1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận văn thạc sĩ sử dụng thông tin trên bctc chưa kiểm toán để dự đoán ý kiến không phải ý kiến chấp nhận toàn phần trên bckit nghiên cứu thực nghiệm tại các công ty niêm yết tại việt nam

88 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử dụng Thông tin Trên BCTC Chưa Kiểm Toán Để Dự Đoán Ý Kiến Không Phải Ý Kiến Chấp Nhận Toàn Phần Trên BCKiT - Nghiên Cứu Thực Nghiệm Tại Các Công Ty Niêm Yết Tại Việt Nam
Tác giả Lê Thiên Hương
Người hướng dẫn PGS.TS Trần Thị Giang Tân
Trường học Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC (12)
  • CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT (18)
    • 2.1 Ý kiến kiểm toán (18)
      • 2.1.1 Kiểm toán báo cáo tài chính và ý kiến kiểm toán (18)
        • 2.1.1.1 Kiểm toán báo cáo tài chính (18)
        • 2.1.1.2 Ý kiến kiểm toán (18)
      • 2.1.2 Các dạng ý kiến kiểm toán (18)
    • 2.2 Báo cáo tài chính và vai trò của báo cáo tài chính (21)
      • 2.2.1 Khái niệm báo cáo tài chính (21)
      • 2.2.2 Vai trò của báo cáo tài chính (21)
    • 2.3 Khái niệm và đặc điểm thông tin trên báo cáo tài chính (22)
      • 2.3.1 Thông tin trên báo tài chính (22)
      • 2.3.2 Đặc điểm thông tin trên báo cáo tài chính (23)
    • 2.4 Tỷ số tài chính (24)
      • 2.4.1 Khái niệm tỷ số tài chính (24)
      • 2.4.2 Các nhóm chỉ số tài chính (24)
    • 2.5 Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và thông tin trên báo cáo tài chính (28)
      • 2.5.1 Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và tình hình hoạt động sản xuất (28)
      • 2.5.2 Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và thông tin trên báo cáo tài chính. 22 (29)
    • 2.6 Các lý thuyết nền tảng (30)
      • 2.6.1 Lý thuyết ủy nhiệm (Agency theory) (30)
      • 2.6.2 Lý thuyết triển vọng (Prospect theory) (31)
  • CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (33)
    • 3.1 Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu (33)
    • 3.2 Phương pháp kiểm định (41)
    • 3.3 Chọn mẫu nghiên cứu (43)
  • CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN (45)
    • 4.1 Thống kê mô tả (45)
      • 4.1.1 Mô tả mẫu quan sát (45)
      • 4.1.2 Mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập (45)
    • 4.2 Kết quả nghiên cứu mô hình (47)
    • 4.3 Thảo luận về kết quả nghiên cứu (53)
  • CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ HẠN CHẾ NGHIÊN CỨU (57)
    • 5.1 Tóm tắt nghiên cứu thực hiện (57)
    • 5.2 Đề xuất kiến nghị dựa vào kết quả nghiên cứu (58)
      • 5.2.1 Đối với người sử dụng thông tin (59)
      • 5.2.2 Đối với Kiểm toán viên (60)
    • 5.3 Ứng dụng của mô hình dự báo vào thực tế (62)
    • 5.4 Những hạn chế và nêu đề xuất cho hướng nghiên cứu sau này (64)
      • 5.4.1 Hạn chế trong nghiên cứu (64)
      • 5.4.2 Đề xuất cho hướng nghiên cứu sau này (65)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (67)
  • PHỤ LỤC (71)

Nội dung

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT BCKiT: Báo cáo đã kiểm toán BCTC: Báo cáo tài chính CTKT: Công ty kiểm toán DN: Doanh nghiệp GVHB: Giá vốn hàng bán HĐKD: Hoạt động kinh doanh KTV:

TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

1.1 CÁC NGHIÊN CỨU THỰC HIỆN Ở NƯỚC NGOÀI

Hiện nay, thế giới đã có nhiều nghiên cứu về việc sử dụng BCTC để dự đoán YKKT, trong đó không phải tất cả các ý kiến đều đồng ý hoàn toàn với phương pháp này Nhiều nghiên cứu đã xây dựng các mô hình nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng dự đoán YKKT, giúp làm rõ các yếu tố quan trọng góp phần nâng cao độ chính xác của dự đoán Trong số các nghiên cứu tiêu biểu, có thể kể đến các mô hình nghiên cứu tập trung vào các nhân tố tài chính, hoạt động doanh nghiệp và các chỉ số tài chính quan trọng khác ảnh hưởng đến dự đoán YKKT.

Dopuch và cộng sự (1987) phát triển mô hình dự đoán YKKT dựa trên phân tích các biến tài chính và thị trường Các biến tài chính bao gồm sự thay đổi tỷ số tổng nợ/tổng tài sản, giá trị sổ sách của tài sản, sự biến động của tỷ lệ hàng tồn kho/tổng tài sản, tỷ lệ phải thu/tổng tài sản và lãi lỗ năm hiện tại Trong khi đó, các biến thị trường gồm thời gian niêm yết, chênh lệch lợi nhuận công ty so với lợi nhuận trung bình ngành và sự thay đổi của hệ số rủi ro beta Kết quả nghiên cứu cho thấy, những biến này có vai trò quan trọng trong dự đoán YKKT, đặc biệt là lỗ năm hiện tại, tỷ số nợ/tài sản và mức chênh lệch lợi nhuận so với ngành.

Keasey và công sự (1988) đã sử dụng mô hình hồi quy logistic dựa trên 12 biến tài chính và phi tài chính để phân tích khả năng một công ty nhỏ nhận YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần Kết quả cho thấy, khả năng này tăng lên khi công ty được kiểm toán bởi các hãng kiểm toán lớn, số lượng thành viên Hội đồng Quản trị càng ít, có ít chủ sở hữu tham gia quản lý, có khoản vay thế chấp hoặc khoảng thời gian giữa ngày kết thúc năm tài chính và ngày ký YKKT càng dài.

Laitinen và Laitinen (1998) đã phân tích 17 biến tài chính và phi tài chính để đánh giá khả năng các công ty lớn nhận YKKT, trong đó nhận định rằng doanh nghiệp có quy mô nhỏ hơn, tỷ số VCSH trên tổng tài sản thấp và số lượng nhân viên ít có khả năng nhận YKKT thấp hơn.

Nghiên cứu của Spathis (2003) cho thấy mô hình hồi quy logistic và hồi quy tuyến tính có khả năng dự đoán YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần đạt mức chính xác lên đến 78%, trong khi phương pháp phân loại UTADIS đạt tỷ lệ dự đoán thành công cao nhất, lên đến 80% Các biến tài chính như tỷ số phải thu/doanh thu, tỷ lệ lợi nhuận/tổng tài sản, vốn lưu chuyển/tổng tài sản và doanh thu/tổng tài sản đều có khả năng phân biệt được mức độ YKKT cao nhất Bên cạnh đó, các yếu tố phi tài chính liên quan đến thông tin vụ kiện tụng của doanh nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc dự đoán YKKT, giúp xác định các vụ kiện gây ảnh hưởng lớn đến quyết định của doanh nghiệp.

Caramanis và cộng sự (2006) đã xây dựng mô hình dự đoán khả năng công ty nhận YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần dựa trên việc kết hợp bốn tỷ số tài chính và các biến phi tài chính như đặc điểm của kiểm toán và phí kiểm toán, với độ chính xác dự đoán gần 90% Các biến có ý nghĩa trong mô hình bao gồm lợi nhuận ròng trên tổng tài sản và tỷ lệ tài sản ngắn hạn trên nợ ngắn hạn, trong đó tỷ lệ lợi nhuận ròng/ tổng tài sản thấp hơn và tỷ lệ tài sản ngắn hạn/ nợ ngắn hạn thấp hơn tỷ lệ này càng cao thì khả năng nhận YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần của công ty càng lớn.

Các yếu tố tài chính như tính thanh khoản cao, hoạt động hiệu quả, lợi nhuận vượt trội và tỷ lệ đòn bẩy tài chính thấp đều ảnh hưởng đến việc BCTC nhận ý kiến chấp nhận toàn phần theo mô hình của Ahmet Ozcan (2016), được kiểm định bằng hồi quy logistic Ngoài ra, thời gian niêm yết lâu năm và tỷ lệ thành viên độc lập trong Hội đồng Quản trị càng cao thì khả năng công tác kiểm toán chấp nhận ý kiến không có ý kiến cũng tăng lên.

1.2 CÁC NGHIÊN CỨU THỰC HIỆN Ở TRONG NƯỚC

Các nghiên cứu thực nghiệm về mô hình dự đoán ý kiến của Kỹ thuật viên Việt Nam còn hạn chế, nhưng một số công trình đã góp phần làm rõ mối liên hệ này Nghiên cứu của Nguyễn Thiên Tú (2012) đã phân tích mối quan hệ giữa ý kiến KTV và các tỷ số tài chính của các công ty niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2006-2010, sử dụng phương pháp phân tích phi tham số Kruskall-Wallis để đánh giá các biến tài chính như tỷ số thanh toán hiện hành, vốn lưu chuyển trên tổng tài sản, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, tỷ số lợi nhuận giữ lại, tỷ số doanh thu trên tổng tài sản, tổng tài sản trên tổng nợ, vốn cổ phần trên tổng nợ phải trả, và sự thay đổi tài sản hàng năm trên tổng tài sản năm trước Kết quả cho thấy, có bốn biến tài chính có khả năng dự đoán ý kiến KTV tốt nhất, gồm tỷ số vốn lưu chuyển trên tổng tài sản, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, tỷ số doanh thu trên tổng tài sản, và sự thay đổi tài sản hàng năm trên tổng tài sản năm trước, được sử dụng để xây dựng mô hình dự đoán.

Nghiên cứu năm 2013 của Hà Thị Thủy đã phân tích ảnh hưởng của tám biến tài chính gồm tỷ số đòn bẩy tài chính, khả năng thanh toán hiện hành, khả năng thanh toán nhanh, tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu, tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên doanh thu, tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản, tỷ suất lợi nhuận trước thuế cùng lãi vay trên doanh thu, vòng quay hàng tồn kho; cùng với ba biến phi tài chính là ý kiến của kiểm toán năm trước, công ty kiểm toán và Những yếu tố này đều ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, thể hiện tầm quan trọng của việc phân tích kỹ lưỡng các chỉ số tài chính và yếu tố phi tài chính trong quản lý và ra quyết định kinh doanh.

Trong bài viết, tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa các biến thông qua phương pháp kiểm định Mann-Whitney U và Chi bình phương, đồng thời áp dụng mô hình hồi quy nhị phân Logistic để dự đoán khả năng kiểm toán của công ty Kết quả nghiên cứu xác định bốn biến độc lập có ảnh hưởng đáng kể đến dự đoán gồm: công ty đã được kiểm toán trong năm trước, tỷ suất LNST trên doanh thu, tỷ số đòn bẩy tài chính và tỷ suất LNTT trên doanh thu, góp phần nâng cao độ chính xác của mô hình trong lĩnh vực xây dựng.

1.3 NHẬN XÉT CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VÀ XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Các yếu tố tài chính như tỷ lệ nợ/Tổng tài sản tăng, mức lỗ trong năm hiện tại, tỷ lệ tăng trưởng thấp, tỷ lệ vốn chủ sở hữu/Tổng tài sản thấp đều ảnh hưởng tích cực đến khả năng BCTC nhận ý kiến không phải là chấp nhận toàn phần Ngược lại, các chỉ số như tăng trưởng đơn vị, tỷ lệ lợi nhuận ròng/Vốn chủ sở hữu cao, tỷ lệ lãi ròng/doanh thu cao, tỷ lệ lợi nhuận ròng/Tổng tài sản cao hay tỷ lệ nợ/Tổng tài sản thấp có ảnh hưởng tiêu cực đến ý kiến chấp thuận toàn phần Thêm vào đó, các yếu tố phi tài chính như công ty được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán lớn, số thành viên Hội đồng Quản trị ít, có ít cổ đông tham gia quản lý, các khoản vay thế chấp hay khoảng thời gian dài giữa kết thúc năm tài chính và ký ý kiến cũng ảnh hưởng đến loại ý kiến được đưa ra.

Các nghiên cứu trước đã chứng minh rằng việc kết hợp các yếu tố tài chính và phi tài chính phù hợp mang lại công cụ hữu ích cho KTV và người sử dụng BCTC trong việc dự đoán YKKT trên BCKiT Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả doanh nghiệp như quy mô công ty nhỏ (Laitinen, 1998), thông tin về vụ kiện tụng (Spathis và cộng sự, 2003), tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT thấp và thời gian niêm yết ngắn (Ahmet Ozcan, 2016) đều góp phần hình thành bức tranh toàn diện về hiệu quả công ty.

Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào xây dựng mô hình dự đoán ý kiến của KTV, với phần lớn tập trung vào dự đoán YKKT thay vì ý kiến chấp nhận toàn phần, và được thực hiện phổ biến trên toàn thế giới Tuy nhiên, tại Việt Nam, các nghiên cứu liên quan vẫn còn hạn chế và chưa phổ biến rộng rãi Những điểm hạn chế của các nghiên cứu này bao gồm việc thiếu dữ liệu đa dạng và phù hợp với đặc thù của thị trường Việt Nam, cũng như các mô hình chưa tối ưu hóa để phản ánh đúng ý kiến của người tiêu dùng Việt.

Một là, các biến nghiên cứu đưa vào mô hình chưa được đa dạng

Các nghiên cứu kết hợp sử dụng tỷ số tài chính và phi tài chính vẫn còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào các công ty trong lĩnh vực cụ thể, chưa thể xây dựng mô hình tổng quát như các nghiên cứu quốc tế.

Trong bài viết này, tác giả lựa chọn phát triển một mô hình dự đoán ý kiến kết luận kiểm toán (YKKT) dựa trên cả thông tin tài chính và phi tài chính của các công ty niêm yết tại Việt Nam Mô hình này nhằm cung cấp dự đoán chính xác hơn về ý kiến chấp nhận hay từ chối của kiểm toán viên, qua đó hỗ trợ người dùng trong quá trình ra quyết định Phương pháp kiểm định chính của nghiên cứu là hồi quy Binary Logistic, giúp phân tích và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán Kết quả kỳ vọng của nghiên cứu là tạo ra một công cụ hiệu quả, hỗ trợ kiểm toán viên trong quá trình đánh giá rủi ro và lập kế hoạch kiểm toán, từ đó nâng cao chất lượng và độ chính xác của quá trình kiểm toán tại các doanh nghiệp Việt Nam.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Ý kiến kiểm toán

2.1.1 Kiểm toán báo cáo tài chính và ý kiến kiểm toán

2.1.1.1 Kiểm toán báo cáo tài chính

Kiểm toán BCTC là quá trình các Kiểm toán viên thực hiện kiểm tra, đánh giá tính trung thực, hợp lý của thông tin tài chính, đồng thời xác nhận sự tuân thủ các quy định và chuẩn mực kế toán đối với các báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

Kiểm toán Báo cáo tài chính nhằm gia tăng độ tin cậy cho người sử dụng báo cáo tài chính thông qua quá trình kiểm tra và xác nhận rằng báo cáo tài chính được lập đúng đắn, phù hợp với các chuẩn mực về lập và trình bày báo cáo tài chính Quá trình này giúp đảm bảo tính chính xác, khách quan của thông tin tài chính, từ đó nâng cao giá trị và uy tín của báo cáo Kiểm toán BCTC được thực hiện theo các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam cùng với các quy định về đạo đức nghề nghiệp, góp phần hình thành ý kiến kiểm toán đáng tin cậy và chuyên nghiệp.

2.1.1.2 Ý kiến kiểm toán Ý kiến KTV là kết quả cuối cùng của cuộc kiểm toán, được KTV đưa ra trong BCKiT nhằm xác nhận về tính trung thực và hợp lý cũng như tính tuân thủ chuẩn mực và các quy định pháp luật có liên quan của các BCTC Ý kiến KTV chỉ cung cấp cho người sử dụng BCKiT sự đảm bảo hợp lý và làm gia tăng sự tin cậy của BCTC Do đó, người sử dụng BCKiT không thể cho rằng ý kiến kiểm toán là sự đảm bảo về khả năng DN tồn tại trong tương lai hay đánh giá về năng lực điều hành của bộ máy quản lý DN có hiệu quả hay không 2.1.2 Các dạng ý kiến kiểm toán

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam: Ý kiến kiểm toán bao gồm các dạng sau:

- Ý kiến chấp nhận toàn phần

- Ý kiến không phải chấp nhận toàn phần

+ Ý kiến kiểm toán trái ngược

+ Ý kiến kiểm toán ngoại trừ

Kiểm toán viên có thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần, khi kết luận báo cáo tài chính phù hợp với các tiêu chuẩn, như quy định trong Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 700/2012, và phải thể hiện rõ trong báo cáo Trong khi đó, ý kiến không chấp nhận toàn phần gồm ba dạng chính: ý kiến ngoại trừ, được sử dụng khi có các sai sót trọng yếu nhưng không lan tỏa hoặc chưa thể thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán; ý kiến trái ngược, khi phát hiện các sai sót có ảnh hưởng trọng yếu và lan tỏa đến báo cáo tài chính, dựa trên các bằng chứng có sẵn Các quy định này giúp kiểm soát chính xác và rõ ràng về tính chính xác của báo cáo tài chính dựa trên các chuẩn mực kiểm toán đã ban hành.

Kiểm toán viên phải từ chối đưa ra ý kiến khi không thể thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán phù hợp để xác định xem các sai sót chưa phát hiện có ảnh hưởng trọng yếu hay không, đặc biệt trong các trường hợp có nhiều yếu tố không chắc chắn gây tác động tương tác đến báo cáo tài chính (Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 705, 2012) Khi cần nhấn mạnh một vấn đề quan trọng để người dùng hiểu rõ báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải thêm phần “Vấn đề cần nhấn mạnh” trong báo cáo, để thể hiện đã thu thập đủ bằng chứng và không có sai sót trọng yếu liên quan (Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 706, 2012) Ngoài ra, nếu có vấn đề khác cần trao đổi nhằm giúp người đọc hiểu rõ hơn về quá trình kiểm toán, trách nhiệm của kiểm toán viên hoặc nội dung báo cáo, và không bị cấm về mặt pháp luật, kiểm toán viên phải trình bày trong báo cáo với tiêu đề “Vấn đề khác” hoặc “Các vấn đề khác”.

(Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 706, 2012)

Trong đề tài này, YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần bao gồm: ý kiến ngoại trừ, ý kiến trái ngược và từ chối đưa ra ý kiến

Theo quy định của chuẩn mực kiểm toán Quốc tế:

Theo ISA 700, ý kiến kiểm toán về báo cáo tài chính bao gồm hai dạng chính:

Ý kiến chấp nhận toàn phần thể hiện rằng Báo cáo Tài chính không chứa sai sót trọng yếu, trình bày trung thực và hợp lý, tuân thủ các quy định liên quan Ngoài ra, ý kiến này có thể đi kèm với đoạn nhấn mạnh nhằm làm rõ một vấn đề nào đó mà không ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán.

Ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần, được trình bày khi báo cáo tài chính có chứa sai sót trọng yếu hoặc kiểm toán viên bị giới hạn phạm vi kiểm toán ảnh hưởng đáng kể đến kết quả kiểm toán Ngoài ra, những bất đồng về các vấn đề quan trọng giữa kiểm toán viên và người quản lý đơn vị kiểm toán cũng là lý do dẫn đến việc đưa ra ý kiến không chấp nhận toàn phần.

Báo cáo tài chính và vai trò của báo cáo tài chính

2.2.1 Khái niệm báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính là bản trình bày hệ thống về các thông tin tài chính quá khứ, nhằm công bố tình hình tài chính và nghĩa vụ của doanh nghiệp tại một thời điểm hoặc trong kỳ báo cáo, phù hợp với chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 200 Để trở thành công cụ quản lý kinh tế hiệu quả, báo cáo tài chính cần đáp ứng các yêu cầu cơ bản, đảm bảo tính minh bạch, chính xác và phù hợp với quy định pháp luật về lập và trình bày báo cáo tài chính.

Báo cáo tài chính cần được lập chính xác và trung thực theo đúng mẫu biểu quy định, đảm bảo tính pháp lý, có đầy đủ chữ ký của các cá nhân liên quan và dấu xác nhận của cơ quan, đơn vị phù hợp.

Báo cáo tài chính cần đảm bảo tính thống nhất về nội dung, trình tự và phương pháp lập theo quy định của nhà nước, giúp người sử dụng dễ dàng so sánh và đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp qua các thời kỳ hoặc giữa các doanh nghiệp khác nhau.

2.2.2 Vai trò của báo cáo tài chính

BCTC đóng vai trò then chốt trong công tác quản lý doanh nghiệp, giúp các cơ quan chủ quản và đối tượng quan tâm nắm bắt rõ tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh Việc này đảm bảo tính minh bạch, thúc đẩy quản trị doanh nghiệp hiệu quả và hỗ trợ quá trình ra quyết định chính xác Ngoài ra, BCTC còn là công cụ quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động, cũng như làm căn cứ cho các kiểm toán và kiểm tra tài chính Chính vì vậy, việc xây dựng và công bố BCTC đúng chuẩn không chỉ nâng cao uy tín doanh nghiệp mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững trên thị trường.

BCTC đóng vai trò then chốt trong việc phân tích và nghiên cứu các khả năng tiềm năng của doanh nghiệp, giúp xác định chính xác các cơ hội phát triển và rủi ro tiềm ẩn Đây là căn cứ quan trọng để các chủ sở hữu, nhà đầu tư và chủ nợ đưa ra các quyết định chiến lược về quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư Khi có BCTC đầy đủ và chính xác, các bên liên quan có thể đưa ra các quyết định tài chính phù hợp, tối ưu hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp trong tương lai.

BCTC là các báo cáo tài chính tổng quát, phản ánh rõ nét tình hình tài sản, nợ phải trả, nguồn hình thành tài sản, tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ.

BCTC là căn cứ quan trọng để xây dựng các kế hoạch kinh tế – kỹ thuật, tài chính của doanh nghiệp Chúng cung cấp nền tảng khoa học để đề ra các biện pháp xác thực nhằm nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp, tối ưu hóa sử dụng vốn, và thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn Việc phân tích BCTC giúp doanh nghiệp định hướng chiến lược phát triển bền vững, tăng lợi nhuận và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.

BCTC cung cấp các thông tin chủ yếu về tình hình kinh tế, tài chính của doanh nghiệp nhằm đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và thực trạng tài chính trong kỳ Những số liệu này hỗ trợ việc kiểm tra, giám sát sử dụng vốn và khả năng huy động nguồn vốn để phục vụ hoạt động SXKD của doanh nghiệp hiệu quả.

Khái niệm và đặc điểm thông tin trên báo cáo tài chính

DN, người cho vay, các cơ quan quản lý cấp trên và toàn bộ cán bộ, công nhân viên của DN.

2.3 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

2.3.1 Thông tin trên báo tài chính

Các thông tin trên báo cáo tài chính bao gồm cả dữ liệu tài chính và phi tài chính, phản ánh tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh và dòng tiền của doanh nghiệp Những thông tin này được trình bày rõ ràng để đáp ứng nhu cầu quản lý của doanh nghiệp, yêu cầu của cơ quan Nhà nước và hỗ trợ người sử dụng trong việc ra quyết định kinh tế chính xác và minh bạch.

Những thông tin của một doanh nghiệp được cung cấp từ báo cáo tài chính:

- Doanh thu, thu nhập khác, chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí khác

- Lãi lỗ và phân chia kết quả kinh doanh

Trong Bản thuyết minh Báo cáo tài chính, cần trình bày đầy đủ các thông tin cụ thể để giải trình các chỉ tiêu đã phản ánh trên báo cáo tài chính tổng hợp Nội dung này giúp rõ hơn về các chính sách kế toán đã áp dụng để ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, đồng thời thể hiện quá trình lập và trình bày báo cáo tài chính một cách minh bạch, chính xác.

Thông tin trên báo cáo tài chính giúp người dùng đánh giá chính xác tình hình hoạt động và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp qua các chỉ số tài chính như tỷ số tài chính, đồng thời cung cấp các dữ liệu phi tài chính liên quan đến chính sách kế toán áp dụng, sự thay đổi trong chính sách này cũng như những thông tin về cơ cấu tổ chức quản lý, nợ tiềm tàng và cam kết vốn của doanh nghiệp Các nội dung này tuân thủ theo yêu cầu của chuẩn mực kế toán và các văn bản pháp luật liên quan về việc lập và trình bày báo cáo tài chính, giúp đảm bảo tính minh bạch và chính xác của dữ liệu tài chính của doanh nghiệp.

2.3.2 Đặc điểm thông tin trên báo cáo tài chính

Quan điểm theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 01, thông tin bao gồm những đặc điểm:

Trong việc trình bày trung thực, các thông tin và số liệu kế toán cần được ghi chép và báo cáo dựa trên các bằng chứng đầy đủ, khách quan, phản ánh chính xác hiện trạng, bản chất, nội dung và giá trị của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh Việc này đảm bảo tính minh bạch và chính xác trong báo cáo tài chính, giúp các bên liên quan đưa ra quyết định đúng đắn dựa trên số liệu tin cậy.

- Khách quan: các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng với thực tế, không xuyên tạc, không bị bóp méo

Để đảm bảo tính chính xác và minh bạch trong hoạt động tài chính, tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong kỳ kế toán cần được ghi chép đầy đủ và báo cáo đúng quy định Việc không bỏ sót bất kỳ nghiệp vụ nào giúp phản ánh chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp và hỗ trợ quá trình ra quyết định quản lý hiệu quả hơn.

Thông tin và số liệu kế toán cần được ghi chép và báo cáo đúng hạn hoặc trước thời hạn quy định, đảm bảo tính chính xác và kịp thời để phản ánh chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp Việc gửi báo cáo đúng hạn giúp duy trì sự minh bạch, tránh các rắc rối pháp lý và nâng cao hiệu quả quản lý tài chính.

Báo cáo tài chính cần trình bày thông tin và số liệu kế toán rõ ràng, dễ hiểu để người sử dụng, đặc biệt là những người có kiến thức trung bình về kinh doanh, kinh tế, tài chính và kế toán, có thể dễ dàng tiếp cận và hiểu đúng nội dung Các vấn đề phức tạp trong báo cáo nên được giải thích rõ ràng trong phần thuyết minh để đảm bảo tính minh bạch và giúp người đọc nắm bắt chính xác các thông tin quan trọng.

Việc so sánh các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán trong cùng doanh nghiệp cũng như giữa các doanh nghiệp chỉ khả thi khi được tính toán và trình bày một cách nhất quán Nếu không đảm bảo tính nhất quán, cần có phần thuyết minh rõ ràng để người đọc báo cáo tài chính có thể dễ dàng so sánh thông tin giữa các kỳ, giữa các doanh nghiệp hoặc giữa thực tế và dự toán, kế hoạch.

Tỷ số tài chính

2.4.1 Khái niệm tỷ số tài chính

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

Có bốn nhóm chỉ số tài chính chủ yếu:

- Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh khoản

- Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính

- Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động

- Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời (tăng trưởng)

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

- Tỷ số thanh toán hiện hành (Current ratio)

Tỷ số thanh toán hiện hành thể hiện khả năng của công ty trong việc sử dụng tài sản ngắn hạn như tiền mặt, hàng tồn kho và các khoản phải thu để đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn Một tỷ số cao hơn đồng nghĩa với việc công ty có khả năng thanh toán nợ ngắn hạn tốt hơn, trong khi tỷ số thấp hơn có thể cho thấy rủi ro tài chính cao và khả năng thanh toán sẽ gặp khó khăn.

Chỉ số cho thấy công ty đang gặp khó khăn về mặt tài chính và có thể không trả nổi các khoản nợ khi đến hạn, tuy nhiên, điều này không nhất thiết đồng nghĩa với việc công ty phá sản vì vẫn còn nhiều cách huy động vốn Bên cạnh đó, khi tỷ số này quá cao, nó phản ánh doanh nghiệp sử dụng tài sản không hiệu quả, gây ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng phát triển bền vững của công ty.

- Tỷ số thanh toán nhanh (Quick ratio)

Tỷ số thanh toán nhanh xác định khả năng của công ty trong việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng các tài sản ngắn hạn mà không cần bán hàng tồn kho, phản ánh chính xác hơn tỷ số thanh toán hiện hành Một tỷ số nhanh dưới 1 cho thấy công ty gặp khó khăn trong việc đáp ứng nghĩa vụ nợ ngắn hạn, cần xem xét kỹ lưỡng Nếu tỷ số này thấp hơn đáng kể so với tỷ số hiện hành, điều đó chứng tỏ phần lớn tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp phụ thuộc vào hàng tồn kho, làm giảm khả năng thanh khoản trong ngắn hạn.

Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính là công cụ quản lý tài chính nhằm tối ưu hóa khoản nợ vay để tăng lợi nhuận doanh nghiệp Các tỷ số đòn bẩy tài chính như hệ số nợ trên tổng tài sản và tỷ lệ khả năng trả nợ giúp xác định khả năng thanh toán của doanh nghiệp, từ đó đánh giá rủi ro mất khả năng tài chính.

Tổng số nợ của công ty gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn phải trả, phản ánh khả năng tài chính của doanh nghiệp Chủ nợ thường ưu tiên các công ty có tỷ số nợ thấp vì điều này đồng nghĩa với khả năng trả nợ cao hơn Trong khi đó, cổ đông lại ưa thích tỷ số nợ cao để tăng khả năng sinh lợi, nhưng cần so sánh tỷ số này với mức trung bình của ngành để đánh giá đúng mức độ an toàn và tiềm năng phát triển của công ty.

Tỷ số nợ thấp góp phần nâng cao khả năng bảo vệ quyền lợi cho các chủ nợ trong trường hợp doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và phải tiến hành thanh lý tài sản Khi tỷ số nợ càng giảm, rủi ro mất mát tài chính của các chủ nợ càng giảm, đồng thời tăng khả năng thu hồi khoản nợ cuối cùng Do đó, doanh nghiệp có tỷ số nợ thấp thường được xem là có khả năng tài chính vững vàng hơn, giảm thiểu rủi ro cho những bên cho vay hoặc chủ nợ trong những tình huống khẩn cấp.

Tỷ số nợ phụ thuộc rất nhiều yếu tố: loại hình doanh nghiệp, quy mô của doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động, mục đích vay

Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động đánh giá khả năng tổ chức và điều hành doanh nghiệp thông qua các tỷ số tài chính như hệ số vòng quay hàng tồn kho, hệ số vòng quay các khoản phải thu, hệ số vòng quay các khoản phải trả và hệ số vòng quay tổng tài sản Các chỉ tiêu này phản ánh tình hình sử dụng tài sản của doanh nghiệp và khả năng tạo ra doanh thu, giúp đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Trong nghiên cứu, tác giả tập trung vào hệ số vòng quay tổng tài sản (tỷ số doanh thu trên tổng tài sản) và tỷ số vòng quay vốn chủ sở hữu để phân tích hiệu quả sử dụng vốn và tài sản của doanh nghiệp.

- Hệ số vòng quay tổng tài sản (Asset Turnover Ratio)

Hệ số vòng quay tổng tài sản là chỉ số quan trọng để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp Chỉ số này phản ánh mức độ sinh lời của từng đồng tài sản bằng cách đo lường số tiền doanh thu mà công ty tạo ra từ mỗi đồng tài sản Việc theo dõi hệ số này giúp xác định khả năng tận dụng tài sản để tối ưu hóa hiệu quả hoạt động kinh doanh.

Hệ số vòng quay tổng tài sản cao thể hiện khả năng sử dụng tài sản của doanh nghiệp để tạo ra doanh thu hiệu quả hơn Đây là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Việc duy trì tỷ lệ vòng quay tổng tài sản cao giúp doanh nghiệp tối ưu hóa sử dụng tài sản và nâng cao lợi nhuận Trong quản trị kế toán tài chính, hệ số này càng cao càng cho thấy doanh nghiệp đang khai thác tốt nguồn lực của mình để đạt được kết quả kinh doanh vượt trội.

Để đánh giá chính xác hiệu quả sử dụng tài sản của một công ty, bạn cần so sánh hệ số vòng quay tài sản của công ty đó với hệ số trung bình của ngành để có cái nhìn toàn diện.

- Tỷ số vòng quay vốn chủ sở hữu

Tỷ số vòng quay vốn chủ sở hữu là chỉ số quan trọng đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp, giúp xác định mức độ tạo ra doanh thu từ mỗi đồng vốn đầu tư Chỉ số này thể hiện rõ ràng rằng, khi tỷ lệ càng cao, chứng tỏ công ty sử dụng vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh một cách hiệu quả hơn Việc duy trì tỷ lệ vòng quay vốn chủ sở hữu ở mức cao là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu suất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.

Khả năng sinh lời của doanh nghiệp phản ánh kết quả sử dụng tất cả tài sản mà công ty đang sở hữu, chỉ số này đánh giá hiệu quả hoạt động và quản lý tài sản Các tỷ số tài chính phổ biến để đo lường khả năng sinh lời gồm có tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA), giúp xác định khả năng sinh lợi từ tổng tài sản của doanh nghiệp; tỷ suất lợi nhuận gộp, phản ánh lợi nhuận còn lại sau khi trừ đi giá vốn hàng bán; và tỷ suất sinh lời trên Vốn chủ sở hữu (ROE), thể hiện khả năng tạo ra lợi nhuận từ vốn của cổ đông.

- Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA)

Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và thông tin trên báo cáo tài chính

2.5.1 Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 705, KTV và CTKT sẽ đưa ra ý kiến không chấp nhận toàn phần nếu báo cáo tài chính sau kiểm toán không phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu về tình hình tài chính của doanh nghiệp, phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành tại Việt Nam.

Trong bối cảnh nền kinh tế gặp khó khăn, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị ảnh hưởng đáng kể, buộc các doanh nghiệp phải điều chỉnh chiến lược, quy mô hoạt động và các vấn đề tài chính liên quan để thích nghi Các công ty niêm yết phải đối mặt với áp lực đạt chỉ tiêu lợi nhuận, dễ dẫn đến hành vi sử dụng thủ thuật để làm đẹp báo cáo tài chính, nhằm ổn định giá cổ phiếu và thu hút vốn từ cổ đông Do đó, các kiểm toán viên thường tập trung xem xét kỹ lưỡng và thận trọng các yếu tố gây áp lực này, nhằm đánh giá chính xác ảnh hưởng của chúng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Trong quá trình kiểm toán, thủ tục phân tích hoạt động của công ty đóng vai trò là công cụ hữu ích giúp kiểm toán viên thu thập bằng chứng và đưa ra các kết luận kiểm toán phù hợp, từ đó giảm thiểu rủi ro kiểm toán đáng kể Thủ tục này không chỉ đơn giản, ít tốn thời gian và chi phí mà còn giúp tiết kiệm nguồn lực cho các công ty kiểm toán tại Việt Nam Khi áp dụng hiệu quả, phân tích hoạt động hỗ trợ thực hiện cuộc kiểm toán một cách khoa học, chính xác và hiệu quả hơn.

Thủ tục phân tích theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam - VSA 520 là quá trình đánh giá thông tin tài chính thông qua việc phân tích các mối quan hệ hợp lý giữa dữ liệu tài chính và phi tài chính, giúp xác định các điểm bất thường hoặc rủi ro tiềm ẩn trong báo cáo tài chính.

Quá trình đánh giá thông tin tài chính bao gồm việc phân tích các mối quan hệ đáng tin cậy giữa các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, nhằm xác định tính hợp lý của số liệu phản ánh trên sổ sách so với số liệu ước tính của Kiểm toán viên Trong quá trình này, KTV tập trung vào việc phân tích các biến động hoặc mối quan hệ không nhất quán với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch đáng kể so với dự tính ban đầu, dựa trên ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kinh doanh xung quanh đối với hoạt động của doanh nghiệp.

Việc phân tích tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong cả ba giai đoạn của quá trình kiểm toán báo cáo tài chính, từ lập kế hoạch đến thực hiện và kết thúc Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, phân tích này giúp đánh giá rủi ro và xác định các khoản mục trọng yếu có thể sai sót trên báo cáo tài chính Trong quá trình thực hiện kiểm toán, phân tích tình hình kinh doanh được sử dụng như một biện pháp xử lý các rủi ro đã xác định, hỗ trợ kiểm toán viên xác định các thủ tục kiểm toán phù hợp Cuối cùng, ở giai đoạn kết thúc, kiểm toán viên tiếp tục sử dụng phân tích để đánh giá sự biến động của các khoản mục sau điều chỉnh, nhằm xác nhận tính nhất quán và cung cấp ý kiến kiểm toán chính xác, phản ánh đúng tình hình tài chính của doanh nghiệp.

Tình hình hoạt động của doanh nghiệp được KTV đánh giá dựa trên cả thông tin tài chính và phi tài chính trên báo cáo tài chính, trong đó thủ tục phân tích là yếu tố then chốt giúp kiểm toán viên hiểu rõ về khả năng tài chính và hoạt động của doanh nghiệp Quá trình này đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng ý kiến kiểm toán chính xác và toàn diện.

2.5.2 Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và thông tin trên báo cáo tài chính

Các yếu tố tài chính, đặc biệt tỷ số tài chính, có mối liên hệ mật thiết với các yếu tố phi tài chính, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh và hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp Phân tích các nhóm nhân tố tài chính là nền tảng trong quá trình đánh giá tài chính doanh nghiệp, giúp nhà phân tích và kiểm toán viên hiểu rõ về cấu trúc tài chính, khả năng thanh toán và hiệu quả hoạt động Thông tin từ báo cáo tài chính cung cấp cái nhìn toàn diện về hoạt động của doanh nghiệp, từ đó hỗ trợ quản trị trong việc ra quyết định chiến lược phù hợp Nhiều nghiên cứu quốc tế đã chứng minh mối liên hệ này rõ ràng và giá trị của phân tích tài chính trong quản lý doanh nghiệp.

Các lý thuyết nền tảng

Các lý thuyết nền tảng như lý thuyết ủy nhiệm và lý thuyết triển vọng có thể giúp giải thích việc sử dụng thông tin trên Báo cáo tài chính (BCTC) để dự đoán ý kiến của kiểm toán viên (KTV) Lý thuyết ủy nhiệm nhấn mạnh vai trò của thông tin tài chính trong việc giảm thiểu xung đột lợi ích giữa các bên, trong khi lý thuyết triển vọng tập trung vào ảnh hưởng của kỳ vọng và dự đoán về hiệu quả tài chính trong quá trình phân tích và đưa ra ý kiến.

2.6.1 Lý thuyết ủy nhiệm (Agency theory)

Lý thuyết về mối quan hệ giữa bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm, được đề xuất bởi Ross (1973) và phát triển bởi Jensen & Meckling (1976), tập trung vào các hợp đồng quản lý trong công ty cổ phần Trong mô hình này, cổ đông chủ sở hữu (bên ủy nhiệm) thuê nhà quản lý (bên đại diện) để thực hiện các công việc kiểm soát và ra quyết định, nhằm tối đa hóa lợi ích của cổ đông Quản lý đóng vai trò trung gian, giúp giảm thiểu xung đột quyền lợi và đảm bảo lợi ích của cổ đông được bảo vệ trong quá trình hoạt động công ty.

Lý thuyết ủy nhiệm cho rằng cả cổ đông và nhà quản lý đều hướng đến lợi ích cá nhân, gây ra xung đột lợi ích khi nhà quản lý có thể đưa ra quyết định nhằm lợi ích riêng thay vì lợi ích của cổ đông (Jensen và Meckling, 1976) Xung đột này thường thể hiện rõ hơn ở các công ty lớn, nơi nhà quản lý có kiến thức chuyên môn vượt trội và dễ lợi dụng chủ sở hữu khi hoạt động giám sát hạn chế (Gayle và Miller, 2009; Miller và Sardais, 2011) Để bảo vệ quyền lợi của cổ đông, các giải pháp như tăng số thành viên độc lập trong Hội đồng quản trị và kiểm toán BCTC được áp dụng nhằm tăng tính đáng tin cậy của thông tin và hạn chế hành vi lạm quyền của nhà quản lý (Nicholson và Kiel, 2007; Arnold & Lange, 2004) Kiểm toán không chỉ giúp giảm thiểu chi phí ủy nhiệm mà còn nâng cao hiệu quả giám sát hành vi của nhà quản lý, qua đó đảm bảo thông tin trong BCTC phản ánh trung thực và hợp lý Trong trường hợp BCTC thể hiện không chính xác, thông tin sai lệch do cố ý của nhà quản lý để đạt mục tiêu cá nhân sẽ được phát hiện qua ý kiến kiểm toán của nhân viên kiểm toán, nhằm đảm bảo minh bạch và giảm thiểu rủi ro về gian lận.

2.6.2 Lý thuyết triển vọng (Prospect theory)

Lý thuyết hành vi trong kinh tế, được phát triển bởi Daniel Kahneman và Amos Tversky vào những năm 1979 và 1992, giải thích cách con người ra quyết định trước rủi ro Theo đó, người tiêu dùng thường ưu tiên bù đắp các khoản lỗ hơn là tìm kiếm lợi nhuận nhiều hơn, thể hiện qua khuynh hướng duy trì các khoản đầu tư có khả năng sinh lợi để hy vọng thu hồi lợi nhuận trong tương lai, bất chấp rủi ro cao Khi nhận thấy khả năng mang lại lợi nhuận lớn, họ thích giữ nguyên lợi nhuận hiện tại thay vì tiếp tục đầu tư, còn trong trường hợp đầu tư có khả năng lỗ, họ lại chấp nhận giữ vị trí hy vọng phục hồi trong tương lai Lý thuyết này giúp giải thích tâm lý của người dùng báo cáo tài chính, thường dự đoán rủi ro liên quan đến quyết định đầu tư và họ thường chú ý đến ý kiến không hoàn toàn chấp nhận mà để phản ứng phù hợp.

Lý thuyết ủy nhiệm nhấn mạnh vai trò của báo cáo kiểm toán và ý nghĩa của nó trong việc giám sát hành vi của nhà quản lý, đảm bảo tính trung thực và hợp lý của thông tin tài chính phản ánh trong báo cáo tài chính Trong khi đó, lý thuyết triển vọng cho thấy người sử dụng BCTC thường quan tâm đến ý kiến kiểm toán, đặc biệt là các tỷ số tài chính, nhằm đưa ra quyết định phù hợp trong đầu tư mà không nhất thiết yêu cầu ý kiến chấp nhận toàn phần Sự quan tâm này tạo nền tảng cho mô hình nghiên cứu, kết hợp giữa các tỷ số tài chính và thông tin phi tài chính để dự đoán YKKT hiệu quả hơn.

Tóm tắt cơ sở lý thuyết về YKKT làm rõ vai trò của cơ chế giám sát qua kiểm toán BCTC trong việc đảm bảo tính minh bạch và chính xác của báo cáo tài chính Phân tích hai lý thuyết nền tảng là lý thuyết ủy nhiệm và lý thuyết triển vọng giúp làm rõ tầm quan trọng của hệ thống kiểm soát nội bộ trong việc nâng cao độ tin cậy của báo cáo tài chính và ảnh hưởng của YKKT đối với người sử dụng BCKiT Mô hình kết hợp thông tin tài chính và phi tài chính được đề xuất nhằm nâng cao khả năng dự đoán ý kiến của kiểm toán viên, góp phần tối ưu hóa quá trình ra quyết định của các bên liên quan.

Chương tiếp theo tập trung xây dựng giả thuyết, phát triển mô hình nghiên cứu phù hợp, và đề xuất phương pháp tiếp cận hiệu quả để phân tích dữ liệu tài chính và phi tài chính Đồng thời, tác giả xem xét tổng thể các chỉ số tài chính nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện, từ đó lựa chọn các yếu tố phi tài chính phù hợp để tích hợp vào mô hình nghiên cứu, nâng cao tính chính xác và khả năng dự đoán.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu

Nhiều nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra rằng, cả các yếu tố tài chính lẫn phi tài chính đều có khả năng dự đoán việc doanh nghiệp nhận YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần Các yếu tố tài chính như công ty có lợi nhuận hiện tại âm, chênh lệch lợi nhuận so với trung bình ngành, tỷ lệ tổng nợ/tổng tài sản tăng, tỷ lệ tăng trưởng doanh nghiệp thấp, vốn chủ sở hữu thấp trên tổng tài sản, và tỷ số lợi nhuận ròng trên tổng tài sản thấp đều làm tăng khả năng doanh nghiệp bị nhận YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần Đồng thời, các nghiên cứu cũng xác định mối quan hệ ngược chiều: các tỷ số tài chính cao như tỷ lệ tăng trưởng đơn vị, lợi nhuận ròng/vốn chủ sở hữu cao, lợi nhuận ròng/tổng tài sản cao, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu cao, và tỷ lệ nợ thấp lại giảm khả năng này Ngoài ra, các yếu tố phi tài chính như doanh nghiệp đã được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán lớn, số lượng thành viên hội đồng quản trị ít, cổ đông tham gia quản lý ít, các khoản vay thế chấp, thời gian giữa kết thúc năm tài chính và ký YKKT dài, ít nhân viên, có thông tin về kiện tụng, tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT thấp hay thời gian niêm yết ngắn cũng đều góp phần làm tăng khả năng doanh nghiệp nhận YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần.

Các nghiên cứu trong nước như của Nguyễn Thiên Tú (2012) và Hà Thị Thủy (2013) đều chỉ ra rằng các biến như tỷ số vốn lưu chuyển trên tổng tài sản, tỷ số doanh thu trên tổng tài sản, ROA, sự thay đổi tài sản hàng năm trên tổng tài sản năm trước, doanh thu từ hoạt động kinh doanh trước đó, tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu, tỷ số đòn bẩy tài chính và tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên doanh thu đều có khả năng dự đoán tốt trong các mô hình tài chính.

Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung vào việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến dự đoán YKKT, dựa trên nền tảng nghiên cứu chính của Ahmet Ozcan Các yếu tố này đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao độ chính xác của dự đoán YKKT, đồng thời góp phần cung cấp những cơ sở dữ liệu quan trọng để phát triển mô hình dự báo hiệu quả hơn.

Trong nghiên cứu này, các biến được chọn dựa trên các công trình của Caramanis và cộng sự (2006), Spathis và cộng sự (2003), cùng Keasey và cộng sự (1988) Nhóm các yếu tố liên quan đến tỷ số tài chính gồm khả năng thanh khoản, cơ cấu tài sản, khả năng hoạt động và khả năng sinh lời (tăng trưởng), nhằm phân tích ảnh hưởng của chúng đến ý kiến kiểm toán Bên cạnh đó, các biến phi tài chính như thời gian niêm yết và quy mô HĐQT cũng được xem xét để làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả kiểm toán Biến phụ thuộc chính trong nghiên cứu là ý kiến kiểm toán, trong đó mã hóa là 1 cho ý kiến không chấp nhận toàn phần và 0 cho ý kiến chấp nhận toàn phần, giúp dễ dàng phân tích các mối liên hệ trong mô hình nghiên cứu.

Trong chương 2, tác giả đã nhấn mạnh ý nghĩa của việc phân tích các tỷ số tài chính trong đánh giá hoạt động doanh nghiệp, dựa trên 4 nhóm nhân tố chủ yếu Các biến tỷ số tài chính được lựa chọn để đưa vào mô hình nghiên cứu dựa trên cơ sở lý thuyết vững chắc và khả năng phản ánh chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp Việc chọn lọc các tỷ số này nhằm đảm bảo mô hình nghiên cứu có độ chính xác cao, mang lại các kết quả phân tích phù hợp và có giá trị thực tiễn.

Các biến này đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu trước đây và đã chứng minh rõ ràng ảnh hưởng đến quá trình hình thành ý kiến kiểm toán không phải ý kiến chấp nhận toàn phần, góp phần nâng cao hiệu quả và độ chính xác của quá trình đánh giá tài chính.

Thứ hai, các biến này có thể được đo lường và tính toán dễ dàng dựa vào các thông tin trên BCTC của các công ty niêm yết

Thứ ba, các biến tài chính phổ biến đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá tổng thể hiệu quả của các công ty niêm yết tại Việt Nam Những chỉ số này giúp nhà đầu tư và phân tích hiểu rõ hơn về tình hình tài chính của các doanh nghiệp trong các ngành khác nhau, từ đó đưa ra quyết định đầu tư phù hợp Việc nắm bắt các biến tài chính chính này cung cấp cái nhìn toàn diện, dễ dàng so sánh và đánh giá các doanh nghiệp niêm yết theo các tiêu chí chuẩn quốc tế.

Khả năng thanh khoản của doanh nghiệp được đo lường qua hai tỷ số quan trọng là tỷ số thanh toán nhanh (T1) và tỷ số thanh toán hiện hành (T2) Theo nghiên cứu của Ahmet Ozcan (2016), các công ty nhận ý kiến chấp thuận toàn phần của kiểm toán có tỷ số T1 và T2 cao hơn so với những công ty không nhận ý kiến chấp thuận hoặc nhận ý kiến không phát hành Điều này cho thấy mối liên hệ rõ ràng giữa khả năng thanh khoản tốt và việc nhận được ý kiến kiểm toán tích cực, góp phần nâng cao độ tin cậy và hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường.

Biến tỷ số thanh toán nhanh (T1) và tỷ số thanh toán hiện hành (T2) thường có mối quan hệ nghịch biến với khả năng nhận YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần, cho thấy rằng khi các tỷ số này tăng, khả năng doanh nghiệp không nhận được ý kiến chấp nhận toàn phần từ kiểm toán viên sẽ giảm Giả thuyết này được đặt ra dựa trên mối liên hệ giữa các chỉ số tài chính này và kết quả đánh giá của kiểm toán viên, nhằm làm rõ ảnh hưởng của khía cạnh tài chính doanh nghiệp đến quyết định của kiểm toán Nghiên cứu này giúp hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa khả năng thanh toán của doanh nghiệp và quá trình kiểm toán, góp phần nâng cao hiệu quả trong quá trình đánh giá tài chính doanh nghiệp.

H1: Các công ty có khả năng thanh khoản thấp thì khả năng nhận YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần sẽ càng cao

Cơ cấu tài chính được đo lường bằng tỷ số giữa Nợ trên Tổng tài sản (T3)

Cơ cấu tài chính phản ánh cách doanh nghiệp chủ yếu sử dụng vốn vay hoặc vốn chủ sở hữu để tài trợ hoạt động Tỷ số nợ trên tổng tài sản (T3) càng cao thể hiện doanh nghiệp dựa nhiều vào nguồn tài trợ bên ngoài hơn so với vốn chủ sở hữu Nghiên cứu của Ahmet Ozcan (2016) cho thấy, tỷ số nợ trên tổng tài sản cao làm giảm khả năng doanh nghiệp nhận được ý kiến chấp thuận toàn phần từ kiểm toán Thêm vào đó, nghiên cứu của Caramanis và cộng sự (2006) cũng xác nhận rằng tỷ lệ tài trợ bên ngoài cao hoặc tỷ số nợ trên tổng tài sản cao làm tăng khả năng không nhận được ý kiến chấp thuận toàn phần của kiểm toán.

Tỷ số nợ trên tổng tài sản (T3) có mối quan hệ thuận chiều với khả năng nhận YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần, cho thấy mức độ nợ cao hơn có thể ảnh hưởng đến kết quả đánh giá của ngân hàng Do đó, giả thuyết đặt ra là tỷ số này càng cao thì khả năng không được chấp thuận toàn bộ ý kiến càng tăng, phản ánh mối liên hệ giữa mức độ rủi ro tài chính và kết quả đánh giá tín dụng.

H2: Các công ty có tỷ số nợ trên tổng TS càng cao thì khả năng nhận YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần sẽ càng cao

Để đo lường hiệu quả hoạt động, các doanh nghiệp thường sử dụng tỷ số doanh thu trên tổng tài sản (T4) và tỷ số vòng quay vốn chủ sở hữu (T5) Nghiên cứu của Ahmet Ozcan (2016) cho thấy, các công ty có tỷ số doanh thu/tổng tài sản và vòng quay VCSH thấp thường có tỷ lệ ý kiến không đồng ý toàn phần cao hơn, phản ánh hiệu quả hoạt động kém hơn Thêm vào đó, nghiên cứu của Spathis và cộng sự (2003) cũng chỉ ra xu hướng tương tự, xác nhận rằng các doanh nghiệp có hệ số này thấp thường có kết quả đánh giá kiểm toán không tích cực.

Tỷ số doanh thu trên tổng tài sản (T4) và tỷ số vòng quay vốn chủ sở hữu (T5) dự kiến có mối quan hệ nghịch chiều với khả năng nhận YKKT, cho thấy mối liên hệ không nhất thiết phản ánh ý kiến chấp nhận toàn phần Do đó, giả thuyết đặt ra dựa trên những phân tích này nhằm kiểm chứng mối tương quan giữa các tỷ số tài chính và phản ứng của doanh nghiệp trong quá trình ra quyết định.

H3: Các công ty có hiệu quả hoạt động càng thấp thì khả năng nhận YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần càng cao

Khả năng sinh lời của các công ty được đo lường bằng các chỉ số như suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE) và hệ số biên lợi nhuận gộp, thể hiện rõ qua các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động Nghiên cứu của Ahmet Ozcan (2016) chỉ ra rằng các công ty nhận YKCNTP có khả năng sinh lời cao hơn, thể hiện qua các chỉ số ROA, ROE và hệ số biên lợi nhuận gộp cao hơn so với các công ty nhận YKKT, cho thấy sự khác biệt trong hiệu quả sinh lời giữa hai nhóm doanh nghiệp.

Tỷ số ROA (T6), ROE (T7) và hệ số biên lợi nhuận gộp (T8) được dự đoán có mối quan hệ nghịch biến với khả năng nhận được YKKT, cho thấy các chỉ số này phản ánh khả năng sinh lời của doanh nghiệp ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả nhận được Giả thuyết này đặt ra mối liên hệ rõ ràng giữa hiệu quả hoạt động tài chính và khả năng đạt được YKKT, giúp các nhà quản lý và nhà đầu tư hiểu rõ hơn về tác động của các chỉ số tài chính đến quyết định chấp nhận hay từ chối YKKT.

H4: Các công ty có khả năng sinh lời thấp thì khả năng nhận YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần sẽ càng cao

- Nhóm nhân tố phi tài chính

Phương pháp kiểm định

Trong các nghiên cứu trước đó, nhiều phương pháp kiểm định khác nhau đã được áp dụng để xây dựng mô hình dự đoán Mỗi phương pháp mang lại những lợi ích và hạn chế riêng, phụ thuộc vào đặc điểm của các biến được chọn và các giả định cần thỏa mãn của mẫu nghiên cứu.

Trong các nghiên cứu trước đây, các phương pháp phổ biến bao gồm phân tích phân loại đa tiêu chí UTADIS và phương pháp Logit được sử dụng trong nghiên cứu của Spathis và cộng sự (2003) Ngoài ra, phương pháp phân tích biệt số (Discriminant Analysis) được ứng dụng trong nghiên cứu của Alpaslan Yasar và cộng sự (2015) Phân tích Probit (mô hình xác suất đơn vị) đã được Dopuch và cộng sự thực hiện từ năm 1987, còn phương pháp phân tích hồi quy Logistic đa thức (Multinomial Logistic Regression) thường xuyên được Keasey và các cộng sự áp dụng để dự đoán các yếu tố ảnh hưởng đến các biến phụ thuộc nhiều cấp độ.

(1988) và Laitinen (1998), phân tích hồi quy Logistic của Caramanis và cộng sự

Nghiên cứu của Spathis và cộng sự đã sử dụng cả phương pháp thống kê truyền thống và hiện đại UTADIS để so sánh hiệu quả của các phương pháp phân loại đa tiêu chí Kết quả cho thấy, phương pháp UTADIS hiện đại mang lại khả năng dự đoán chính xác nhất, khẳng định tính ưu việt của kỹ thuật này trong phân tích đa tiêu chí Đồng thời, nghiên cứu của Alpaslan Yasar và cộng sự cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các phương pháp phân tích tiên tiến để nâng cao độ chính xác trong dự đoán.

Năm 2015, đã sử dụng nhiều phương pháp phân tích dữ liệu như hồi quy Logistic, phân tích biệt số và Data Mining để xây dựng các mô hình dự đoán đa dạng Các phương pháp này giúp tạo ra những mô hình dự đoán chính xác, nâng cao khả năng dự đoán và tối ưu hóa kết quả nghiên cứu.

Các nghiên cứu trước đó chỉ ra rằng phương pháp phân loại đa tiêu chí UTADIS và phân tích biệt số đem lại kết quả dự đoán cao hơn so với phương pháp thống kê truyền thống, nhưng đòi hỏi mẫu khảo sát phù hợp và quá trình chọn mẫu tỉ mỉ Việc lựa chọn phương pháp kiểm định phù hợp phụ thuộc vào đặc điểm của các biến nghiên cứu, do đó, trong bài viết này, tác giả sẽ áp dụng phương pháp hồi quy Logistic theo tham khảo của Ahmet Ozcan (2016) để đảm bảo độ phổ biến và hiệu quả của phân tích.

Hồi quy Binary Logistic phù hợp để xác định xác suất xảy ra của sự kiện “Ý kiến kiểm toán không phải ý kiến chấp nhận toàn phần”, dựa trên biến phụ thuộc dạng nhị phân và các thông tin từ biến độc lập Trong đó, biến phụ thuộc “Ý kiến kiểm toán” có hai trạng thái rõ ràng, giúp mô hình dự đoán chính xác hơn về khả năng ý kiến không chấp nhận toàn phần xảy ra Phương pháp này tận dụng đặc điểm của biến phụ thuộc để đưa ra các ước lượng xác suất phù hợp và hiệu quả trong phân tích dữ liệu kiểm toán.

Khi sử dụng phương pháp phân tích Binary Logistic, ta cần lưu ý một số yêu cầu như sau:

Hồi quy Logistic yêu cầu đánh giá mức độ phù hợp của mô hình dựa trên tiêu chí -2LL (log likelihood) Chỉ số này, do SPSS tính toán, càng nhỏ thì mô hình càng thể hiện độ phù hợp cao Ngoài ra, mức ý nghĩa Sig trong kết quả Kiểm định Omnibus giúp xác định xem giả thuyết các hệ số hồi quy có khác không, từ đó đánh giá hiệu quả của mô hình.

Thứ hai, các hệ số trong mô hình liên hệ tuyến tính, ngoại trừ hằng số, cần được kiểm định để xác định ý nghĩa trong việc giải thích biến phụ thuộc Kiểm định Wald là phương pháp chính được sử dụng để đánh giá ý nghĩa của các hệ số hồi quy này, giúp đảm bảo rằng các yếu tố được chọn có thực sự ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu.

Từ những biến và phương pháp ước lượng đựợc lựa chọn, tác giả khái quát mô hình hồi quy Logistic có dạng như sau:

P (Y = 1) = P0: Xác suất xảy ra sự kiện Trong nghiên cứu này là xác suất nhận YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần

P (Y = 0) = 1 – P0: Xác xuất không xảy ra sự kiện Trong nghiên cứu này là xác suất nhận YKCNTP

Ln: Log của cơ số e (e = 2,714)

Bi: Là hệ số ước lượng cho biến độc lập thứ i

T1: Tỷ số thanh toán nhanh

T2: Tỷ số thanh toán hiện hành

T3: Tỷ số nợ trên tổng tài sản

T4: Tỷ số doanh thu trên tổng tài sản

T5: Tỷ số vòng quay vốn chủ sở hữu

T6: Tỷ số suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)

T7: Tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở (ROE)

T8: Hệ số biên lợi nhuận gộp

T10: Quy mô Hội đồng Quản trị

Trong phương trình hồi quy, hệ số Bi thể hiện mối quan hệ giữa biến Ti và log của tỷ lệ odds (Pi/1-Pi) Cụ thể, mỗi khi biến Ti tăng thêm 1 đơn vị, log của tỷ lệ odds sẽ tăng thêm Bi đơn vị, cho thấy mức độ ảnh hưởng của biến độc lập này đến khả năng Y nhận giá trị bằng 1 Nếu Bi mang dấu dương, điều này đồng nghĩa với việc tăng giá trị biến Ti sẽ làm tăng xác suất Y nhận giá trị 1, tức là nâng cao khả năng chấp nhận ý kiến không đồng tình toàn phần trong các đánh giá Ngược lại, nếu Bi mang dấu âm, thì biến Ti sẽ giảm khả năng Y nhận giá trị bằng 1, ảnh hưởng tiêu cực đến xác suất này.

Chọn mẫu nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, mẫu khảo sát gồm các công ty niêm yết trên các sàn chứng khoán Việt Nam từ năm 2013 đến 2015, bao gồm các sàn HNX, HSX, Upcom và OTC Việc chọn các công ty niêm yết giúp dễ dàng thu thập dữ liệu do các doanh nghiệp này bắt buộc công khai đầy đủ thông tin tài chính trên trang web chứng khoán, hỗ trợ quá trình nghiên cứu của tác giả diễn ra thuận lợi và chính xác hơn.

Năm 2017, theo dữ liệu từ trang điện tử https://www.stockbiz.vn, tổng số công ty niêm yết tại thị trường chứng khoán Việt Nam là 1.028 doanh nghiệp Trong số này, có 888 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phi tài chính, chiếm phần lớn trong danh sách các công ty niêm yết.

Trong tổng số 888 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết, có 369 bị loại chủ yếu do thiếu thông tin trên website, chất lượng hình ảnh báo cáo tài chính kém hoặc công bố thông tin không liên tục trong ba năm Sau đó, còn 519 công ty đáp ứng đủ tiêu chuẩn dữ liệu cho nghiên cứu trong mỗi năm 2013, 2014, 2015, tổng cộng 1.557 mẫu quan sát, trong đó có 1.399 mẫu nhận ý kiến không chấp thuận toàn phần và 158 mẫu nhận ý kiến chấp thuận toàn phần Tiếp theo, tác giả chọn mẫu theo phương pháp phi ngẫu nhiên, thu được 140 công ty cho mỗi năm, tổng cộng 420 quan sát, trong đó 286 mẫu nhận ý kiến không chấp thuận toàn phần và 134 mẫu nhận ý kiến không chấp thuận toàn phần Cuối cùng, vẫn dựa trên phương pháp chọn mẫu thuận tiện, tác giả lựa chọn 268 mẫu tiếp tục phân chia đều thành 134 mẫu nhận ý kiến không chấp thuận toàn phần và 134 mẫu nhận ý kiến chấp thuận toàn phần để nghiên cứu chính thức.

Trong nghiên cứu của Tahachnick & Fidell (2007), kích thước mẫu phù hợp cho phân tích hồi quy là n > P + 8*m, với m là số biến độc lập Áp dụng công thức này cho 10 biến độc lập, mẫu tối thiểu cần có là 130, giúp đảm bảo tính đại diện và độ chính xác cho kết quả nghiên cứu.

Dựa trên các nghiên cứu trước đó, bài viết chọn 10 biến độc lập thuộc hai nhóm yếu tố là tỷ số tài chính và các yếu tố phi tài chính để phân tích tác động đến dự đoán kết quả không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần Mục đích của nghiên cứu là làm rõ quá trình thực hiện phân tích bằng phương pháp hồi quy Logistic và ý nghĩa của các kết quả đạt được Trong phần tiếp theo, tác giả sẽ mô tả chi tiết quy trình thu thập và xử lý dữ liệu, cuối cùng là trình bày kết quả nghiên cứu một cách rõ ràng và logic.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Ngày đăng: 26/02/2023, 19:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Nguyễn Xuân Tiến, 2015. Tài Chính – Tiền tệ ngân hàng. Nhà xuất bản Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài Chính – Tiền tệ ngân hàng
Tác giả: Nguyễn Xuân Tiến
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống Kê
Năm: 2015
13. Những vấn đề cơ bản của đầu tư – 8 th ed, Chương 14: Phân tích báo cáo tài chính - Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, niên khóa 2011 – 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của đầu tư – 8 th ed
Nhà XB: Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Năm: 2011 – 2013
14. Võ Văn Huy, Võ Thị Lan và Hoàng Trọng, 1997. Kiểm định phi tham số trong Ứng dụng SPSS for Windows để xử lý và phân tích dữ liệu nghiên cứu.Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, trang: 154-165.Danh mục tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm định phi tham số trong Ứng dụng SPSS for Windows để xử lý và phân tích dữ liệu nghiên cứu
Tác giả: Võ Văn Huy, Võ Thị Lan, Hoàng Trọng
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1997
2. Amir, E., Guan, Y. & Livne, G., 2009. The association between auditor independence and conservatism. Working Paper, City University of London, The University of Hong Kong and London Business School Sách, tạp chí
Tiêu đề: The association between auditor independence and conservatism
Tác giả: Amir, E., Guan, Y., Livne, G
Nhà XB: City University of London
Năm: 2009
3. Armitage P. Berry G. and Matthewa, 2005. Analysing non-normal data, In Statistical Methods in Medical Research 4 th Editon, Blackwell Publishing, pp 272-289 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Statistical Methods in Medical Research
Tác giả: Armitage P., Berry G., Matthewa
Nhà XB: Blackwell Publishing
Năm: 2005
4. Arnold, B. & Lange, P., 2004. “Enron: an examination of agency problems”. Cristical Perpective on Accounting, 15, pp.751-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cristical Perpective on Accounting
Tác giả: Arnold, B., Lange, P
Năm: 2004
8. Gibson, C.H., 2013. Financial Reporting & Analysis: Using Financial Accounting Information. 13th ed. South-Western Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial Reporting & Analysis: Using Financial Accounting Information
Tác giả: Gibson, C.H
Nhà XB: South-Western
Năm: 2013
14. Keasey, K., Watson, R., & Wynarczyk, P., 1988. The small company audit qualification: a preliminary investigation. Accounting and Business Research, 18(72), pp. 323-334 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The small company audit qualification: a preliminary investigation
Tác giả: Keasey, K., Watson, R., Wynarczyk, P
Nhà XB: Accounting and Business Research
Năm: 1988
20. Spathis C, 2003. Audit qualification, firm litigation, and financial information: an empirical analysis in Greece. International Journal of Auditing 7 (1). Pp. 71-85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Audit qualification, firm litigation, and financial information: an empirical analysis in Greece
Tác giả: Spathis C
Nhà XB: International Journal of Auditing
Năm: 2003
22. Stephen A. Ross, 1973. The Economic Theory of Agency: The Principal's Problem, pp. 431-453 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Economic Theory of Agency: The Principal's Problem
Tác giả: Stephen A. Ross
Năm: 1973
1. Ahmet ệzcan, 2016. Determining Factors Affecting Audit Opinion: Evidence from Turkey, International Journal of Accounting and Financial Reporting, Vol. 6, No. 2: 45-57 Khác
5. Atman E – I, 1968. Financial Ratios, Discriminant Analysis and the Predictation of Corporate Bankruptcy, Journal of Finance, Vol. 23, No. 4:580-609 Khác
6. Caramanis and Spathis Ch, 2006. Auditee and audit firm characteristics as determinations of audit qualifications Evidence from the Athens stock exchange. Managerial Auditing Journal, Vol. 21 No. 9: 905 – 920 Khác
7. Dopuch N, Holthausen R – W and Leftwwich R – W, 1987. Predicting audit qualifications with financial and market variables. The Accounting Review 62(3), pp. 431-453 Khác
9. Ireland, J., 2003. “An empirical investigation of determinants of audit reports in the UK”. Journal of Business Finance & Accounting, Vol. 30 Nos 7/8, pp.975-1015 Khác
10. Jacky C. So, 1998. Some Empirical Evidence On the Outliers and the Non- Normal Distribution of Financial Ratios, pp. 483-496 Khác
11. Jensen, M.C. & Meckling, W.H., 1976. “Theory of the Firm: Managerial Behaviour, Agency Costs and Capital Structure”. Journal of Financial Economics, 3, pp. 305-360 Khác
12. Kahneman, D. and A. Tversky, 1992. Advances in prospect theory: Cumulative representation of uncertainty. Journal of Risk and Uncertainty, 5, pp. 297-323 Khác
15. Laitinen, E. K., & Laitinen, T., 1998. Qualified audit reports in Finland: evidence from large companies. European Accounting Review, 7(4), pp. 639- 653 Khác
16. Lim, R., 2011. Are corporate governance attributes associated with accounting conservatism. Accounting & Finance, 51(4), pp. 1007-1030 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm