kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2012 đạt 114,6 tỷ USD, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm 2012 đạt 113,79 tỷ USD) đã góp phần tích cực trong việc cải thiện cán cân thanh toán, ổn định tỷ giá và tăng dự trữ ngoại hối
2.2 Tổng quan về các nghiên cứu tác động điển hình về chính sách tiền tệ
và lạm phát ở các nước
2.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Fabio Canova và Luca Gambetti (2008): tìm hiểu sự tác động của chính sách tiền tệ lên sự thay đổi trong tăng trưởng sản lượng và động lực lạm phát ở Mỹ Tác giả kiểm định các cú sốc chính sách và quy tắc chính sách trong một hệ số biến thiên theo thời gian VAR bằng cách sử dụng dấu hiệu hạn chế xác định Sự dẫn truyền của những cú sốc chính sách tương đối ổn định Phương sai của các cú sốc chính sách giảm theo thời gian, nhưng những cú sốc chính sách đã góp phần gây nên tình trạng lạm phát, sự tăng trưởng sản lượng không ổn định và kéo dài Tác giả tìm thấy bằng chứng của một sự gia tăng đáng kể ảnh hưởng lâu dài của lãi suất lên lạm phát
Trang 40Ulrich Camen (2006): tìm hiểu thực trạng của việc cải cách chính sách tiền tệ trong bối cảnh kinh tế và tài chính đang phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam và xác định các vấn đề cải cách quan trọng liên quan đến chính sách tiền tệ Bài nghiên cứu của ông đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về phát triển kinh tế và tài chính, mô tả các khuôn khổ chính sách tiền tệ hiện đang được sử dụng tại Việt Nam Kiểm định Camen sử dụng là mô hình VAR với các dữ liệu hàng tháng từ tháng 2 năm 1996 đến tháng 4 năm 2005 và lựa chọn khoảng thời gian phụ để kiểm tra sự ổn định của kiểm nghiệm
BIS Working Papers by Ben S C Fung (2002): sử dụng mô hình VAR để nghiên cứu những tác động của những cú sốc tiền tệ lên 7 nền kinh tế Đông Nam Á(Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines, Singapore, Đài Loan, Trung Quốc
và Thái Lan) Đối với mỗi nền kinh tế, kiểm định tương tự được áp dụng và các phản ứng động của một cú sốc tiền tệ sẽ được xem xét trong dự báo của của lý thuyết tiền tệ Kết quả cho thấy rằng mô hình VAR có khả năng đưa ra các dẫn truyền hợp lý cho hầu hết các quốc gia, đặc biệt là đối với các mẫu số liệu kết thúc trước khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 Với sự hội nhập của các nền kinh tế, tỷ giá hối đoái đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng chính sách tiền tệ Để nắm bắt một cách rõ ràng tầm quan trọng của tỷ giá hối đoái trong các nền kinh tế, các đo lường hợp lý cũng được áp dụng đối với tỷ giá để kiểm định
mô hình
Mohammad S Hasan (1999): sử dụng khái niệm về lý thuyết hội nhập và Vector xu hướng, bài nghiên cứu kiểm tra lại mối liên hệ giữa cung tiền và lạm phát tại Trung Quốc đại lục Trái ngược với những nghiên cứu gần đây nhất trong lĩnh vực này, những kết quả ông đưa ra dựa trên đơn vị gốc và kiểm tra kết hợp cho thấy một mối quan hệ lâu dài đáng tin cậy giữa mức giá nói chung và cổ phiếu tiền mặt, cũng như giữa lạm phát và tăng trưởng tiền tệ Phát hiện của ông cũng cho thấy một mối quan hệ hai chiều hoặc phản hồi giữa lạm phát và tăng trưởng tiền tệ
Bernanke và Mihov (1998) và Leeper et al (1996) đã xây dựng một mô hình
cơ bản là phương pháp VAR để đo lường sự đổi mới trong chính sách tiền tệ và các