1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia

21 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia
Người hướng dẫn Lê Thị Xuân Phương, Giảng viên
Trường học Trường Đại học Duy Tân
Chuyên ngành Luật Biển
Thể loại Bài tiểu luận
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 97,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN KHOA LUẬT BÀI TIỂU LUẬN MÔN LUẬT BIỂN ĐỀ TÀI CÁC VÙNG BIỂN THUỘC CHỦ QUYỀN QUỐC GIA Giảng viên hướng dẫn Lê Thị Xuân Phương Lớp Nhóm sinh viên thực hiện Đ[.]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN

KHOA LUẬT 

BÀI TIỂU LUẬN MÔN:

LUẬT BIỂN

ĐỀ TÀI:

CÁC VÙNG BIỂN THUỘC CHỦ QUYỀN QUỐC GIA

Giảng viên hướng dẫn: Lê Thị Xuân Phương

Lớp:

Nhóm sinh viên thực hiện:

Đà Nẵng

Trang 2

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 2

B CÁC VÙNG BIỂN THUỘC CHỦ QUYỀN QUỐC GIA 5

I Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia theo pháp luật quốc tế 5

1 Nội thủy 5

1.1 Khái niệm và cách xác định nội thủy 5

1.2 Các bộ phận nằm trong nội thủy 6

1.3 Chế độ pháp lý của nội thủy 7

2 Lãnh hải 8

2.1 Khái niệm và cách xác định lãnh hải 8

2.2 Chế độ pháp lí của lãnh hải 9

II Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia theo pháp luật Việt Nam.10 1 Nội thủy thuộc chủ quyền của Việt Nam 10

1.1 Hoạt động của tàu thuyền nước ngoài 10

1.2 Quyền tài phán trong nội thủy 12

2 Lãnh hải thuộc chủ quyền của Việt Nam 14

2.1 Hoạt động của tàu thuyền nước ngoài 15

2.2 Quyền tài phán trong lãnh hải 16

C KẾT LUẬN 19

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

Trang 3

A MỞ ĐẦU

Trước thềm thế kỷ XXI, nhân loại xác định, thế kỷ XXI là “Thế kỷ của đạidương” Và sự thật, trong sự phát triển toàn diện và mạnh mẽ của thế giới,trước hết tại các quốc gia có biển và hướng ra biển, hơn một thập niên vừaqua, đã chứng minh rất sinh động và đầy thuyết phục điều dự báo ấy

Trong lịch sử loài người, Cùng với sự xuất hiện của Nhà nước thì vấn đềnhân sinh là điều tất yếu để một Nhà nước tồn tại Với xu thế dân số của mỗiquốc gia ngày càng đông lên và đất đai ngày càng bị thu hẹp lại, thì quốc gia

đó phải đi xâm chiếm các vùng lân cận để quốc gia đó có thể tồn tại.Vấn đề

về nguồn nguyên liệu để phục vụ cho sự phát triển của đất nước càng ngàycàng khan hiếm ,các nước lớn mạnh đều dòm ngó các lãnh thổ nhỏ bé để cóthể bóc lột và khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên Họ tích cực chiếm lĩnhcác vùng đất, vùng biển và cả vùng trời Đặc biệt đáng lưu tâm là sự tranhchấp về các vùng biển ; cùng với đó là sự ý thức sâu sắc về tầm quan trọngcủa biển thì cần phải có cán cân hoạch định chung về vấn đề này Để có thểgiải quyết những vấn đề quan trọng về biển và cùng với đó là sự xung đột,tranh chấp lẫn nhau về các vùng biển giữa các quốc gia với nhau Lần đầutiên trong lịch sử, Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển quốc tế năm

1982 (gọi tắt là Công ước 1982) đã qui định một cách tổng thể các vấn đềpháp lý về: Chế độ pháp lý của các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủquyền và quyền tài phán quốc gia; Biển cả và đáy đại dương; Các qui định vềhàng hải, hàng không; Sử dụng và quản lý tài nguyên sinh vật biển; Bảo vệmôi trường biển; An ninh trên biển và hợp tác quốc tế về biển Theo quy địnhcủa Công ước của Công ước 1982), biển và đại dương được chia thành 03vùng (khu vực) có chế độ pháp lý khác nhau: Các vùng biển thuộc chủ quyềnquốc gia là Nội thủy và Lãnh hải; Các vùng biển thuộc quyền chủ quyền vàquyền tài phán quốc gia là Tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục

Trang 4

địa; Các vùng biển chung của cộng đồng quốc tế là Biển quốc tế và đáy đạidương Công ước Luật biển 1982, bằng việc đưa ra cách xác định cũng nhưquy chế pháp lý cho từng vùng biển đã phần nào giải quyết được vấn đề này.Luật biển quốc tế là một ngành luật độc lâp trong hệ thống pháp luật quốc tếbao gồm các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế được các chủ thểLuật quốc tế thỏa thuận xây dựng nhằm điều chỉnh cấc quan hệ phát sinhtrong hoạt động sử dụng biển, khai thác và bảo vệ môi trường Luật biển quốc

tế là một ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc tế, và có những đặc trưngsau: Đối tượng điều chỉnh của Luật quốc tế là những quan hệ hát sinh giữacác chủ thể trong phân định, khai thác biển, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môitrường biển.Cùng liên quan đến biển, nhưng khác với Luật Hàng hải, Luậtquốc tế chỉ xác định và xác lập chủ quyền quốc gia trên các vùng biển Chủthể của Luật Biển quốc tế là Luật quốc tế Nguồn của Luật Biển quốc tế làCông ước quốc tế về biển, các tập quán quốc tế và các phán quyết của Tòa ánquốc tế.Ngoài ra Luật biển còn có những nguyên tắc riêng Một trong nhữngnguyên tắc pháp lý quan trọng chứa đựng tập trung nhất các quy phạm phápluật quốc tế về biển là Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển năm 1982.Đó làkết quả của cuộc đấu tranh và nhường bộ giữa các nước đang phát triển(nhóm 77) với các cường quốc hàng hải, các quốc gia công nghiệp Công ướcquốc tế về Luật biển năm 1982 đã quy định một trật tự pháp lý mới trên biểnbao gồm các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia và các vùng biển nằmngoài quyền tài phán quốc gia Luật Biển quốc tế không chỉ quy định quyền

và nghĩa vụ của các quốc gia có biển mà còn quy định quyền và nghĩa vụ củacác quốc gia không có biển trong hoạt động phân chia, khai thác, sử dụng vàbảo vệ môi trường

Trong chiến lược phát triển kinh tế của nước ta hiện nay và trong tương lai,biển Đông ngày càng chiếm một vị trí quan trọng Đi cùng với những thuậnlợi nhất định thì chúng ta cũng gặp phải rất nhiều khó khăn và hàng loạt vấn

Trang 5

đề đặt ra trong quá trình khai thác các tiềm năng của biển đông hiện nay Mộttrong những khó khăn tồn tại là việc khẳng định và bảo vệ chủ quyền trên cácvùng biển của nước ta.

Nhằm có 1 cách nhìn sâu sắc và toàn diện về vấn đề này nhóm chúng tôi xin

đi sâu phân tích vấn đề: “Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia” Vì lượngkiến thức và trình độ chuyên môn có hạn nên trong bài làm không khó tránhkhỏi những sai sót Rất mong nhận được sự đóng góp từ cô và bạn đọc để bàiviết thêm hoàn chỉnh hơn

Trang 6

B CÁC VÙNG BIỂN THUỘC CHỦ QUYỀN QUỐC GIA

I Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia theo pháp luật quốc tế

Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia là các vùng biển nằm phía trongđường biên giới quốc gia trên biển và là một bộ phận cấu thành lãnh thổ củaquốc gia ven biển Như vậy, trong số các vùng biển chỉ có nội thủy và lãnhhải là lãnh thổ biển của quốc gia ven biển

1 Nội thủy

1.1 Khái niệm và cách xác định nội thủy

Vùng nội thủy trong tiếng Anh được hiểu là Internal Waters hay còn gọivùng nước nội địa là toàn bộ vùng nước và đường thủy nằm phía bên trongđường cơ sở để tính chiều rộng của lãnh hải và giáp với bờ biển Đường cơ sở

do quốc gia ven biển quy định vạch ra Từ đó trở vào gọi là nội thủy, từ đótrở ra gọi là lãnh hải

Theo quy định của luật biển quốc tế và pháp luật của các quốc gia, nộithủy thuộc chủ quyển hoàn toàn và tuyệt đối của quốc gia ven biển, chủ

quyền này được thực hiện cả ở phần nước nội thuỷ, đáy biển và lòng đất dưới

đáy biển cũng như vùng trời trên nội thủy

Theo Công ước Biển 1982, “Vùng nước phía bên trong đường cơ sở củalãnh hải thuộc nội thủy của quốc gia”

Như vậy, nội thủy của quốc gia ven biển chính là vùng nước biển có chiềurộng được xác định bởi một bên là đường bờ biển còn bên kia là đường cơ sởdùng để tính chiều rộng của lãnh hải và các vùng biển của quốc gia ven biển Đường cơ sở được xác định dựa vào ngấn nước thủy triều xuống thấp nhấtdọc theo chiều hướng chung của bờ biển hoặc đường thẳng gãy khúc nối liềncác mũi, các đỉnh, các đảo ven bờ để làm cơ sở tính chiều rộng của lãnh hải

Có hai phương pháp để xác định đường cơ sở: phương pháp đường cơ sởthông thường và phương pháp đường cơ sở thẳng

Trang 7

Phương pháp đường cơ sở thông thường: áp dụng đối với các quốc gia có

bờ biển thẳng, bằng phẳng, không có các đoạn lồi lõm ven bờ và ngấn nướcthủy triều xuống thấp nhất thể hiện rõ ràng

Phương pháp đường cơ sở thẳng: áp dụng đối với các quốc gia có bờ biểnkhoét sâu và lồi lõm hoặc có một chuỗi đảo nằm sát và chạy dọc theo bờ biểnhoặc bờ biển cực kỳ không ổn dịnh do một châu thổ và những đặc điểm tựnhiên khác

1.2 Các bộ phận nằm trong nội thủy

Nội thủy là vùng biển gần ngay sát bờ biển, bao gồm cả vùng nước cảngbiển và vùng nước bên trong đường đóng cửa vịnh Nội thủy không bao gồmvùng nước hay hồ nước bên trong lãnh thổ đất liền, như các hồ Dầu Tiếng củaViệt Nam, Biển Hồ của Campuchia hay Biển Caspia Trong đó:

Cảng biển: là cảng dùng cho tàu biển thường xuyên ra vào nhằm mục đíchngoại thương

Vũng đậu tàu: Các vũng tàu được dùng thường xuyên vào việc xếp dỡhàng hóa và làm khu neo tàu, bình thường nằm hoàn toàn hoặc một phần ởranh giới bên ngoài của lãnh hải cũng được coi như là một bộ phận của lãnhhải

Vịnh: được hiểu là một lõm sâu rõ rệt vào đất liền mà chiều sâu của vùnglõm đó so sánh với chiều rộng ở ngoài cửa của nó đến mức là nước của vùnglõm đó được bờ biển bao quanh và vùng đó lõm sâu hơn là một sự uốn congcủa bờ biển Tuy nhiên, một vũng lõm chỉ được coi là một vịnh nếu như diệntích của nó ít nhất cũng bằng diện tích của một nữa vòng tròn có đường kính

là đường thẳng kẻ ngang qua cửa vào của vùng lõm

Vịnh lịch sử và vùng nước lịch sử:

Vịnh lịch sử gắn với một danh nghĩa lịch sử được hình thành quathực tiễn hoạt động của quốc gia và có sự thừa nhận của các quốc giakhác

Trang 8

Vùng nước lịch sử là vùng nước thuộc các biển, vịnh, vũng tàu, eobiển… tuy cửa ra vào rộng hơn 24 hải lý nhưng vẫn được thừa nhận.

1.3 Chế độ pháp lý của nội thủy

Nội thủy là vùng biển gắn liền, là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia Do

đó, quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn và tuyết đối

Chế độ hoạt động của tàu thuyền nước ngoài trong vùng nội thủy:

 Đối với tàu quân sự và tàu nhà nước sử dụng vào mục đích phithương mại Về nguyên tắc, tàu quân sự và tàu nhà nước sử dụngvào mục đích phi thương mại muốn vào nội thủy ven biển phải xinphép trước; tuân thủ các quy định của quốc gia ven biển về thờigian, tuyến đường hàng hải, hoa tiêu, kiểm dịch, y tế, hải quan, bảo

vệ môi trường, quay phim, chụp ảnh…

 Đối với tàu dân sự: cũng áp dụng như tàu quân sự, tuy nhiên để đápứng các yêu cầu về kinh tế, thương mại…pháp luật các quốc gia đềuquy định và tạo thuận lợi cho tàu dân sự nước ngoài ra vào một sốcảng của quốc gia ven biển

Quyền tài phán của quốc gia ven biển trong nội thủy

 Đối với tàu quân sự và tàu nhà nước sử dụng vào mục đích phithương mại: khi hoạt động ở bất cứ vùng biển nào thì tàu quân sựnước ngoài sẽ được hưởng quyền miễn trừ tuyệt đối và bất khả xâmphạm

Tuy nhiên, trong trường hợp tàu quân sự nước ngoài có hành vi sửdụng vũ lực, phá hoại an ninh, trật tự quốc gia ven biển thì quốc giaven biển có quyền yêu cầu tàu đó ra khỏi vùng nội thủy trong mộtthời gian nhất định; yêu cầu quốc gia mà tàu đó mang quốc tịchphải áp dụng chế tài nghiêm khắc đối với thủy thủ đoàn vi phạm;yêu cầu quốc gia có tàu phải bồi thường thiệt hại do hành vi viphạm của tàu đó gây ra

Trang 9

 Đối với tàu dân sự:

Quyền tài phán dân sự: tòa án của quốc gia ven biển không có thẩmquyền giải quyết các tranh chấp dân sự xảy ra trên tàu Tuy nhiên,nếu tàu dân sự không có khả năng thực hiện một nghĩa vụ dân sựliên quan đến bồi thường thiệt hại do đâm va, do hành vi gây ônhiễm môi trường cố ý và nghiêm trọng, do vi phạm hợp đồng… thìquốc gia ven biển có thể thực hiện quyền bắt giữ và bán đấu giá tàu

để đảm bảo cho quá trình giải quyết vụ án dân sự

Quyền tài phán hình sự: quốc gia ven biển có thẩm quyền xét xử đốivới các vụ vi phạm hình sự xảy ra trên tàu dân sự nước ngoài đanghoạt động tron vùng nội thủy

Quyền tài phán hành chính: quốc gia ven biển tiến hành điều tra,xem xét các vụ vi phạm hành chính và các quy định khác của quốcgia ven biển liên quan đến việc ra vào, hoạt động trong nội thủyquốc gia ven biển

2 Lãnh hải

2.1 Khái niệm và cách xác định lãnh hải

Theo Công ước Biển 1982, lãnh hải là vùng biển có chiều rộng nhất địnhnằm ở phía ngoài đường cơ sở thuộc chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ của quốcgia ven biển Chủ quyền của quốc gia ven biển bao trùm cả lớp nước biển,đáy biển, lòng đất dưới đáy biển và vùng trời trên lãnh hải, ranh giới phíangoài của lãnh hải chính là đường biên giới quốc gia trên biển

Chiều rộng của lãnh hải không vượt quá 12 hải lý kể từ đường cơ sở Trường hợp thứ nhất, đối với các quốc gia không đối diện, không tiếp giápvới các quốc gia khác trên biển, quốc gia sẽ căn cứ vào đặc điểm địa hình của

bờ biển và các quy định của Công ước 1982 để xác định đường cơ sở vàtuyên bố chiều rộng của lãnh hải

Trang 10

Trường hợp thứ hai, khi hai quốc gia có bờ biển liền kề hoặc đối diện nhaukhông quốc gia nào được quyền mở rộng lãnh hải ra quá đường trung tuyền

mà mọi điểm nằm trên đó cách đều các điểm gần nhất của đường cơ sở dùng

để tính chiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia, trừ khi có thỏa thuận ngược lại.Tuy nhiên, quy định này không áp dụng trong trường hợp có có những danhnghĩa lịch sử hoặc có các hoàn cảnh đặc biệt khác cần phải hoạch định ranhgiới lãnh hải của hai quốc gia một cách khác

2.2 Chế độ pháp lí của lãnh hải

Trong vùng lãnh hải quyền “đi qua không gây hại” của tàu thuyền nướcngoài được thừa nhận Đây là một quy tắc tập quán quốc tế đã được thừanhận từ lâu trong lĩnh vực hàng hải quốc tế và ngày nay trở thành quy tắcđiều ước được quy định trong Công ước viên

Để bảo vệ cho tàu thuyền qua lại và các quyền của mình, quốc gia venbiển có thể quy định việc đi qua không gây hại ở trong lãnh hải của mình phùhợp với các quy định của Công ước và các quy tắc khác của pháp luật quốc tế

về các vấn đề: an toàn hàng hải và điều phối giao thông đường biển; bảo vệcác thiết bị và các hệ thống bảo đảm hàng hải, các thiết bị hay công trìnhkhác; bảo vệ đường dây cáp và ống dẫn…

Mặt khác, quốc gia ven biển không được cản trở quyền đi qua không gâyhại của tàu thuyền nước ngoài đồng thời phải thông báo thích đáng mọi nguyhiểm về hàng hải mà mình biết trong lãnh hải của mình

Quyền tài phán của quốc gia ven biển trong lãnh hải

 Đối với tàu dân sự

Quyền tài phán hình sự: quốc gia ven biển không được thực hiệnquyền tài phán hình sự của mình trên một tàu nước ngoài đi qua lãnh hải

để tiến hành việc bắt giữ, dự thẩm sau một vụ vi phạm hình sự xảy ra trêncon tàu khi nó đi qua lãnh hải trừ các trường hợp sau đây: nếu hậu quả của

vụ vi phạm đó mở rộng đến quốc gia ven biển, nếu vụ vi phạm đó phá

Trang 11

hoại hòa bình của đất nước hay trật tự trong lãnh hải; nếu thuyền trưởnghay viên chức ngoại giao hay viên chức lãnh sự của quốc gia mà tàu mang

cờ yêu cầu sự giúp đỡ của nhà đương cục địa phương; nếu các biện phápnày là cần thiết để trấn áp bọn buôn lậu chất ma túy hay các chất kíchthích

Quyền tài phán dân sự: quốc gia ven biển có quyền tài phán dân sự đốivới tàu thuyền nước ngoài đang đậu trong lãnh hải hay đi qua lãnh hải, saukhi rời khỏi nội thủy ven biển đối với các ngĩa vụ dân sự của con tàu màtàu này không thực hiện hoặc thực hiện không đúng theo thỏa thuận với cơquan có thẩm quyền của quốc gia ven biển

 Đối với tàu quân sự:

Tàu quân sự và tàu nhà nước sử dụng vào mục đích phi thương mạiđược hưởng quyền miễn trừ khi đi qua lại trong lãnh hải quốc gia venbiển Tuy nhiên, các loại tàu này cũng phải tuân thủ các luật và quy địnhcủa quốc gia ven biển liên quan đến việc qua lại do quốc gia ven biển ấnđịnh Đồng thời, nếu có vi phạm các luật và quy định của quốc gia venbiển, thì quốc gia ven biển có quyền yêu cầu tàu đó rời khỏi lãnh hải ngaylập tức và yêu cầu quốc gia mà tàu đó mang quốc tịch phải chịu mọi tráchnhiệm quốc tế đối với mọi tổn thất mà tàu đó gây ra cho quốc gia venbiển

II Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia theo pháp luật Việt Nam

1 Nội thủy thuộc chủ quyền của Việt Nam

Theo Điều 9 Luật Biển Việt Nam năm 2012:

Nội thủy là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía trong đường cơ sở và

là bộ phận lãnh thổ của Việt Nam.

Theo đó, nội thủy của Việt Nam bao gồm: biển nội địa, các cửa sông,vũng, vịnh, cảng biển và các vùng nước ở khoảng giữa bờ biển và đường cơsở; trong đó, vùng nước lịch sử cũng thuộc chế độ nội thủy

Ngày đăng: 26/02/2023, 18:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w