1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Tội phạm kinh tế và đấu tranh phòng chống tội phạm này ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" potx

4 1,1K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 88,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phan thanh Mai* hông làm xấu hơn tình trạng của bị cáo là nguyên tắc được áp dụng trong việc bổ sung, thay đổi kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm về hình sự.. Theo quy định tại Điều 212 BLT

Trang 1

Ths Phan thanh Mai* hông làm xấu hơn tình trạng của bị cáo là

nguyên tắc được áp dụng trong việc bổ

sung, thay đổi kháng cáo, kháng nghị phúc

thẩm về hình sự Theo quy định tại Điều 212

BLTTHS thì: "Trước khi bắt đầu hoặc tại

phiên toà phúc thẩm, người kháng cáo hoặc

viện kiểm sát có quyền bổ sung, thay đổi kháng

cáo, kháng nghị nhưng không được làm xấu

hơn tình trạng của bị cáo; rút một phần hoặc

toàn bộ kháng cáo, kháng nghị Trong trường

hợp rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị tại

phiên toà thì việc xét xử phúc thẩm phải được

đình chỉ"

Việc nghiên cứu về Điều 212 BLTTHS nói

chung cũng như về nguyên tắc không làm xấu

hơn tình trạng của bị cáo nói riêng có ý nghĩa

quan trọng về lí luận cũng như trong thực tiễn

xét xử Giải quyết được tốt vấn đề này sẽ giúp

cho các chủ thể của quyền kháng cáo, kháng

nghị thực hiện tốt quyền của mình và tạo cơ sở

pháp lí để toà án cấp phúc thẩm chấp nhận

hoặc không chấp nhận bổ sung, thay đổi kháng

cáo, kháng nghị Vấn đề này còn trực tiếp liên

quan đến việc xác định nội dung của kháng

cáo, kháng nghị, qua đó xác định phạm vi xét

xử phúc thẩm và quyền hạn của toà án cấp

phúc thẩm

Vấn đề thế nào là "làm xấu hơn tình trạng

của bị cáo" đP được các cơ quan có thẩm

quyền giải thích và cũng đP được nhiều tác giả

quan tâm nghiên cứu ở các mức độ khác nhau

Qua việc nghiên cứu những ý kiến khác nhau

về vấn đề này trên một số sách báo pháp lí,

chúng tôi thấy có một số quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất: Tất cả những bổ sung, thay đổi theo hướng bất lợi cho bị cáo về hình sự, dân sự, án phí, xử lí vật chứng đều là

"làm xấu hơn tình trạng của bị cáo".(1) Quan điểm thứ hai: Theo (hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao thì làm xấu hơn tình trạng của bị cáo là làm cho bị cáo có thể bị Toà án cấp phúc thẩm phạt nặng hơn, áp dụng

điều khoản của BLHS về tội nặng hơn hoặc tăng mức bồi thường so với quyết định của toà

án cấp sơ thẩm.(2) Quan điểm thứ ba: Làm xấu hơn tình trạng của bị cáo được hiểu là đưa đến những bất lợi cho bị cáo về mặt hình sự Những sửa đổi nội dung kháng nghị theo hướng tăng mức bồi thường không phải là làm xấu hơn tình trạng của bị cáo.(3)

Những quan điểm nói trên đều có những

điểm hợp lí, mặc dù vậy, theo chúng tôi, những quan điểm này đều có những điểm chưa thoả

đáng

Quan điểm thứ nhất đưa ra khái niệm về làm xấu hơn tình trạng của bị cáo quá rộng Bị cáo là đối tượng bị buộc tội trong vụ án hình

sự, tình trạng của bị cáo có trở nên xấu hơn hay không phải được xác định bởi mối quan hệ của họ với các chế tài hình sự Việc giải quyết

về bồi thường thiệt hại trong trường hợp không

K

* Giảng viên chính Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

ảnh hưởng đến việc xem xét về trách nhiệm

hình sự đối với bị cáo chỉ đơn thuần là việc giải

quyết về dân sự và phải tuân theo những quy

định của luật dân sự, luật tố tụng dân sự

Không thể coi mọi bổ sung, thay đổi, tăng mức

bồi thường thiệt hại là làm xấu đi tình trạng

của bị cáo

Quan điểm thứ hai vừa rộng lại vừa hẹp

Về phần dân sự, quan điểm này cũng giống

quan điểm trên là quá rộng Về phần hình sự,

quan điểm này lại quá hẹp, chỉ đề cập những

trường hợp yêu cầu tăng hình phạt, áp dụng

điều khoản về tội nặng hơn mà không đề cập

những trường hợp khác cũng có thể làm xấu đi

tình trạng của bị cáo như yêu cầu kết tội bị cáo

được toà án cấp sơ thẩm tuyên vô tội; yêu cầu

phạt tù giam không cho hưởng án treo (trong

trường hợp giữ nguyên hoặc tăng mức hình

phạt) đối với những bị cáo được toà án cấp sơ

thẩm cho hưởng án treo; yêu cầu không cho

miễn trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt đối

với người đP được toà án cấp sơ thẩm cho miễn

trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt Với cách

giải thích như vậy, quan điểm này đP hạn chế

quyền bổ sung, thay đổi kháng cáo, kháng nghị

của các chủ thể

Quan điểm thứ ba xác định việc bổ sung,

thay đổi kháng cáo, kháng nghị theo hướng

làm xấu hơn tình trạng của bị cáo là làm cho bị

cáo có thể bị bất lợi về mặt hình sự còn những

bổ sung, thay đổi theo hướng có thể bị bất lợi

về mặt dân sự không phải là làm xấu đi tình

trạng của bị cáo Theo quan điểm này, việc giải

quyết bồi thường trong vụ án hình sự thực chất

là giải quyết về dân sự, pháp luật cho phép có

thể giải quyết vấn đề này trong vụ án hình sự

hoặc có thể giải quyết riêng theo thủ tục tố

tụng dân sự (khoản 2 Điều 166 BLTTHS) Khi

vấn đề có thể giải quyết bằng cách này hay

cách khác thì các quan hệ pháp luật đối với vấn

đề đó và cách giải quyết nó phải như nhau Trong tố tụng dân sự, việc sửa đổi kháng cáo, kháng nghị được quy định bình đẳng cho các bên đương sự Điều 60 Pháp lệnh thủ tục các

vụ án dân sự quy định: "Trước hoặc trong phiên toà phúc thẩm, người kháng cáo có quyền sửa đổi nội dung đ< kháng cáo hoặc rút kháng cáo, viện kiểm sát có quyền sửa đổi nội dung đ< kháng nghị hoặc rút kháng nghị” Theo chúng tôi, quan điểm này đP phân biệt rõ hai loại quan hệ pháp luật hình sự với quan hệ pháp luật dân sự là hai loại quan hệ khác nhau

và là đối tượng điều chỉnh của những ngành luật khác nhau, việc giải quyết các quan hệ đó cũng bằng những quy định khác nhau về hình thức và khẳng định việc bổ sung, thay đổi kháng cáo, kháng nghị theo hướng tăng mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo cần phải

được xem xét theo quy định tại Điều 60 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự Tuy vậy, việc tác giả khẳng định việc giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại thực chất là việc giải quyết về dân sự, tách rời vụ án hình

sự là không đúng trong mọi trường hợp Có trường hợp, việc giải quyết bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự có thể chỉ đơn thuần là việc giải quyết về dân sự, như những trường hợp sau:

- Những thiệt hại vật chất do hành vi của bị cáo gây ra cho nguyên đơn dân sự (trong trường hợp nguyên đơn dân sự là cá nhân) không phải là những thiệt hại gây ra cho đối tượng của tội phạm Trong trường hợp này, việc thay đổi mức bồi thường thiệt hại không

ảnh hưởng đến việc xác định trách nhiệm hình

sự của bị cáo

- Hành vi phạm tội của bị cáo đP gây ra những thiệt hại cho đối tượng của tội phạm nhưng yêu cầu tăng mức bồi thường thiệt hại không phải vì lí do cần phải xác định lại mức

Trang 3

độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Ví dụ

trường hợp người bị hại trong vụ án cố ý gây

thương tích đồng ý với tỉ lệ thương tích đP

được xác định nhưng họ vẫn yêu cầu tăng mức

bồi thường thiệt hại vì những lí do khác Việc

tăng mức bồi thường thiệt hại trong trường hợp

này cũng không ảnh hưởng đến việc xác định

trách nhiệm hình sự của bị cáo

Khác với những trường hợp trên, trong rất

nhiều trường hợp, mức bồi thường thiệt hại lại

phụ thuộc vào mức độ thiệt hại do hành vi

phạm tội gây ra, do đó yêu cầu tăng mức bồi

thường thiệt hại sẽ ảnh hưởng đến việc xác

định trách nhiệm hình sự của bị cáo Phải giải

quyết các trường hợp khác nhau đó bằng

những thủ tục khác nhau, tuỳ thuộc vào việc

các vấn đề đó do quan hệ pháp luật nào điều

chỉnh

Để xác định thế nào là “làm xấu đi tình

trạng của bị cáo” cần phải xuất phát từ mục

đích của nguyên tắc "không làm xấu đi tình

trạng của bị cáo" Khi kháng cáo, kháng nghị

bị thay đổi, bổ sung trước hoặc tại phiên toà

xét xử phúc thẩm (sau khi thông báo kháng

cáo, kháng nghị) thì bị cáo cũng như người bào

chữa của bị cáo sẽ bị động trước những bổ

sung, thay đổi đó Nếu việc bổ sung, thay đổi

kháng cáo, kháng nghị theo hướng làm xấu đi

tình trạng của bị cáo sẽ làm cho bị cáo và

người bào chữa không có điều kiện để chuẩn bị

và thực hiện tốt quyền bào chữa tại phiên toà

Luật tố tụng hình sự quy định việc bổ sung,

thay đổi kháng cáo, kháng nghị trước hoặc tại

phiên toà xét xử không được làm xấu đi tình

trạng của bị cáo chính là nhằm đảm bảo quyền

bào chữa của bị cáo mà quyền bào chữa chỉ

xuất hiện trong tố tụng hình sự và chỉ trong

mối quan hệ với việc buộc tội

Từ những nhận thức trên chúng tôi cho

rằng "làm xấu đi tình trạng của bị cáo" là làm

cho bị cáo có thể bị bất lợi hơn về mặt hình sự,

kể cả những trường hợp việc tăng mức bồi thường dẫn đến việc bị cáo có thể phải chịu những chế tài hình sự nặng hơn Những trường hợp tăng mức bồi thường thiệt hại không ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của bị cáo (có thể tách ra để xử theo thủ tục tố tụng dân sự) thì không cần phải tuân theo nguyên tắc

"không làm xấu đi tình trạng của bị cáo"

Điều 212 không xác định rõ thời điểm việc

bổ sung, thay đổi kháng cáo, kháng nghị phải theo nguyên tắc "không làm xấu đi tình trạng của bị cáo" Vì vậy, cũng có những cách giải thích khác nhau về vấn đề này: Có quan điểm cho rằng tất cả những thay đổi, bổ sung kháng cáo, kháng nghị sau khi đP kháng cáo, kháng nghị của viện kiểm sát và những người kháng cáo khác đều phải theo nguyên tắc "không làm xấu đi tình trạng của bị cáo"; có quan điểm lại cho rằng việc bổ sung, thay đổi kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định cũng coi là kháng cáo, kháng nghị mới, không phải là thay

đổi, bổ sung kháng cáo, kháng nghị, vì vậy không cần phải theo nguyên tắc "không làm xấu đi tình trạng của bị cáo" Chúng tôi đồng ý với quan điểm này vì chỉ sau khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, toà án mới tiến hành thông báo kháng cáo, kháng nghị Vì vậy, việc thay đổi, bổ sung kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định không ảnh hưởng đến quyền bào chữa của bị cáo đồng thời đảm bảo quyền kháng cáo, kháng nghị của các chủ thể

Điều 212 BLTTHS không quy định việc rút kháng cáo, kháng nghị phải theo nguyên tắc không làm xấu đi tình trạng của bị cáo nhưng cũng có đề xuất cho rằng việc rút một phần kháng cáo, kháng nghị cũng phải theo nguyên tắc này, không được rút những phần kháng cáo, kháng nghị có lợi cho bị cáo vì điều đó cũng có thể bất lợi đối với bị cáo,(4) chúng tôi cho rằng đề xuất này không cần thiết vì những

lí do sau đây:

Trang 4

- Tình trạng của bị cáo có xấu đi hay

không là phải so sánh với các quyết định trong

bản án của toà án cấp sơ thẩm, những phần

kháng cáo, kháng nghị đP được rút sẽ nằm

ngoài phạm vi xét xử phúc thẩm Toà án cấp

phúc thẩm không thể sửa án theo hướng tăng

nặng đối với bị cáo về những phần này

- Toà án cấp phúc thẩm vẫn có quyền sửa

án theo hướng giảm nhẹ về trách nhiệm hình

sự đối với bị cáo ngoài phạm vi kháng cáo,

kháng nghị

- Bản thân bị cáo có quyền bổ sung kháng

cáo theo hướng có lợi cho mình trước khi bắt

đầu hoặc tại phiên toà xét xử

Từ những phân tích trên, chúng tôi xin đưa

ra một số kiến nghị về mặt pháp luật:

- Bổ sung Điều 212 BLTTHS: "Trước khi

bắt đầu hoặc tại phiên toà phúc thẩm, người

kháng cáo hoặc viện kiểm sát có quyền bổ

sung, thay đổi kháng cáo, kháng nghị nhưng

không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo "

- Cần phải có hướng dẫn thống nhất và

hợp lí hơn về thế nào là "làm xấu hơn tình

trạng của bị cáo" (như đP phân tích ở trên)

- Phải có sự giải thích và sử dụng rõ ràng,

thống nhất thuật ngữ "tội" và "tội danh" trong

các điều luật và các văn bản pháp luật khác có

liên quan(5)./

(1).Xem: Nguyễn Đức Mai - “Thế nào là làm xấu hơn

tình trạng của bị cáo trong xét xử phúc thẩm” Tạp chí

toà án 8/1994

(2).Xem: “Các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụng”

- TANDTC - 1990, tr.138

(3).Xem: Lưu Tiến Dũng - “Xung quanh vấn đề sửa

đổi nội dung kháng nghị, rút kháng nghị” Tạp chí toà

án số 7/1992

(4).Xem: Đặng Văn Dùng - “Về Điều 212 BLTTHS”

Tạp chí toà án số 4/2000

(5).Xem: Quách Thành Vinh - “Một số vấn đề liên

quan đến làm xấu đi tình trạng của bị cáo khi xét xử

phúc thẩm” Tạp chí toà án số 12/1999

Khi li hôn, bên kia yêu cầu được cấp dưỡng thì

có coi là họ có khả năng để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng hay không? Rõ ràng là không thể không coi là họ có khả năng để cấp dưỡng nhưng nếu như vậy thì hoàn toàn không phù hợp với thực tế và rất khó chấp nhận Người ta chỉ có thể chấp nhận bán dần nhà ở hoặc chuyển quyền sử dụng đất canh tác để lấy tiền chăm sóc, nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng cho cha, mẹ, con hoặc cho vợ (chồng) khi vợ chồng đang tồn tại hôn nhân mà khó có thể chấp nhận bán dần nhà ở hoặc chuyển quyền

sử dụng đất canh tác để lấy tiền cấp dưỡng cho

vợ hoặc chồng đP li hôn Hơn nữa, khi một người không có thu nhập thường xuyên mà cuộc sống chỉ nhờ vào khối tài sản sẵn có thì cuộc sống lâu dài của họ cũng khó có thể được bảo đảm Tục ngữ có câu "miệng ăn, núi lở", thiết nghĩ trong trường hợp này không thể xác

định rằng người đó có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng và vì vậy không thể buộc

họ phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

Như vậy, từ sự phân tích trên đây chúng tôi cho rằng người có khả năng để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho vợ hoặc chồng khi li hôn là người thuộc một trong các trường hợp sau:

- Có thu nhập thường xuyên mà thu nhập đó cao hơn mức sống trung bình của người đó và những người khác mà người đó

có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng

- Còn tài sản sau khi đP trừ đi chi phí thông thường cần thiết cho cuộc sống của người đó và của những người khác mà người đó có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng và việc sử dụng tài sản đó

để cấp dưỡng không ảnh hưởng đến cuộc sống lâu dài của bản thân người đó./

Ngày đăng: 31/03/2014, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w