1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Những nội dung cơ bản của luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật " ppt

5 609 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 132,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật Theo Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật Luật sửa đổi, bổ sung, văn bản quy phạm pháp

Trang 1

Đoàn Thị Tố Uyên * uật ban hành văn bản quy phạm pháp luật

đ được Quốc hội nước Cộng hoà x hội

chủ nghĩa Việt Nam khoá IX kì họp thứ 10

thông qua ngày 12/11/1996 là văn bản có hiệu

lực cao lần đầu tiên được ban hành quy định về

thẩm quyền, thủ tục và trình tự ban hành văn

bản quy phạm pháp luật đ trực tiếp xác lập trật

tự, kỉ cương trong chính hoạt động lập pháp, lập

quy, bước đầu đưa công tác xây dựng văn bản

quy phạm pháp luật đi vào nền nếp Mặc dù

vậy, qua 6 năm thực hiện các quy định của Luật

đ bộc lộ những hạn chế cần được khắc phục

kịp thời nhất là các quy định liên quan đến quy

trình xây dựng, thông qua dự án, dự thảo văn

bản quy phạm pháp luật Xuất phát từ đòi hỏi

đó, ngày 16/12/2002, tại kì họp thứ hai Quốc

hội khoá XI đ thông qua Luật số

02/2002/QH11 về sửa đổi, bổ sung một số điều

của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Chúng tôi xin đề cập một số nội dung chủ

yếu được sửa đổi, bổ sung như sau:

1 Về thẩm quyền ban hành văn bản quy

phạm pháp luật

Theo Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số

điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp

luật (Luật sửa đổi, bổ sung), văn bản quy phạm

pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có

thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật

định, trong đó có quy tắc xử sự chung, được

Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh

các quan hệ x hội theo định hướng x hội chủ

nghĩa So sánh với định nghĩa về văn bản quy

phạm pháp luật tại Điều 1 của Luật ban hành

văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 ta thấy

về cơ bản không có sự khác nhau, Luật mới chỉ

bỏ đi từ "các" trong cụm từ "trong đó có các quy tắc xử sự chung…" thành "trong đó có quy tắc xử sự chung…" Với quy định này văn bản quy phạm pháp luật được ban hành bởi rất nhiều chủ thể có thẩm quyền đó là: Quốc hội,

Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, chánh án Toà án nhân dân tối cao, viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân các cấp và các chủ thể liên kết với nhau để ban hành nghị quyết, thông tư liên tịch

Như vậy, Luật đ bổ sung thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho chánh án Toà án nhân dân tối cao Theo đó chánh án Toà

án nhân dân tối cao có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật với tên gọi quyết định, chỉ thị, thông tư Đây là điểm mới mà trước đây trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 không quy định

Cùng với việc trao quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho chánh án Toà án nhân dân tối cao, Luật sửa đổi, bổ sung đ bỏ đi thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ

2 Về quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Với mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động

L

* Giảng viên khoa hành chính - nhà nước Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

ban hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm

tiến độ và chất lượng của các dự án, dự thảo,

Luật sửa đổi, bổ sung Luật ban hành văn bản

quy phạm pháp luật đ tập trung vào việc đổi

mới quy trình lập pháp, lập quy, đặc biệt là quy

trình lập pháp với những nội dung cơ bản sau:

+ Về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

Tại Điều 22 của Luật ban hành văn bản quy

phạm pháp luật năm 1996 quy định cơ quan, tổ

chức, đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án

luật gửi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh đến

Uỷ ban thường vụ Quốc hội đồng thời gửi đến

Chính phủ, trong đó phải nêu rõ sự cần thiết

ban hành văn bản, xác định đối tượng và phạm

vi điều chỉnh của văn bản, các điều kiện cần

thiết cho việc soạn thảo văn bản

Để đảm bảo tính khả thi của Chương trình

xây dựng luật, pháp lệnh, Luật mới đ sửa đổi,

bổ sung Luật ban hành văn bản quy phạm pháp

luật năm 1996 như sau:

“… Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh phải

nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản; đối

tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản; những

quan điểm, nội dung chính của văn bản; dự báo

tác động kinh tế - x6 hội; dự kiến nguồn lực bảo

đảm thi hành và điều kiện bảo đảm cho việc

soạn thảo văn bản…"

Ngoài việc bảo đảm tính khả thi của

Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, quy

định sửa đổi, bổ sung Điều 22 nêu trên còn tăng

cường trách nhiệm của các chủ thể có quyền

gửi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh

+ Về thành lập Ban soạn thảo văn bản quy

phạm pháp luật

Theo quy định tại Điều 25 Luật ban hành

văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 thì "Cơ

quan, tổ chức trình dự án luật, dự án pháp lệnh

thành lập ban soạn thảo…" Quy định đó đ

được bổ sung thêm dự thảo nghị quyết của

Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội, cụ thể

là: "Cơ quan, tổ chức trình dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thành lập ban soạn thảo"

Đối với dự thảo nghị quyết, nghị định, Chính phủ quyết định cơ quan chủ trì soạn thảo sau đó cơ quan chủ trì soạn thảo thành lập ban soạn thảo

Đồng thời Luật sửa đổi, bổ sung đ quy

định rõ về thành viên của Ban soạn thảo gồm:

“Trưởng ban là người đứng đầu cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo và các thành viên là đại diện các cơ quan, tổ chức hữu quan, các chuyên gia, các nhà khoa học”

Đối với dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ thì thành viên ban soạn thảo còn có

đại diện cơ quan thẩm định

Ban soạn thảo phải thực hiện rất nhiều nhiệm vụ khi tiến hành soạn thảo dự án, dự thảo trong đó có hoạt động tổ chức lấy ý kiến

đóng góp Theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung, Ban soạn thảo không chỉ tổ chức lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan mà còn phải lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản trong phạm vi và với hình thức thích hợp tuỳ theo tính chất và nội dung của từng dự án, dự thảo Với quy định bổ sung này, nội dung của văn bản quy phạm pháp luật sau khi ban hành sẽ có khả năng thực thi một cách có hiệu quả

+ Về trách nhiệm thẩm tra, thẩm định dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết

Về trách nhiệm thẩm tra: Theo quy định của Luật tổ chức Quốc hội, Uỷ ban pháp luật của Quốc hội có trách nhiệm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật đối với dự án luật, pháp lệnh trước khi trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội Do vậy, để đảm bảo sự phù hợp với quy định của

Trang 3

Luật tổ chức Quốc hội, Luật sửa đổi, bổ sung

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật đ

bổ sung Điều 34a như sau:

"Uỷ ban pháp luật của Quốc hội có trách

nhiệm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính

thống nhất của hệ thống pháp luật đối với các

dự án luật, pháp lệnh trước khi trình Quốc hội,

Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua

bằng các hoạt động sau đây:

1 Tham gia thẩm tra các dự án luật, pháp

lệnh do Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban khác

của Quốc hội chủ trì thẩm tra

Trong trường hợp có ý kiến khác với cơ

quan chủ trì thẩm tra về tính hợp hiến, hợp

pháp và tính thống nhất của dự án luật, pháp

lệnh trong hệ thống pháp luật thì Uỷ ban pháp

luật báo cáo với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ

Quốc hội về ý kiến của mình;

2 Tham gia chỉnh lí dự án luật, pháp lệnh"

Trách nhiệm thẩm định của Bộ tư pháp

được quy định rõ hơn về đối tượng thẩm định là

dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự

án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Uỷ ban

thường vụ Quốc hội, dự thảo văn bản quy phạm

pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;

về thành lập hội đồng thẩm định; về phạm vi

thẩm định… trong Điều 29a, bổ sung sau Điều 29

của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật

năm 1996

Theo quy định của Điều 29a, hội đồng

thẩm định do bộ trưởng Bộ tư pháp thành lập để

thẩm định các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo

nghị quyết do Bộ tư pháp chủ trì soạn thảo

Cơ quan thẩm định tiến hành thẩm định

những vấn đề sau:

- Sự cần thiết ban hành văn bản, đối tượng,

phạm vi điều chỉnh của dư án, dự thảo;

- Sự phù hợp của nội dung dự án, dự thảo

với đường lối, chủ trương, chính sách của

Đảng; tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống

nhất của văn bản với hệ thống pháp luật;

- Tính khả thi của văn bản;

- Việc tuân thủ thủ tục và trình tự soạn thảo;

- Ngôn ngữ, kĩ thuật soạn thảo văn bản Như vậy, so sánh với Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996, Luật sửa

đổi, bổ sung đ đưa thêm yếu tố ngôn ngữ và kĩ thuật soạn thảo văn bản là một trong những vấn

đề mà cơ quan thẩm định phải tiến hành thẩm

định Quy định này là cơ sở pháp lí tạo điều kiện đảm bảo nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật

+ Về vấn đề tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Với mục đích bảo đảm tính công khai, dân chủ trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ngay từ giai đoạn soạn thảo đồng thời

đảm bảo tính khả thi, hiệu quả của văn bản, Luật quy định trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật , cơ quan, tổ chức hữu quan căn cứ tính chất, nội dung dự án, dự thảo tạo

điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân đặc biệt

là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản đóng góp ý kiến Luật sửa đổi, bổ sung cũng quy định rõ trách nhiệm của cơ quan soạn thảo văn bản phải nghiên cứu để tiếp thụ chỉnh

lí dự án, dự thảo văn bản Đây là nội dung được

bổ sung tại Điều 3 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật

+ Về thủ tục thông qua dự án luật, pháp lệnh

- Đối với dự án luật:

Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, dự án luật có thể được Quốc hội thảo luận theo từng vấn đề, từng chương hoặc toàn bộ dự án và được thông qua bằng cách biểu quyết từng điều, từng chương Quy trình thảo luận, thông qua như vậy có điểm hạn chế là các đại biểu mất nhiều thời gian để thảo luận về câu chữ mà chưa dành thời gian thích đáng cho việc thảo luận các chính sách cơ

Trang 4

bản của dự án

Để đẩy nhanh tiến độ thông qua luật, ngoài

việc cải tiến quy trình soạn thảo, thẩm định,

thẩm tra Luật sửa đổi, bổ sung đ tập trung vào

việc đổi mới quy trình thảo luận, xem xét,

thông qua dự án luật như sau:

- Quy định thủ tục thông qua dự án luật tại

một hoặc hai kì họp Tại kì họp đầu, Quốc hội

chỉ cho ý kiến về những nội dung cơ bản,

những vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau;

- Tăng cường vai trò của Uỷ ban thường

vụ Quốc hội trong quá trình xây dựng dự án

luật: "Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo

đoàn thư kí kì họp tổng hợp ý kiến của đại

biểu Quốc hội."

- Để rút ngắn thời gian thông qua luật, thay

vì việc thông qua luật theo từng điều, từng

chương, Luật sửa đổi bổ sung quy định Quốc

hội thông qua luật ngay sau khi nghe đọc toàn

văn dự thảo luật đ được chỉnh lí Chỉ trong

những trường hợp cần thiết, Quốc hội mới

thông qua một số vấn đề cụ thể trước khi thông

qua toàn văn dự thảo luật (khoản 5 Điều 45b)

Có thể nói với những quy định về thủ tục

thông qua dự án luật, Luật sửa đổi, bổ sung đ

góp phần vào việc đổi mới quy trình lập pháp

của Quốc hội

3 Về giám sát, kiểm tra văn bản quy

phạm pháp luật

Quy định về hoạt động giám sát, kiểm tra

đối với văn bản quy phạm pháp luật được sửa

đổi, bổ sung theo hướng xác định rõ hơn chủ

thể, thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan

nhà nước; xây dựng quy trình và cơ chế pháp lí

nhằm thực hiện hiệu quả hoạt động này Theo

đó Luật đ bổ sung Điều 12a về nguyên tắc

giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật;

bổ sung các Điều 80a, 80b về mục đích và nội

dung giám sát, kiểm tra như sau:

"Việc giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm

pháp luật được tiến hành nhằm phát hiện những nội dung sai trái của văn bản để kịp thời

đình chỉ việc thi hành, sửa đổi, huỷ bỏ hoặc b6i

bỏ văn bản nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật

đồng thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xác

định trách nhiệm của cơ quan, cá nhân đ6 ban hành văn bản sai trái."

Nội dung giám sát, kiểm tra văn bản bao gồm:

1 Sự phù hợp của văn bản với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên;

2 Sự phù hợp của hình thức văn bản với nội dung văn bản đó;

3 Sự phù hợp của nội dung văn bản với thẩm quyền của cơ quan ban hành văn bản (Điều 80b)

Ngoài ra, Luật mới còn bổ sung Điều 82a

về việc giám sát của Hội đồng dân tộc và các

Uỷ ban của Quốc hội đối với văn bản quy phạm pháp luật

Trong điều kiện viện kiểm sát nhân dân không còn thực hiện chức năng kiểm sát chung, với mục đích góp phần bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản trong hệ thống pháp luật, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung theo hướng nhấn mạnh trách nhiệm của Bộ tư pháp trong việc giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ kiểm tra, xử lí các văn bản sai trái

4 Về hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật

Nhằm bảo đảm cho việc tuyên truyền, phổ biến văn bản tới nhân dân đồng thời để cơ quan

có liên quan có đủ thời gian chuẩn bị các điều kiện thi hành văn bản, Điều 75 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi theo hướng kéo dài khoảng thời gian từ khi văn bản

được ban hành cho đến thời điểm có hiệu lực;

Trang 5

cách tính thời điểm có hiệu lực của văn bản

trong hai trường hợp:

+ Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật

không quy định rõ thời điểm có hiệu lực thì

việc quy định thời điểm có hiệu lực của văn bản

xác định như sau:

- Văn bản quy phạm pháp luật của Quốc

hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có hiệu lực sau

30 ngày, kể từ ngày Chủ tịch nước kí lệnh công

bố;

- Văn bản quy phạm pháp luật của các cơ

quan nhà nước khác ở trung ương có hiệu lực

sau 15 ngày, kể từ ngày đăng công báo

+ Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật

quy định rõ thời điểm có hiệu lực thì thời điểm

có hiệu lực của văn bản được xác định như sau:

- Ngày có hiệu lực của văn bản phải được

xác định theo các thời điểm giống trường hợp

trên Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp

luật quy định các biện pháp thi hành trong tình

trạng khẩn cấp thì có thể quy định ngày có hiệu

lực sớm hơn;

- Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp

luật cần phải được hướng dẫn thi hành, tuyên

truyền phổ biến rộng ri trong các tầng lớp

nhân dân thì việc quy định ngày có hiệu lực của

văn bản có thể muộn hơn thời điểm có hiệu lực

trong trường hợp thứ nhất

Trên đây là những nội dung cơ bản của

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban

hành văn bản quy phạm pháp luật Việc sửa

đổi, bổ sung Luật ban hành văn bản quy phạm

pháp luật đ góp phần vào việc thể chế hoá tư

tưởng của Đảng về đổi mới quy trình lập pháp,

hoàn thiện hệ thống pháp luật; phù hợp với

Hiến pháp năm 1992, Luật tổ chức Quốc hội,

Luật tổ chức Chính phủ đ được sửa đổi và chắc

chắn sẽ góp phần vào việc xây dựng Nhà nước

pháp quyền x hội chủ nghĩa Việt Nam của

dân, do dân, vì dân./

Quy định về thế chấp… (Tiếp theo trang 71) thành phố thuộc tỉnh có kế hoạch thực hiện ngay việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất cho các hộ gia đình, cá nhân Trong thời gian tới khi chưa thể cấp đầy đủ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên cho phép các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có các giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất hợp pháp được thế chấp quyền sử dụng đất

4 Cần quy định thống nhất trong Bộ luật dân sự, các văn bản pháp luật ngân hàng và các văn bản pháp luật đất đai tổ chức kinh tế,

hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có quyền thế chấp giá trị quyền sử dụng đất tại mọi tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam

5 Giá trị quyền sử dụng đất thế chấp cần

được xác định trên cơ sở giá thị trường tại thời

điểm thế chấp nhưng phải phù hợp với khung giá do Nhà nước quy định Chính phủ phải có nghị định hướng dẫn cụ thể về việc quy định khung giá và nguyên tắc, phương pháp xác

định giá các loại đất theo quy định tại khoản

1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai mới được ban hành (thay thế Nghị định số 87/CP năm 1994)

6 Cần quy định rõ trong Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật liên quan có thể thế chấp riêng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất hoặc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; không bắt buộc phải thế chấp tài quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản

7 Thứ bảy, các bên có quyền thoả thuận

về nghĩa vụ đăng kí thế chấp quyền sử dụng

đất Nếu các bên không thoả thuận, nghĩa vụ này thuộc về bên thế chấp Các bên có quyền thoả thuận về phương thức xử lí quyền sử dụng

đất thế chấp, nếu các bên không thoả thuận mới đem bán đấu giá./

Ngày đăng: 31/03/2014, 13:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w