Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chưa có tham vọng nghiên cứu một cách toàn diện vấn đề tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá pháp luật mà chỉ đề cập nội dung cơ bản nhất đó là tư tưởng g
Trang 1
TS Lª Thanh ThËp *
ăm 1990, UNESCO - Tổ chức văn hoá -
giáo dục của Liên hiệp quốc - công
nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là danh nhân văn
hoá thế giới Đúng như dự báo của nhà thơ
Nga Oxip Manđenxtam năm 1923, khi tiếp
xúc với Người (lúc bấy giờ lấy tên là Nguyễn
Ái Quốc): “Cả diện mạo Nguyễn Ái Quốc
toát lên sự tế nhị và lịch thiệp vốn có Người
là sự thể hiện một nền văn hoá, không phải
văn hoá châu Âu, mà có lẽ là văn hoá của
tương lai”.(1)
“Văn hoá tương lai” - nền văn hoá Hồ
Chí Minh là sự kết tinh truyền thống văn hoá
hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam đồng
thời, cũng là nơi hội tụ và kết tinh của các nền
văn hoá trên thế giới
Nghiên cứu Hồ Chí Minh dưới giác độ là
nhà văn hoá đã có nhiều tác giả, nhiều đề tài
khoa học đề cập nhưng nghiên cứu tư tưởng
Hồ Chí Minh về văn hoá pháp luật, có lẽ còn
ít được bàn đến Trong phạm vi bài viết này,
chúng tôi chưa có tham vọng nghiên cứu một
cách toàn diện vấn đề tư tưởng Hồ Chí Minh
về văn hoá pháp luật mà chỉ đề cập nội dung
cơ bản nhất đó là tư tưởng giải phóng dân tộc,
giải phóng giai cấp, giải phóng con người
Văn hoá pháp luật là những giá trị nhân
đạo, tiến bộ, tích cực của hệ thống pháp luật
thể hiện trong các bộ luật, đạo luật mà các giá
trị của chúng được thẩm thấu vào nhận thức
và hành động của mỗi cá nhân, biến thành nhu cầu thường trực trong ứng xử của họ, cùng các thiết chế xã hội nhằm bảo đảm thực hiện các giá trị ấy
Trong thời đại ngày nay, với cách hiểu trên đây, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá pháp luật là các giá trị pháp luật của giai cấp công nhân Tư tưởng đó đã được Hồ Chí Minh nêu ra và chỉ đạo xây dựng, thực hiện ở nước ta trong suốt cuộc đời hoạt động của Người Bản chất của nền pháp luật thể hiện giá trị văn hoá đã được Người khẳng định ngay từ năm 1950 tại Hội nghị học tập của cán bộ ngành tư pháp:
“Luật pháp của chúng ta hiện nay là ý chí của giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng;
Luật pháp của ta hiện nay bảo vệ quyền lợi cho hàng triệu người lao động…
Luật pháp của ta là luật pháp thực sự dân chủ vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động”.(2)
Tư tưởng pháp luật tiến bộ của Chủ tịch
Hồ Chí Minh được hình thành và phát triển không ngừng, kể từ khi Người gửi bản Yêu sách 8 điểm cho Hội nghị hoà bình ở Véc Xây năm 1919, rồi đến “Bản án chế độ thực dân Pháp” (xuất bản lần đầu tiên bằng tiếng
N
* Giảng viên chính Khoa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2Pháp tại Paris năm 1925) mang tư tưởng yêu
nước, đến khi trở thành chiến sĩ cộng sản
Bằng sự phát triển của mình, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã nâng những tư tưởng pháp luật lên
một tầm cao mới Đó là tư tưởng pháp luật
tiến bộ, cách mạng của giai cấp công nhân
Đến thời điểm đó, Người đã gắn tư tưởng giải
phóng dân tộc với giải phóng giai cấp công
nhân và giải phóng con người
Qua một số tác phẩm phản ánh cuộc đời
hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ
điều đó Trong bản “Yêu sách của nhân dân
An Nam”, dưới tên là Nguyễn Ái Quốc, đã
nêu một đòi hỏi cấp bách về quyền dân tộc
của nhân dân Việt Nam và quyền tự do của
người Việt Nam Người nói: “Quyền thiêng
liêng của các dân tộc được thừa nhận, theo
những lời cam kết chính thức và trịnh trọng
mà các cường quốc đồng minh đã công bố
với toàn thế giới trong cuộc đấu tranh của
văn minh chống dã man”.(3)
Chế độ phong kiến và thực dân Pháp
thống trị nước ta bằng hệ thống sắc lệnh, bắt
nhân dân ta phục tùng pháp luật độc đoán do
nhà nước quân chủ và bảo hộ ban hành
Trước tình hình ấy, tư tưởng về quyền dân tộc
cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh xác lập nền
tảng các mục tiêu và phương hướng đấu tranh
của nhân dân ta nhằm giành lại và bảo đảm
các giá trị pháp luật đã được quốc tế thừa
nhận Khẳng định quyền bình đẳng dân tộc,
quyền tự quyết dân tộc, quyền độc lập dân tộc
trên cơ sở công pháp quốc tế là nội dung quan
trọng nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh về
văn hoá pháp luật lúc bấy giờ Chính tư tưởng
này đã khẳng định với nhân dân thế giới rằng
quyền đấu tranh giành độc lập, tự do, thống
nhất toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân Việt Nam là chính nghĩa và phù hợp với công pháp quốc tế
Cùng với việc đấu tranh đòi thừa nhận thực sự quyền tự quyết thiêng liêng của các dân tộc, Người nêu yêu sách 8 điểm về các quyền của con người Việt Nam Để bảo đảm
các quyền đó, cần phải: “Cải cách nền công lí
ở Đông Dương bằng cách ban cho người bản
xứ cũng được quyền hưởng những bảo đảm
về mặt pháp luật như người Âu châu; xoá
bỏ hoàn toàn và triệt để các toà án dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam”,(4)
phải bảo đảm các quyền tự do cơ bản của
con người như: "Quyền tự do báo chí và tự
do ngôn luận; quyền tự do lập hội và hội họp; quyền tự do xuất ngoại và đi du lịch nước ngoài; quyền tự do giáo dục”, phải:
“thay thế chế độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật”.(5)
Cũng như những tư tưởng tiến bộ trong
“Bản yêu sách gửi Hội vạn quốc” - Nguyễn
Ái Quốc nêu yêu sách về: “Quyền độc lập
hoàn toàn tức khắc của dân tộc Việt Nam; nếu quyền đó được thực hiện thì nước Việt Nam sẽ sắp đặt một nền hiến pháp về phương diện chính trị và xã hội, theo những lí tưởng dân quyền”.(6)
Như vậy, trong “yêu sách của nhân dân
An Nam” (tháng 6/1919), trong “Bản yêu sách gửi hội vạn quốc” (1926), Hồ Chí Minh
đã gắn vấn đề “độc lập dân tộc” với vấn đề
“quyền tự do của con người” Vấn đề giải phóng dân tộc và giải phóng con người - những giá trị tiến bộ, được Hồ Chí Minh nêu lên như những vấn đề mang
Trang 3tính pháp lí quốc tế, đó là những giá trị mang
tính nhân loại Sử dụng những giá trị mà kẻ
thù không thể phủ nhận để đấu tranh chống
lại kẻ thù, tư tưởng đó đã đạt tới những đòi
hỏi cao nhất về mặt chính trị - pháp lí của
người dân một nước thuộc địa lúc bấy giờ
Trong xu thế phát triển của thời đại, các
thế lực đế quốc buộc phải thừa nhận quyền
dân tộc tự quyết và các quyền cơ bản của con
người nhưng chúng cũng sẽ không bao giờ
thực hiện đối với người dân các nước thuộc
địa Nêu những vấn đề biết chắc kẻ thù sẽ
không bao giờ thực hiện (nhưng chúng cũng
không thể phủ nhận) để đấu tranh, chứng tỏ
nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc rất nhạy cảm
với những vấn đề luật pháp quốc tế Nêu
những tư tưởng đó lên, Người mong tìm được
tiếng nói chung, tranh thủ được sự ủng hộ của
lực lượng tiến bộ và lương tri trên thế giới lúc
bấy giờ Đối với trong nước, tư tưởng đó thức
tỉnh ý thức đấu tranh của nhân dân Việt Nam
Sự nhạy cảm đặc biệt với những vấn đề
mang tính chất pháp lí quốc tế (như quyền
dân tộc tự quyết, các quyền tự do cơ bản của
con người), chỉ có thể thường trực trong tâm
trí của một con người khi mà chủ nghĩa yêu
nước và chủ nghĩa nhân văn hoà quện một
cách nhuần nhuyễn Đó là phẩm chất của một
nhà văn hoá lớn
Tư tưởng pháp luật tiến bộ của nhà yêu
nước Nguyễn Ái Quốc ngày càng được củng
cố và phát triển, biểu hiện tập trung trong
Tuyên ngôn Độc lập mà Người đọc ngày
2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình lịch sử
Tuyên ngôn Độc lập, ngày 2/9/1945 là
một văn kiện có giá trị pháp lí mang tính thời
đại Trong đó, tư tưởng về quyền dân tộc tự
quyết và các quyền cơ bản của con người là những nội dung chủ đạo và là kim chỉ nam cho việc xây dựng chính quyền cũng như nền pháp luật cách mạng Việt Nam
Mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh trích dẫn lời bất hủ trong
“Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm
1776”: "Tất cả mọi người đều sinh ra có
quyền bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền
tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”
Từ những quyền cơ bản của con người
mà các nước đế quốc phải thừa nhận, Người
khẳng định: “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là:
tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”
Người tiếp tục viện dẫn bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng
Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra tự do và
bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn
được tự do và bình đẳng về quyền lợi” Về mặt pháp lí quốc tế, “đó là những lẽ phải không ai có thể chối cãi được”
Từ vấn đề quyền con người nói chung đến quyền sống của một cộng đồng người là
sự phát triển tư tưởng một cách liên tục, hợp logic, vấn đề giải phóng con người phải gắn liền với vấn đề giải phóng dân tộc Một dân tộc bị thống trị thì quyền con người ở dân tộc đó cũng không được bảo đảm Cuối bản Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chủ tịch khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự
do và độc lập và thực sự đã thành một nước
tự do độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng,
Trang 4tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự
do độc lập ấy”
Đối với nhân dân Việt Nam, quyền sống
trong độc lập, tự do, bình đẳng đã được
khẳng định
Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 là sự
phát triển tư tưởng chính trị - pháp lí của Chủ
tịch Hồ Chí Minh từ bản “Yêu sách của nhân
dân An Nam”, “Bản yêu sách gửi hội vạn
quốc”… Đó là tư tưởng chính trị - pháp lí dân
tộc, dân chủ Tư tưởng này còn được tiếp tục
củng cố và phát triển trong Hiến pháp năm
1946, Hiến pháp năm 1959
Là nhà yêu nước tìm đường giải phóng
dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến với
chủ nghĩa Mác - Lênin Cuộc cách mạng giải
phóng dân tộc do Người lãnh đạo đã được
gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng giai
cấp công nhân, giải phóng con người khỏi
mọi áp bức, bóc lột và thực hiện các quyền tự
do cơ bản của con người
Đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ
nghĩa cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gắn
được quyền lợi của dân tộc với quyền lợi của
giai cấp công nhân trong mối quan hệ mật
thiết giữa cách mạng giải phóng dân tộc vì
độc lập, tự do của Tổ quốc với cách mạng xã
hội chủ nghĩa giải phóng giai cấp công nhân
và toàn thể nhân dân lao động
Thấm nhuần tư tưởng của chủ nghĩa
Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc
nhở: Nhà nước cách mạng phải bảo đảm
quyền làm chủ của nhân dân và mục tiêu duy
nhất của Nhà nước cách mạng là phục vụ dân
tộc Nhà nước cách mạng muốn thực hiện
được mục tiêu của mình phải dùng pháp luật
để xây dựng và không ngừng củng cố Nhà
nước, tiến hành công việc quản lí Nhà nước Nội dung và sức mạnh của pháp luật là phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động mà nòng cốt là liên minh giữa giai cấp công nhân
và giai cấp nông dân
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, đất nước giành lại được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú ý ngay tới việc bầu cử Quốc hội và xây dựng Hiến pháp Người coi đó là vấn đề cấp bách, là điều kiện bảo đảm cho nhân dân được hưởng quyền tự
do, dân chủ Người nói: “Phải bầu ngay
Quốc hội càng sớm càng tốt Bên trong thì nhân dân tin tưởng vào chế độ của mình, trước thế giới, Quốc hội do nhân dân bầu ra
có một giá trị pháp lí không ai có thể phủ nhận được”.(7) Người trực tiếp chỉ đạo Chính phủ xây dựng Hiến pháp và pháp luật ở nước
ta - một nền pháp luật tiến bộ, cách mạng, vì lợi ích của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam
Để củng cố nền độc lập dân tộc và quyền
tự do, dân chủ trong hoàn cảnh nhân dân đã
có chính quyền của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên liệu rằng nguy cơ đánh mất độc lập, tự do lại có thể xảy ra do chúng ta không xác lập được một trật tự pháp lí mới, xâm phạm quyền hưởng tự do, hạnh phúc của
nhân dân, Người nói rằng: “Nước độc lập mà
dân không được hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lí gì”.(8)
Sau Cách mạng tháng Tám đất nước lâm vào hoàn cảnh thù trong, giặc ngoài Ngoài nguy cơ giặc ngoại xâm, giặc đói, giặc dốt còn một nguy cơ nội xâm trong hàng ngũ
cách mạng: “Có nhiều người phạm những lỗi
lầm rất nặng nề: trái phép Cũng có lúc vì tư
Trang 5thù mà bắt bớ và tịch thu gia sản làm cho
nhân dân oán thán Cậy thế Cậy mình trong
ban này, ban nọ rồi ngang tàng phóng túng,
muốn sao làm vậy, coi khinh dư luận, không
nghĩ gì đến dân, quên rằng dân bầu mình ra
để làm việc cho dân chứ không phải để cậy
thế với dân Hủ hoá, ăn muốn cho ngon, mặc
muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ, càng
ngày càng lãng phí, thử hỏi tiền bạc ở đâu mà
ra? Thậm chí lấy của công làm việc tư, quên
cả thanh liêm, đạo đức”.(9) Trong tình hình
đất nước như vậy, sau khi xoá bỏ chế độ thực
dân và phong kiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh
tham gia ngay vào việc xây dựng bản dự thảo
Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam mới
Trong Hiến pháp này, ngoài việc xác lập
quyền bình đẳng dân tộc, giai cấp, giới tính
trong xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh mong
muốn bước đầu xây dựng quan hệ văn hoá
dân chủ mới, ở đó kết hợp được bốn yếu tố cơ
bản: 1) Dân chủ đại diện; 2) Dân chủ trực
tiếp; 3) Quyền con người; 4) Quyền công dân
Các chế định của Hiến pháp sẽ là công cụ
quản lí đất nước, trước hết là đối với những
người thừa hành pháp luật
Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá pháp
luật trong giai đoạn đầu tiên của cuộc cách
mạng giải phóng dân tộc đã chứa đựng yếu tố
cơ bản của việc cấu trúc lại nền văn hoá cổ
truyền - đó là kết hợp giữa yếu tố khoa học và
yếu tố dân tộc Tính khoa học trong tư tưởng
văn hoá pháp luật Hồ Chí Minh bắt nguồn từ
việc tiếp thu các thành quả quản lí đất nước
của nhiều nền văn minh tiên tiến trên thế giới
Tính dân tộc trong tư tưởng văn hoá pháp luật
của Người lại bắt nguồn từ truyền thống yêu
nước, lòng nhân ái, vị tha lâu đời của nhân dân
ta Tư tưởng văn hoá pháp luật Hồ Chí Minh là
cơ sở cho nhiều quan hệ lao động, giao tiếp, ứng xử thấu lí, đạt tình của xã hội ta
Lần đầu tiên trong lịch sử văn hoá dân tộc, Hồ Chí Minh đã đề cập mạnh mẽ đến việc bình đẳng giới tính, bình đẳng cả về quyền và nghĩa vụ Tư tưởng coi phụ nữ là nửa xã hội, chưa giải phóng được phụ nữ là chưa giải phóng cả xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa văn hoá pháp lí rất sâu rộng Tư tưởng này không chỉ khắc phục được sự coi thường nữ giới mà nó còn đóng góp to lớn vào việc giải phóng con người, giải phóng năng lực sáng tạo của xã hội
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hoá pháp luật là văn hoá nhân đạo Hiểu biết pháp luật, làm theo pháp luật, góp phần làm cho cái tốt trong mỗi con người phát triển, ngăn chặn cái ác khi nó nảy sinh, đó chính là hướng xây dựng văn hoá pháp luật mới mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xướng Cái cốt lõi trong tư tưởng văn hoá pháp luật Hồ Chí Minh là giải phóng con người khỏi mọi sự
áp bức, bóc lột, tạo ra một xã hội bình yên, nhân dân được sống tự do, hạnh phúc, bình quyền và bình đẳng./
(1), (3), (4), (5).Xem: Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, tr.435, 436, 478
(2).Xem: "Nhà nước và Cách mạng", Nxb Pháp lí,
1985, tr.185-188
(6) Theo tài liệu của Viện bảo tàng cách mạng Việt Nam - kí hiệu: H I G/S 0 1
(7).Xem: Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, tr.8
(8) Như trên đã dẫn: tr.56
(9) Như trên đã dẫn: tr 57