í mật kinh doanh là một trong những đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ có tuổi đời bảo hộ pháp lí “trẻ nhất” ở Việt Nam, với sự ghi nhận chính thức tại Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 3/
Trang 1
í mật kinh doanh là một trong những đối
tượng của quyền sở hữu trí tuệ có tuổi đời
bảo hộ pháp lí “trẻ nhất” ở Việt Nam, với sự ghi
nhận chính thức tại Nghị định số 54/2000/NĐ-CP
ngày 3/10/2000 của Chính phủ về bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh,
chỉ dẫn địa lí, tên thương mại và bảo hộ quyền
chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan
đến sở hữu công nghiệp (sau đây gọi tắt là Nghị
định số 54/CP) Điều này nói chung không chỉ
nằm trong tiến trình Việt Nam đảm bảo khung
pháp lí về sở hữu trí tuệ để thực thi Hiệp định
thương mại Việt - Mĩ, để thiết lập và thực hiện
các quan hệ kinh tế - thương mại song phương
hoặc đa phương khác với các nước mà còn là sự
chuẩn bị điều kiện tiên quyết để chúng ta có thể
được kết nạp vào Tổ chức thương mại thế giới
WTO
Trong điều kiện nói trên, việc nghiên cứu,
tìm hiểu những vấn đề liên quan đến sự bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh
doanh là rất cần thiết Đây cũng là mục đích
chính của tác giả khi thực hiện bài viết này
Đặc tính vô hình của các đối tượng sở hữu
trí tuệ đ[ làm cho mọi khía cạnh liên quan đến
chúng trở nên hết sức trừu tượng và phức tạp
Với bí mật kinh doanh thì sự trừu tượng và
phức tạp này càng được nhân lên gấp nhiều lần
Bởi vì, sự bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với
các đối tượng khác như tác phẩm văn học, nghệ
thuật, khoa học; sáng chế; kiểu dáng công
nghiệp; nh[n hiệu thương mại; giống cây trồng
mới nói chung đều thể hiện sự bộc lộ công
khai của chủ sở hữu các đối tượng đó trước x[
hội và công chúng thì với bí mật kinh doanh -
đúng như tên gọi của chúng - đ[ thể hiện sự lựa chọn của chủ thể về việc họ đ[ quyết định không bộc lộ, không phô bày, không yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp bằng độc quyền đối với thông tin sáng tạo của mình Với đặc tính
đó, bí mật kinh doanh đ[ thực sự và hầu như tuyệt đối là của riêng chủ thể, tạo lợi thế riêng cho họ trước tất cả các đối thủ cạnh tranh khác trên thương trường Nó đ[ trở thành công cụ hữu hiệu của quá trình cạnh tranh lành mạnh, trợ giúp đắc lực cho hoạt động kinh doanh của chủ thể, thúc đẩy và đa dạng hoá các quan hệ kinh doanh, thương mại trong sự phát triển chung của nền kinh tế quốc dân
Theo nghĩa phổ thông, bí mật kinh doanh
có thể được hiểu là những thông tin gắn liền với công việc và hoạt động kinh doanh của cá nhân hay tổ chức, mang lại lợi ích cho họ và được họ giữ kín không cho người khác biết Tính chất này của bí mật kinh doanh trùng với nhiều loại thông tin khác cũng được chủ thể mong muốn giữ bí mật, không muốn bộc lộ công khai trước người khác Vì vậy, nhiều nước đ[ xếp bí mật thương mại (trade secrets) vào trong l[nh địa bảo hộ khá rộng lớn của thông tin bí mật (confidential information) song lại áp dụng một cách có hiệu quả luật sở hữu trí tuệ để bảo vệ chúng Một bí mật thương mại, bất kể đó là cách thức chế tạo hay thành phần của một sản phẩm, danh sách các bạn hàng hiện tại hoặc
B
* Giảng viên Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội
** Khoa luật - Đại học quốc gia Hà Nội
ThS Kiều Thị Thanh *
ThS Bùi Thị Thanh Hằng * *
Trang 2tương lai, có thể vì lí do này hoặc lí do khác
không thể được xem như là lĩnh vực bảo hộ
chính của sở hữu trí tuệ, nhưng với giá trị
thương mại đáng kể của bí mật thương mại đối
với một công ti và tương ứng như vậy là đối với
đối thủ cạnh tranh của công ti đó, thì bí mật
thương mại đ[ thể hiện một sự đầu tư thích
đáng không chỉ bằng những nỗ lực trí tuệ và kĩ
năng sáng tạo, mà còn bởi sự đầu tư về thời
gian và tiền bạc, vì vậy bí mật thương mại hoàn
toàn có khả năng được bảo hộ như một loại tài
sản trí tuệ.(1)
Sự bảo hộ bí mật kinh doanh theo pháp luật
về quyền sở hữu trí tuệ đ[ dẫn đến hệ quả tất
yếu là khi nó bị xâm phạm bởi hành vi của
người khác, chủ sở hữu hoàn toàn có quyền
viện dẫn quy định pháp luật về quyền sở hữu trí
tuệ nói chung, quyền sở hữu công nghiệp đối
với bí mật kinh doanh nói riêng để yêu cầu toà
án bảo vệ quyền lợi chính đáng cho mình Thực
tiễn ở Việt Nam hiện nay, phù hợp với bước đi
ban đầu của chúng ta khi thừa nhận quyền sở
hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh,
cũng như phù hợp với đặc thù rất riêng của bí
mật kinh doanh, quy định pháp luật về đối
tượng này chỉ chiếm vị trí pháp lí rất khiêm tốn
Tại Nghị định số 54/CP, chỉ có 5 điều luật thực
sự quy định về bí mật kinh doanh (cụ thể là từ
Điều 6 đến Điều 9 quy định về các dấu hiệu của
bí mật kinh doanh, quyền của chủ thể bí mật
kinh doanh, nội dung và thời hạn bảo hộ bí mật
kinh doanh, sự chuyển giao quyền sở hữu đối
với bí mật kinh doanh và Điều 18 xác định các
hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
đối với bí mật kinh doanh)
Đối với việc cần phải hiểu như thế nào là bí
mật kinh doanh, Điều 6 Nghị định số 54/CP đ[
đưa ra giới hạn pháp lí như sau:
“1 Bí mật kinh doanh được bảo hộ là
thành quả đầu tư dưới dạng thông tin có đủ các
điều kiện sau đây:
a Không phải là hiểu biết thông thường;
b Có khả năng áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng sẽ tạo cho người nắm giữ thông tin đó có lợi thế hơn so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng thông tin đó;
c Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để thông tin đó không bị tiết lộ
và không dễ dàng tiếp cận được
2 Các thông tin bí mật khác không liên quan đến kinh doanh như bí mật về nhân thân,
về quản lí nhà nước, về an ninh, quốc phòng không được bảo hộ dưới danh nghĩa là bí mật kinh doanh”
Với quy định trên, pháp luật mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra một số điều kiện để xác định một thành quả đầu tư dưới dạng thông tin có
được coi là bí mật kinh doanh hay không mà không minh hoạ, không đưa ra bất kì trường hợp cụ thể mang tính chuẩn mực nào của những gì có thể được gọi là bí mật kinh doanh Đây là
điều chúng ta cần bổ sung, không chỉ nhằm làm cho văn bản pháp luật có nội dung đầy đủ hơn
mà cơ bản còn tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình áp dụng luật của các thẩm phán và cơ quan có thẩm quyền khác trước một đối tượng
sở hữu trí tuệ đầy tính trừu tượng và phức tạp như bí mật kinh doanh Thực tiễn ở nhiều nước, pháp luật thường quy định khá rõ về vấn đề này Chẳng hạn, theo Restatement (Third) of Unfair Competation 1995 (tác giả xin được tạm dịch là Quy định về cạnh tranh không lành mạnh năm 1995) của Mĩ thì “Một bí mật thương mại có thể bao gồm bất kì một công thức, một mô hình, một quy trình, một chương trình thao tác, một phương sách, một cách thức, một phương pháp kĩ thuật hoặc một sưu tập thông tin nào mà chúng đM được giữ bí mật và
được sử dụng trong cơ sở kinh doanh của chủ
sở hữu, trên cơ sở đó đM mang lại cho chủ sở hữu một lợi thế hơn các đối thủ cạnh tranh của
họ là những người không biết hoặc không sử
Trang 3dụng bí mật thương mại đó”.(2)
Cần phải thừa nhận một thực tế là với tính
chất và đặc thù của bí mật kinh doanh thì rõ
ràng việc đưa ra khái niệm pháp lí chuẩn xác về
nó là việc hầu như không thể làm được Pháp luật
của Mĩ cũng xác nhận điều này (nguyên văn
trong văn bản là “An exact definition of a trade
secret is not possible”) Tuy nhiên, họ đ[ đưa ra 6
yếu tố để căn cứ vào đó người ta có thể xem xét
thông tin của một người có được xác định là bí
mật thương mại hay không Các yếu tố này là:(3)
1 Phạm vi những người biết được thông tin
đó bên ngoài cơ sở kinh doanh của người nắm
giữ thông tin;
2 Phạm vi những người làm công và những
người khác trong cơ sở kinh doanh của người
nắm giữ thông tin biết được về thông tin đó;
3 Toàn bộ các biện pháp, cách thức mà
người nắm giữ thông tin đ[ thực hiện để giữ gìn
bí mật thông tin đó;
4 Giá trị của thông tin đó đối với người
nắm giữ thông tin và đối với đối thủ cạnh tranh
của người đó;
5 Tổng lượng cố gắng, nỗ lực hoặc tiền bạc
của người giữ thông tin trong quá trình tạo ra và
phát triển thông tin đó;
6 Tính chất dễ dàng hoặc khó khăn để
thông tin có thể có được một cách đúng đắn,
hợp lí đối với người khác (tức là ngoài người
nắm giữ thông tin đó)
Trở lại quy định của pháp luật Việt Nam,
theo đó, để được công nhận là bí mật kinh doanh,
chủ thể kinh doanh phải đảm bảo thoả m[n 3 điều
kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định
số 54/CP như đ[ được trích dẫn Ba điều kiện
này cần được hiểu như thế nào?
Xuất phát từ mục đích cơ bản và chung
nhất của việc bảo hộ quyền sở hữu đối với bí
mật kinh doanh là gắn với lợi ích thương mại
của chủ thể kinh doanh khi họ nắm giữ những
thông tin bí mật nhất định, tạo lợi thế riêng cho
họ trong quá trình kinh doanh, trong sự cạnh
tranh lành mạnh với các chủ thể kinh doanh khác thì điều kiện đầu tiên để thành quả đầu tư dưới dạng thông tin được coi là bí mật kinh doanh phải không phải là hiểu biết thông thường Theo
đó, chúng không thể là những kiến thức, tri thức
mà nhiều người khác đ[ biết hoặc có được một cách dễ dàng Chúng cũng không thể là thông tin đ[ được biết đến một cách rộng r[i hoặc dễ dàng phát hiện, nắm giữ mà không có sự đầu tư
về tài chính hoặc trí tuệ Bởi vì, khi đó tính chất
bí mật của thông tin cũng không còn hoặc không được đảm bảo Hơn nữa, thông tin có
được không do đầu tư cũng thường ít có giá trị, khó mang lại lợi thế cho người chiếm giữ và sử dụng chúng
Hơn thế nữa, bí mật kinh doanh không thể chỉ thoả m[n điều kiện không phải là hiểu biết thông thường, chúng còn phải có khả năng sử dụng trong kinh doanh để tạo cho người nắm giữ thông tin lợi thế hơn so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng thông tin đó Điều này xuất phát từ đặc điểm của bí mật kinh doanh thường là thông tin được tạo ra trên cơ sở
có sự đầu tư nhất định của chủ sở hữu, với mong muốn việc nắm giữ và sử dụng chúng sẽ mang lại lợi ích và hiệu quả kinh tế nhất định cho họ, giúp họ dễ dàng hơn trong quá trình cạnh tranh với các đối thủ khác
Trên cơ sở chủ sở hữu đ[ nắm giữ và sử dụng thông tin bí mật đáp ứng yêu cầu không phải là hiểu biết thông thường, có khả năng sử dụng trong kinh doanh tạo lợi thế riêng cho họ trong quá trình cạnh tranh với các chủ thể khác, luật đồng thời quy định điều kiện thứ ba để xác
định thông tin của chủ thể có phải là bí mật kinh doanh hay không Đó là việc chủ sở hữu thông tin đ[ áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo mật thông tin của mình như thế nào Rõ ràng, cho dù việc sử dụng thông tin sáng tạo riêng nào đó thực sự mang lại lợi ích rất lớn cho chủ sở hữu nhưng họ lại đ[ trả lời phỏng vấn trước báo chí, đ[ cung cấp hoặc bán thông tin
Trang 4cho nhiều người khác, đ[ tạo điều kiện để nhiều
người khác có thể dễ dàng biết về thông tin thì
họ khó có thể chứng minh trên thực tế người
nào đó đ[ xâm phạm bí mật kinh doanh của
mình để yêu cầu bồi thường Bởi vì, khi đó
thông tin không còn được coi là bí mật nữa
Tuy nhiên, do lợi thế của việc nắm giữ thông
tin bí mật này, thông thường chủ sở hữu cũng
đ[ tự bảo vệ thông tin của mình bằng nhiều
cách thức có thể, đảm bảo thông tin không bị rò
rỉ, không dễ dàng tiếp cận được như không tiết
lộ thông tin cho người khác biết, gửi tài liệu
chứa đựng thông tin ở ngân hàng Đây cũng là
điều kiện nói lên tính chất mật của bí mật kinh
doanh Kết hợp với hai điều kiện ban đầu chúng
đ[ làm cho thành quả đầu tư dưới dạng thông
tin của chủ thể trở thành bí mật kinh doanh và
được bảo hộ theo quy định của pháp luật Việt
Nam về bí mật kinh doanh
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng sự giữ kín
bí mật kinh doanh bằng những biện pháp, cách
thức cần thiết không bao hàm nghĩa chủ sở hữu
không được tiết lộ thông tin của mình cho bất
kì ai Họ vẫn có thể, theo ý chí của mình, tiết lộ
hoặc cho phép người khác sử dụng thông tin
kèm theo hoặc không kèm theo những điều
kiện nhất định Vấn đề là họ cần nhận thức
được rằng việc làm đó sẽ đồng hành với việc
làm cho tính chất và phạm vi bí mật của thông
tin của họ đ[ bị thu hẹp, thậm chí có thể làm
mất đi tính chất mật của thông tin Bởi vì, xét
đến cùng thì đó cũng là biện pháp bảo mật mà
chủ sở hữu thông tin đ[ áp dụng cho chính bản
thân mình
Các điều kiện trên của bí mật kinh doanh sẽ
trở nên dễ hiểu hơn, dễ được chấp nhận hơn nếu
chúng ta biết rằng ở một số nước, để tìm hiểu
về bí mật thương mại, người ta đ[ sẵn sàng đặt
ngang bằng sự bảo hộ sáng chế (inventions)
theo cơ chế cấp văn bằng độc quyền (patents)
với sự bảo hộ bí mật thương mại (trade secrets)
Thực tế là ở đất nước họ có nhiều bí mật thương mại trong lĩnh vực kĩ thuật hoàn toàn có khả năng được bảo hộ là sáng chế nhưng chủ thể đ[ lựa chọn cách thức giữ bí mật sáng tạo của mình và viện dẫn luật bí mật thương mại để bảo
vệ chúng khi chúng bị người khác xâm phạm
mà không cần viện dẫn luật sáng chế (được coi
là một trong số ít lĩnh vực sở hữu trí tuệ quan trọng nhất), không yêu cầu đăng kí bảo hộ độc quyền sáng chế, cũng không lo sợ bí mật của mình có thể bị đánh cắp, bị người khác tiếp cận
và nắm giữ bất hợp pháp Điều đặc biệt này chỉ
có thể được lí giải khi người ta thấy được điểm khác biệt quan trọng nhất giữa sự bảo hộ sáng chế và sự bảo hộ bí mật thương mại Theo đó, mục tiêu chung của luật sáng chế là nhằm khuyến khích sáng tạo và bộc lộ các sáng tạo bằng việc dành cho người được cấp bằng sáng chế sự độc quyền sở hữu và sử dụng sáng chế trước tất cả những người khác trong thời hạn nhất định (khi thời hạn này kết thúc, sáng chế trở thành tài sản chung của x[ hội) Đổi lại việc
được bảo hộ độc quyền trong thời hạn tương
đối lâu dài (hầu hết luật các nước đều quy định thời hạn này là 20 năm) thì chủ sở hữu phải công khai sáng tạo của mình, phải tiết lộ thông tin về sáng chế của mình trong những trường hợp được luật chỉ dẫn “mặc dù người sở hữu có các độc quyền đối với sáng chế của họ, tuy nhiên họ lại không được quyền giữ kín thông tin
về các sáng chế đó Luật pháp của hầu hết các nước đều yêu cầu người nộp đơn xin cấp bằng
độc quyền sáng chế phải công bố những thông tin về sản phẩm hoặc quá trình được cấp bằng cũng như phải tạo điều kiện cho những người
có khả năng kĩ thuật hiểu và sử dụng thông tin này để nghiên cứu thêm hoặc ứng dụng công nghệ sau khi sáng chế hết thời hạn độc quyền Bất kì người nào quan tâm cũng có thể thu thập
được những thông tin như vậy từ văn phòng cấp patent, sau khi đM trả các chi phí cần thiết”.(4)
Trang 5Ngược lại với đặc điểm trên của bảo hộ
sáng chế, bí mật thương mại được bảo hộ lại
nằm trong chính sự bí mật với các cách thức giữ
kín, bảo mật của chủ thể, làm cho chúng không
bị bộc lộ công khai trước người khác Vì thế,
tuy mục tiêu của sự bảo hộ bí mật thương mại
tương đồng với mục tiêu bảo hộ sáng chế ở chỗ
chúng có tính chất khuyến khích hoạt động
sáng tạo nhưng chúng vượt ra ngoài và mở rộng
hơn so với bảo hộ sáng chế ở điểm chúng đảm
bảo cho thông tin sáng tạo của chủ thể không
trở thành tri thức công cộng chung, cho tới
chừng nào thông tin đó còn đảm bảo các yêu
cầu luật định để xác định đó là bí mật thương
mại Sự khác biệt này thực ra do bản chất của
sự bảo hộ sáng chế và bí mật thương mại (phù
hợp với đặc thù của từng đối tượng) quyết định
Cụ thể, nếu như sự bảo hộ độc quyền sáng
chế mang tính chất hành chính, chủ yếu dựa
vào quyền lực nhà nước và có tính đối lưu hai
chiều: không chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi của
chủ sở hữu mà còn gắn với mục tiêu phát triển
công nghệ chung của toàn x[ hội – Nhà nước
bảo đảm cho chủ sở hữu độc quyền sở hữu và
công khai sử dụng sáng chế trong một thời hạn
nhất định để đổi lấy việc chủ sở hữu không
được quyền giữ bí mật thông tin về sáng chế và
những người khác vẫn có thể tiếp cận, nghiên
cứu sáng chế, từ đó tiếp tục cải tiến, phát triển
và đổi mới công nghệ trong lĩnh vực tương ứng
thì sự bảo hộ bí mật thương mại chủ yếu mang
tính chất dân sự, với những biện pháp bảo mật
do chính chủ sở hữu tự mình tiến hành, sao cho
bí mật thương mại không thể bị tiết lộ dẫn đến
giảm lợi thế kinh doanh của họ trước các đối
thủ cạnh tranh khác Khi thực tế xuất hiện hành
vi tiếp cận, nắm giữ thông tin về bí mật thương
mại một cách không lành mạnh hoặc bất hợp
pháp, chủ sở hữu có quyền viện dẫn Luật bí mật
thương mại để yêu cầu bồi thường
Từ luận điểm trên có thể dễ dàng thấy điểm
quan trọng nhất trong sự bảo hộ bí mật thương
mại, không đơn giản chỉ nhằm khuyến khích sáng tạo, giữ gìn bí mật sáng tạo mà cơ bản hơn
là nhằm duy trì, gìn giữ những tiêu chuẩn nhất
định về những giá trị đạo đức trong kinh doanh, trong hoạt động thương mại Nội dung này chính
là cơ sở hình thành của quan điểm lí thuyết và thực tiễn về sự bộc lộ hoặc sử dụng bất hợp pháp
bí mật thương mại (misappropreations of trade secrets - tác giả xin được tạm dịch là sự biển thủ bí mật thương mại) luôn được các toà án ở
Mĩ và một số nước khác áp dụng Theo đó, người ta sẽ buộc một người phải chịu trách nhiệm về sự biển thủ này khi bí mật thương mại
được tiết lộ hoặc sử dụng theo một trong ba trường hợp sau đây:(5)
- Người đó đ[ nắm giữ bí mật thương mại bởi những cách thức không chính đáng như lấy cắp, lừa gạt, mạo nhận, đấu trộm điện thoại để nghe lén, xâm nhập bất hợp pháp để có được bí mật đó
- Người đó đ[ nắm giữ bí mật thương mại
từ một người thứ ba mà người thứ ba đó biết hoặc phải biết bí mật này có được là bằng cách thức không phù hợp Chẳng hạn, một tình báo công nghiệp tự do đ[ bằng những cách thức bất hợp pháp để có được bí mật thương mại của một công ti và sau đó đ[ bán bí mật này cho đối thủ cạnh tranh của công ti đó
- Người đó đ[ nắm giữ bí mật thương mại trên cơ sở vi phạm một nghĩa vụ bảo mật liên quan đến bí mật đó Ví dụ, người làm công của một chủ sở hữu bí mật thương mại là người bị ràng buộc không được phép bộc lộ và sử dụng
bí mật đó trong suốt quá trình làm công và cả sau này (khi không còn làm công) nhưng đ[ vi phạm nghĩa vụ đó
Các trường hợp trên cùng với quy định của Luật bí mật thương mại, Luật chống cạnh tranh không lành mạnh đ[ được vận dụng tương đối thành công trong nhiều vụ kiện yêu cầu bồi thường do xâm phạm bí mật thương mại ở Mĩ Năm 1987, toà án Mĩ đ[ thụ lí vụ kiện khá nổi
Trang 6tiếng giữa Tony Mason và Jack Daniel
Distillery trong lĩnh vực này.(6) Xin được tóm
tắt vụ kiện như sau:
Tony Mason là chủ nhà hàng đ[ sáng tạo ra
công thức pha chế một thứ đồ uống hỗn hợp
được đặt tên là Lynchburg Lemonade với thành
phần bao gồm rượu whiskey mà ông ta đ[ mua
của Jack Daniel Distillery - loại dịch chất
mang tên Triple Sec - hỗn hợp nước có vị ngọt,
chua và 7-Up (loại nước giải khát có ga mang
nh[n hiệu Seven up vẫn được sản xuất và bán ở
Việt Nam) Loại nước giải khát hỗn hợp này
(có tác dụng bảo vệ thanh quản rất tốt) được
Mason bán tại các quầy hàng của mình và đ[
trở nên rất được ưa chuộng Sau đó một thời
gian, Winston Randle - đại diện kinh doanh của
Jack Daniel, do nhiều lần đến uống Lynchburg
Lemonade tại nhà hàng của Mason, đ[ tìm hiểu
được công thức pha chế ra nó và đ[ thông tin
cho ông chủ của mình Khoảng một năm sau,
Jack Daniel đ[ phát triển cuộc vận động trên
quy mô quốc gia về loại đồ uống này
Mason đ[ kiện Jack Daniel và Randle về sự
biển thủ bí mật thương mại bởi ông ta không
nhận được bất kì khoản tiền đền bù nào đối với
việc sử dụng Lynchburg Lemonade từ phía các bị
đơn Các thẩm phán ở hai cấp toà án sơ thẩm và
phúc thẩm của Mĩ (do các bị đơn chống án) đ[
vận dụng các đạo luật về chống cạnh tranh
không lành mạnh (Law of Unfair Competition),
về bí mật thương mại (Uniform Trade Secrets
Act) cùng với các quan điểm về sự biển thủ bí
mật thương mại để xử vụ kiện này Họ đ[ thấy
thực tế là Tony Mason đ[ có những nỗ lực
trong việc sử dụng thời gian và tiền bạc để tạo
ra công thức pha chế Lynchburg Lemonade
Ông ta đ[ tạo nên mặt hàng riêng cho mình là
một thứ đồ uống hỗn hợp, không chỉ có tác
dụng giải khát mà còn có tác dụng chữa bệnh
được khách hàng rất ưa chuộng Mason cũng đ[
có quá trình rất cố gắng để làm cho loại đồ
uống này trở nên rất đặc biệt, chỉ được bán riêng ở các quầy hàng thuộc nhà hàng của ông
ta (cho tới thời điểm vụ kiện xảy ra, không khách hàng nào có thể yêu cầu một li Lynchburg Lemonade ở bất kì nhà hàng nào khác ngoài cơ sở kinh doanh của Mason) Mason cũng đ[ chứng minh được loại đồ uống này đ[ mang lại lợi nhuận rất lớn, nó chiếm tới 1/3 trên tổng số doanh thu của việc bán các loại rượu bia ở nhà hàng của ông ta và như vậy, nó cũng trở nên có giá trị đối với các đối thủ cạnh tranh khác trong cùng lĩnh vực kinh doanh
Đồng thời, Mason cũng đ[ được kiểm chứng để xác nhận rằng ông ta chỉ nói với một số người làm công ở nhà hàng của ông ta về công thức pha chế Lynchburg Lemonade và đ[ đặc biệt hướng dẫn họ về việc không được để lộ công thức này cho bất kì người nào khác Ngoài ra,
để đảm bảo cho việc khách hàng không thể biết
được công thức đó, ở nhà hàng của Mason, Lynchburg Lemonade luôn được tiến hành pha trộn từ phía sau, sau đó mới mang ra theo yêu cầu của khách hàng Mason đ[ rất thành công trong việc giữ bí mật công thức pha chế này cho
đến khi nó bị Randle phát hiện ra
(Xem tiếp trang 91)
(1).Xem: Intellectual Property Law Paul Marett Sweet and Maxwell London 1996, tr.138
(2).Xem: Business Law and the Regulatory Environment - Jane P Mallor, A James Barnes, Thomas Bowers, Michael J Phillips, ArlenW Langvadt - McGraw-Hill USA 1998, tr.160
(3).Xem: Business Law and the Regulatory Environment Sđd, tr.162
(4).Xem: Hướng dẫn doanh nghiệp về hệ thống thương mại thế giới Trung tâm thương mại quốc tế và Ban thư
kí Khối thịnh vượng chung, Nxb Chính trị quốc gia
Hà Nội 2001, tr.309 và 310
(5).Xem: Business Law and the Regulatory Environment Sđd, tr.162
(6).Xem: Business Law and the Regulatory Environment Sđd, tr.161 và 162