Nhưng ở góc độ khác, trong con mắt của những nhà kinh doanh những điểm yếu của công ti hợp danh so với các loại hình doanh nghiệp khác trở thành nguyên nhân làm cho họ có thể đưa công ti
Trang 1ThS Vò §Æng H¶i YÕn*
ể từ sau khi có Luật doanh nghiệp
năm 1999, khái niệm công ti hợp danh
đã bắt đầu đi vào đời sống kinh tế - xã hội
Việt Nam
Ở một góc độ nhất định, đối với các nhà
kinh doanh, sự ra đời của công ti hợp danh
được nhìn nhận như một bước tiến mới của
pháp luật về chủ thể kinh doanh tại Việt
Nam Thông qua việc tìm hiểu pháp luật và
việc cập nhật các thông tin, giới kinh doanh
hiểu rõ về bản chất của công ti hợp danh và
có thể đặt công ti hợp danh vào các khả
năng lựa chọn hình thức kinh doanh thích
hợp cho mình Nhưng ở góc độ khác, trong
con mắt của những nhà kinh doanh những
điểm yếu của công ti hợp danh so với các
loại hình doanh nghiệp khác trở thành
nguyên nhân làm cho họ có thể đưa công ti
hợp danh ra khỏi sự lựa chọn mô hình kinh
doanh của mình Một số điểm yếu có thể dễ
dàng nhận thấy như công ti hợp danh không
thể trở thành một bên của hợp đồng kinh tế
theo pháp luật về hợp đồng của Việt Nam;
khả năng huy động vốn của loại hình này
hạn chế bởi nó không có quyền phát hành
bất kì loại chứng khoán nào; tranh chấp liên
quan đến việc thành lập, tổ chức và hoạt
động của loại hình công ti này rất dễ xảy ra
do quy định của luật pháp liên quan đến nó
quá ít (toàn bộ Luật doanh nghiệp chỉ có 4
điều cho công ti hợp danh) và chưa dự liệu
được những loại tranh chấp này cũng như chưa đưa ra phương hướng để giải quyết chúng Một trong những đặc điểm chính làm cho các nhà đầu tư không lựa chọn hình thức công ti hợp danh chính là chế độ trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh
Từ trước tới nay, nhà đầu tư Việt Nam đã quen được hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn khi tham gia đầu tư vào hình thức công
ti còn nếu lựa chọn chế độ trách nhiệm vô hạn thì họ lại không phải chia sẻ quyền quản lí với ai trong trường hợp đầu tư thành lập doanh nghiệp tư nhân Với công ti hợp danh thì chỉ có hai cách lựa chọn: Một là chịu chế độ trách nhiệm vô hạn và chia sẻ quyền quản lí công ti với ít nhất là một người khác; hai là hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn nhưng lại không có quyền tham gia quản lí công ti Hai lựa chọn này đều không phải là những điều mà nhà đầu
tư mong đợi Đây chính là nguyên nhân làm cho doanh giới tỏ ra không bị hấp dẫn bởi
mô hình công ti hợp danh
Luật doanh nghiệp đã đem lại cho khu vực kinh tế tư nhân những bước phát triển mới Tuy nhiên, sự phát triển này không phải là đồng đều đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp nằm trong khu vực kinh tế
K
* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2này Điển hình là sự ra đời của các công ti
hợp danh còn quá chậm chạp, số lượng
công ti hợp danh vẫn chỉ dừng ở hai chữ số,
so với các con số hàng nghìn hay hàng chục
nghìn các doanh nghiệp khác trong cùng
khu vực kinh tế tư nhân trên phạm vi toàn
quốc Lí do của việc có quá ít các công ti
hợp danh được đăng kí kinh doanh trong
thời gian vừa qua là rất đa dạng Một trong
những lí do có thể nhận thấy rõ ràng nhất,
đó là pháp luật về kinh tế thực sự chưa đồng
bộ để tạo ra môi trường thông thoáng thực
sự cho các chủ đầu tư Thực tế các quy định
pháp luật liên quan đến doanh nghiệp hiện
nay còn có những điểm chưa thống nhất hay
nói như một số nhà nghiên cứu và bình luận
là “những quy định pháp luật hiện hành còn
đang mâu thuẫn về mục đích, dường như
chỗ thì cố gắng tháo ra, chỗ lại buộc thắt
nút lại” Trước tình hình này, số lượng các
doanh nghiệp quen thuộc của nền kinh tế
như công ti trách nhiệm hữu hạn, công ti cổ
phần hay doanh nghiệp tư nhân bị giảm sút
về mặt số lượng thì công ti hợp danh cũng
không tránh khỏi những ảnh hưởng nặng nề
Với số lượng ít ỏi của công ti hợp danh,
càng chứng tỏ nhận thức của xã hội nói
chung và của các nhà đầu tư nói riêng đối
với công ti hợp danh vẫn còn ở một giới
hạn mà tại giới hạn đó chưa đủ sức thúc đẩy
các nhà đầu tư lựa chọn mô hình công ti
hợp danh làm cơ sở kinh tế cho chính mình
Xét riêng về tác động của Luật doanh
nghiệp tới thực trạng của công ti hợp danh
có thể nhận thấy thực tế là nhận thức của xã
hội về công ti hợp danh còn chưa đầy đủ và
sâu sắc Hơn thế nữa, số lượng công ti hợp danh ra đời quá ít, tỉ lệ so với các hình thức doanh nghiệp khác là không đáng kể; một khi ra đời rồi, các công ti này lại vướng vào những khó khăn trong kinh doanh Nguyên nhân dẫn đến thực tế này có rất nhiều, tuy nhiên, sự thiếu đồng bộ và không đầy đủ của những quy định của pháp luật cũng góp phần không nhỏ tạo nên thực trạng đó Một
số giải pháp sau đây có thể góp phần hoàn thiện những quy định hiện tại của pháp luật liên quan đến loại hình công ti hợp danh với mục đích làm cho loại hình công ti này có thể phát huy được hết khả năng và chứng tỏ được vai trò quan trọng của nó đối với sự nghiệp phát triển kinh tế của Việt Nam trong tương lai gần
1 Sửa đổi các quy định pháp luật liên quan nhằm tạo điều kiện cho công ti hợp danh được tham gia một cách rộng rãi vào tất cả các hoạt động kinh doanh
Công ti hợp danh được Luật doanh nghiệp năm 1999 ghi nhận với tư cách là một chủ thể kinh doanh, đồng nghĩa với việc công ti hợp danh có quyền được tự do kinh doanh Tuy nhiên, xét trong phạm vi hẹp thì các văn bản pháp luật kinh tế hiện hành của Việt Nam tồn tại những quy định
bó hẹp quyền hoạt động kinh doanh này của công ti hợp danh Giống như doanh nghiệp
tư nhân, công ti hợp danh không được pháp luật quy định có tư cách pháp nhân - đây là hai loại hình doanh nghiệp duy nhất trong
số các doanh nghiệp không được pháp luật Việt Nam thừa nhận có tư cách pháp nhân Việc có hay không có tư cách pháp nhân là điều kiện hết sức quan trọng để xem xét
Trang 3công ti hợp danh được tham gia thực hiện
các hành vi kinh doanh một cách rộng rãi ở
mức độ nào Pháp lệnh hợp đồng kinh tế
của Việt Nam năm 1989 đã quy định về các
trường hợp chủ thể kinh doanh có thể giao
kết hợp đồng với nhau Theo đó, một hợp
đồng muốn được coi là hợp đồng kinh tế thì
trước hết một bên kí kết của hợp đồng phải
là pháp nhân Chưa hết, bên còn lại có thể
là pháp nhân, cá nhân có đăng kí kinh
doanh và trong một số trường hợp đặc biệt,
bên còn lại có thể là nghệ nhân, nhà nghiên
cứu khoa học kĩ thuật, hộ nông dân cá thể
hoặc các cá nhân, tổ chức nước ngoài Công
ti hợp danh không phải là pháp nhân; bản
thân nó cũng không phải là cá nhân có đăng
kí kinh doanh hay là bất cứ một đối tượng
nào được liệt kê trong các đối tượng mà
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định có thể
tham gia giao kết hợp đồng với nhau Như
vậy, nếu theo Pháp luật hợp đồng kinh tế thì
công ti hợp danh không có quyền thực hiện
một hành vi kinh doanh rất cơ bản và chủ
yếu là kí kết hợp đồng kinh tế trong khi vẫn
công nhận cho nó có tư cách của một chủ
thể kinh doanh độc lập Đứng trước tình
trạng này, cần phải có những sửa đổi, bổ
sung một số quy định cần thiết vào hệ thống
pháp luật kinh tế, nhất là bỏ yêu cầu một
bên của hợp đồng kinh tế luôn luôn phải là
pháp nhân, để các loại hình doanh nghiệp
không có tư cách pháp nhân như công ti
hợp danh vẫn được quyền tham gia rộng rãi
vào việc thực hiện các hành vi kinh doanh
Việc công ti hợp danh không có tư cách
pháp nhân còn dẫn đến vấn đề bất hợp lí
nữa liên quan đến tư cách thương nhân của
loại hình công ti này Luật thương mại Việt Nam năm 1997 quy định các chủ thể có thể trở thành thương nhân chỉ bao gồm: Pháp nhân, cá nhân, hộ gia đình và tổ hợp tác Theo quy định này thì không bao giờ công
ti hợp danh có thể trở thành thương nhân theo quy định của Luật thương mại Có chăng chỉ là các thành viên hợp danh, một khi đáp ứng đủ điều kiện của Luật thương mại về thương nhân thì còn có khả năng trở thành thương nhân Hành vi thương mại thực chất là một phần đặc thù của hành vi kinh doanh, quá trình hoạt động thương mại cũng nằm trong quá trình hoạt động kinh doanh, vì thế mà chủ thể của các hành vi kinh doanh cũng đồng thời phải được công nhận là chủ thể của các hành vi thương mại Một cách cụ thể hơn, nếu một đối tượng đã
có tư cách chủ thể kinh doanh thì đương nhiên có tư cách thương nhân Luật pháp của hầu hết các nước trên thế giới đều công nhận tư cách chủ thể kinh doanh bao gồm
cả tư cách thương nhân Nhưng với pháp luật Việt Nam hiện nay, công ti hợp danh chỉ có tư cách chủ thể kinh doanh mà không có tư cách thương nhân - nghĩa là chỉ được quyền thực hiện các hoạt động kinh doanh (hoạt động bao trùm) mà không được thực hiện các hoạt động thương mại (hoạt động chi tiết) Trên thực tế, các doanh nghiệp, kể cả không được công nhận
có tư cách thương nhân vẫn tiến hành các hoạt động thương mại một cách phổ biến Nhằm tạo điều kiện cho công ti hợp danh được chính danh trong khi thực hiện các hành vi thương mại, luật pháp cần mở rộng hơn nữa những đối tượng có thể trở thành
Trang 4thương nhân theo Luật thương mại
2 Phân chia rõ ràng hai loại công ti
hợp danh
Về cơ bản, công ti hợp danh chỉ được
ghi nhận trong định nghĩa tại Luật doanh
nghiệp nhưng định nghĩa này lại chia công
ti hợp danh ra làm hai loại: Loại thứ nhất
chỉ bao gồm các thành viên hợp danh; loại
thứ hai có thêm các thành viên góp vốn
Quy định như vậy sẽ dẫn đến một số khó
khăn nhất định khi xem xét các trường hợp
giải thể bắt buộc của công ti hợp danh Một
trong những trường hợp giải thể bắt buộc
cho doanh nghiệp nói chung là trong thời
hạn 6 tháng liên tiếp không có đủ số lượng
thành viên tối thiểu theo quy định của Luật
doanh nghiệp Đó là quy định chung cho tất
cả các loại hình doanh nghiệp hoạt động
theo Luật doanh nghiệp Quy định này áp
dụng cho các doanh nghiệp khác rất đơn
giản, chỉ cần dựa vào số lượng thành viên
tối thiểu mà Luật yêu cầu, chẳng hạn như
đối với công ti trách nhiệm hữu hạn nhiều
thành viên thì số lượng thành viên tối thiểu
phải có là 2 thành viên; công ti cổ phần là 3
thành viên Nhưng đối với trường hợp
công ti hợp danh thì lại có những khác biệt
Có một số ý kiến cho rằng công ti hợp danh
sẽ chỉ bị giải thể nếu không đủ số lượng
thành viên hợp danh tối thiểu (2 thành viên)
còn việc công ti có hay không có thành viên
góp vốn hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến
việc tiếp tục tồn tại của công ti Tuy nhiên,
hầu như tất cả các nước có quy định về loại
hình công ti hợp danh đều phân chia rõ ràng
2 loại công ti mang bản chất hợp danh là
công ti hợp danh thông thường và công ti hợp danh hữu hạn Hai loại công ti này về bản chất thì tương đối giống nhau nhưng vẫn có những đặc điểm pháp lí khác biệt, được điều chỉnh bằng những quy định không giống nhau, vì thế, ngay cả điều kiện giải thể, 2 loại hình công ti này cũng có những điểm khác nhau Thành viên góp vốn không có quyền quản lí công ti hợp danh nhưng cũng không thể phủ nhận được vai trò của họ đối với công ti hợp danh Một công ti hợp danh chỉ bao gồm các thành viên hợp danh chắc chắn sẽ rất khác với một công ti hợp danh có cả các thành viên góp vốn Vì vậy, việc không còn thành viên góp vốn trong một công ti hợp danh đang có loại thành viên này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại tiếp tục của công ti Công ti hợp danh là loại hình công ti đóng đặc thù, do đó bất kì biến động nào trong phạm vi thành viên hay cơ cấu vốn góp cũng để ngỏ khả năng phá vỡ nền tảng
cơ sở của công ti và buộc nó phải chuyển đổi loại hình Việc phân chia rõ ràng hai loại hợp danh này còn giúp cho việc chuyển đổi hình thức công ti trở nên dễ dàng hơn Trong trường hợp công ti hợp danh hữu hạn (có thành viên góp vốn) không đáp ứng điều kiện về số lượng thành viên có thể được chuyển đổi thành loại công ti hợp danh thông thường nếu nó vẫn có đủ 2 thành viên hợp danh Như vậy, thay vì phải giải thể, có thể quy định thêm một số trường hợp chuyển đổi công ti hợp danh từ loại hữu hạn sang loại thông thường và ngược lại (nếu có thay đổi nhân sự trong quá trình hoạt động)
Trang 53 Quy định rõ một số vấn đề liên
quan đến quyền và nghĩa vụ của thành
viên góp vốn
Khi quy định về thành viên góp vốn,
Luật doanh nghiệp cũng quy định những
giới hạn quyền của họ nhưng chưa có chế
tài xử lí và chưa dự liệu đầy đủ những
trường hợp vi phạm như trong luật về công
ti hợp danh của những nước khác trên thế
giới Luật mới chỉ dừng lại ở chỗ không cho
phép thành viên góp vốn được tham gia
quản lí công ti và nhân danh công ti khi
giao dịch với bên thứ ba Quy định sơ sài
như vậy có thể dẫn đến tình hình là một
trong các thành viên góp vốn vượt quá thẩm
quyền của mình trong công ti hợp danh
Vấn đề này sẽ xử lí như thế nào? Theo các
quy định liên quan của pháp luật hiện hành,
một hành vi kiểu như vậy sẽ bị coi là không
có hiệu lực (vì người thực hiện nó không có
thẩm quyền để thực hiện) Nếu xét về quyền
lợi của công ti hợp danh thì rõ ràng, trong
trường hợp này, công ti hợp danh sẽ không
bị bất cứ một ảnh hưởng nào Nhưng nếu
xét về quyền lợi của người thứ ba giao dịch
thì những người này sẽ phải chịu những hậu
quả pháp lí bất lợi từ hành vi vô hiệu gây ra
Với pháp luật Việt Nam, một quan hệ vô
hiệu sẽ được xử lí theo đường hướng chung
mà không cần suy xét xem ai trong số các
bên thiết lập quan hệ đó là bên có lỗi dẫn
đến sự vô hiệu của giao dịch Chẳng hạn
như một quan hệ hợp đồng kinh tế bị coi là
vô hiệu do một thành viên góp vốn của
công ti hợp danh không có đủ thẩm quyền
thiết lập với một bên thứ ba thì quan hệ này
sẽ được xử lí theo một cách thức chung là
các bên trả cho nhau những gì đã nhận, thiệt hại phát sinh các bên tự chịu, bất luận là bên nào có lỗi, bên nào ngay tình Để bảo
vệ công chúng giao dịch trong trường hợp các thành viên góp vốn lạm quyền, gây cho bên thứ ba lầm tưởng mình là thành viên hợp danh của công ti hợp danh mà tin tưởng
kí kết hợp đồng, pháp luật cần quy định cụ thể các chế tài đối với những thành viên góp vốn Kinh nghiệm một số nước cho thấy nếu rơi vào trường hợp này, hầu hết các nước đều bắt buộc thành viên góp vốn gây
ra vụ việc sẽ phải chịu trách nhiệm vô hạn - thay vào chế độ trách nhiệm hữu hạn vốn có
- trước mọi khoản nợ, mọi rủi ro phát sinh
từ thương vụ đó
Một vấn đề nữa liên quan đến thành viên góp vốn, đó là việc chuyển nhượng vốn góp đối với thành viên góp vốn Nghị định của Chính phủ số 03/NĐ-CP ngày 3/2/2000 có quy định thành viên góp vốn được tự do chuyển nhượng vốn cho người khác trừ trường hợp điều lệ công ti quy định khác Như vậy, việc chuyển nhượng vốn của thành viên góp vốn cũng hoàn toàn phụ thuộc vào các thành viên hợp danh Nếu như các thành viên hợp danh cùng nhau thoả thuận những điều kiện vô cùng khắt khe trong Điều lệ nhằm hạn chế sự chuyển nhượng vốn của thành viên góp vốn thì thành viên góp vốn cũng không có một chỗ dựa pháp lí nào để tự bảo vệ quyền lợi của mình Thành viên góp vốn phụ thuộc hoàn toàn vào thành viên hợp danh Điều này là bất hợp lí, bởi vì nếu xét về bản chất thì các thành viên hợp danh mới là yếu tố quyết định của công ti hợp danh, mới cần có sự hiện diện của yếu tố nhân thân còn
Trang 6các thành viên góp vốn chẳng qua chỉ hiện
diện thông qua phần vốn góp của mình, các
thành viên này không có quyền quản lí công
ti, nhân thân của họ không phải là yếu tố
quan trọng Chính vì thế mà việc chuyển
nhượng phần vốn góp của thành viên góp
vốn cho người khác thực chất là thay tên đổi
chủ cho phần vốn đó còn bản thân phần vốn
vẫn nằm trong công ti và phục vụ những mục
tiêu của công ti Luật doanh nghiệp quy định
theo hướng bắt buộc các thành viên góp vốn
phụ thuộc quá nhiều vào điều lệ (nghĩa là phụ
thuộc vào các thành viên hợp danh) trong
trường hợp này là bất hợp lí Nên chăng, pháp
luật đưa ra những điều kiện cụ thể hơn để các
thành viên hợp danh, ở một mức độ nào đó
không thể hạn chế việc chuyển nhượng vốn
của các thành viên góp vốn
4 Bổ sung thêm một số quy định liên
quan đến vấn đề thừa kế phần vốn của
thành viên đã chết hoặc mất tích
Sự hình thành công ti hợp danh chủ yếu
dựa trên quan hệ đã có giữa các thành viên
Đây chính là đặc trưng cơ bản phân biệt nó
với các loại công ti khác - các loại công ti
hoàn toàn không còn tính chất đối nhân mà
chỉ có đối vốn Cũng chính đặc trưng đó
tạo nên cơ chế khép kín của loại công ti
này Việc thu nhận thành viên phải dựa trên
sự quen biết và được tất cả các thành viên
khác tán thành Ở Luật doanh nghiệp và các
văn bản hướng dẫn thi hành, xét trên tinh
thần chung của các quy định, có lẽ các nhà
làm luật quá chú trọng đến điểm này, vì thế
coi việc góp vốn, sở hữu vốn góp với việc
trở thành thành viên công ti hoàn toàn khác
nhau Điều 31 Nghị định số 03/2000/NĐ-CP
ngày 3/2/2000 của Chính phủ quy định tư cách thành viên của công ti hợp danh sẽ chấm dứt khi thành viên đó chết hoặc bị toà
án tuyên bố là đã chết hoặc bị mất tích nhưng lại không quy định là phần vốn của thành viên trong những trường hợp này có thể để thừa kế hay không Về nguyên tắc, nếu phần vốn đó không phải mang ra để chịu trách nhiệm tương ứng đối với các nghĩa vụ của công ti thì người thừa kế của thành viên đó vẫn có quyền thừa kế Tuy nhiên, để trở thành thành viên công ti hợp danh, những người tiếp nhận phần vốn góp lại phải được các thành viên hợp danh chấp nhận, nếu không, họ sẽ buộc phải bán lại phần vốn góp của mình cho công ti hoặc cho người khác Luật sẽ giải quyết như thế nào trong trường hợp người đó không bán được phần vốn của mình (công ti không có khả năng mua và những người khác cũng không muốn mua)? Họ có thể được coi là chủ nợ của công ti hay bắt buộc phải tìm người mua khác? Rõ ràng quy định này đã
cố gắng tạo những thuận lợi cho thành viên công ti hợp danh nhưng lại gây khó khăn cho họ khi chuyển nhượng vốn Vì vậy, cần đặt vấn đề chuyển nhượng vốn trong mối quan hệ với các chế định khác như về quy chế thành viên, cơ cấu tổ chức đồng thời cần có quy định bổ sung cách thức giải quyết các tranh chấp kiểu như vậy Có thể đặt ra một số điều kiện nhất định, theo đó công ti hợp danh buộc phải thu nhận thành viên mới hoặc xây dựng thủ tục thoả thuận bắt buộc, buộc các đương sự phải đi đến thoả hiệp Có như vậy quyền lợi của các bên liên quan mới
có thể được đảm bảo đầy đủ./