TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT o0o TIỂU LUẬN ĐỀ TÀI PHÁP LUẬT VỀ HẠN CHẾ CẠNH TRANH ĐỐI VỚI CÁC HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI LỚP HỌC PHẦN Giảng viên hướng dẫn ThS Trần Anh Tú Ngành Luật[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT o0o
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI : PHÁP LUẬT VỀ HẠN CHẾ CẠNH TRANH ĐỐI VỚI CÁC HỢP
ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
LỚP HỌC PHẦN:
Giảng viên hướng dẫn : ThS Trần Anh Tú Ngành : Luật Kinh Doanh
Trang 2Hà Nội
MỞ ĐẦU 2
1 Tính cấp thiết của đề tài: 2
2 Mục đích nghiên cứu đề tài: 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 3
4 Phương pháp nghiên cứu: 3
5 Kết cấu tiểu luận: 4
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT HẠN CHẾ CẠNH TRANH ĐỐI VỚI CÁC HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI 4
I Những vấn đề lý luận chung về hợp đồng và hoạt động nhượng quyền thương mại: 4 1 Khái niệm nhượng quyền thương mại: 5
2 Đặc điểm của nhượng quyền thương mại: 5
II Nội dung các vấn đề về pháp luật hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại: 6
1 Khái niệm hạn chế cạnh tranh trong nhượng quyền thương mại: 6
2 Nội dung pháp luật về hạn chế cạnh tranh trong nhượng quyền thương mại: 7
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HẠN CHẾ CẠNH TRANH ĐỐI VỚI CÁC HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI 8
I Thực trạng thực thi pháp luật về hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại: 8
II Thực trạng thực thi pháp luật về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trong hoạt động nhượng quyền thương mại: 12
CHƯƠNG III MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LUẬT VỀ HẠN CHẾ CẠNH TRANH ĐỐI VỚI CÁC HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI 14
I Định hướng hoàn thiện khung pháp luật về hạn chế cạnh tranh đối với các hợp đồng nhượng quyền thương mại: 14
II Giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện khung pháp luật về hạn chế cạnh tranh đối với các hợp đồng nhượng quyền thương mại: 16
KẾT LUẬN 17
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại có tốc độ phát triển cao trênthế giới, được sử dụng trong hơn 60 lĩnh vực kinh doanh khác nhau hiện nay Hoạtđộng nhượng quyền thương mại, với những đặc thù của nó, đã thiết lập nên nhữngmối quan hệ đặc biệt giữa các bên chủ thể tham gia, ở đó nhiều ngoại lệ của quan
hệ thương mại trong môi trường có pháp luật cạnh tranh được chấp nhận
Với tính chất cùng sử dụng quyền thương mại của một chủ sở hữu để cùng kinhdoanh đã dẫn đến hệ quả là phát sinh một cách tất nhiên nhu cầu bảo vệ tối đa
“quyền thương mại” của bên nhượng quyền trước những rủi ro có thể xảy đến từbên nhận quyền Vì vậy, trong chừng mực nhất định, pháp luật cạnh tranh có sự chiphối nhất định tới quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương mại
2 Mục đích nghiên cứu đề tài:
Nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn của các quy định pháp lý điều chỉnh về hạnchế cạnh tranh đối với các hợp đồng nhượng quyền thương mại
Nghiên cứu làm rõ khái niệm và khung pháp luật cho hạn chế cạnh tranh đối vớicác hợp đồng nhượng quyền thương mại Phân tích thực trạng thực thi các hành vihạn chế cạnh tranh đối với các hợp đồng nhượng quyền thương mại tại Việt Nam.Đưa ra những kiến nghị và giải pháp hoàn thiện khung pháp lý về hạn chế cạnhtranh đối với các hợp đồng nhượng quyền thương mại
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng: khung pháp lý và thể chế về hạn chế cạnh tranh đối với với các hợpđồng nhượng quyền thương mại
Phạm vi nghiên cứu của tiểu luận chỉ tập trung chủ yếu vào các những nội dunghạn chế cạnh tranh đối với các hợp đồng nhượng quyền thương mại theo Luật
Trang 4Cạnh tranh 2018, Luật Thương mại 2005; Nghị định số 35/2020/NĐ-CP quy địnhchi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh.
4 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ trên, tiểu luận chủ yếu sử dụng phương phápnghiên cứu bao gồm:
Chương I của tiểu luận sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp
Chương II của tiểu luận về thực trạng pháp luật sử dụng chủ yếu phương pháp liệt
kê và dùng số liệu
Chương III là chương cuối cùng của tiểu luận, sử dụng phương pháp so sánh, tưduy phản biện để đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về hạn chế cạnh tranhđối với các hợp đồng nhượng quyền thương mại
5 Kết cấu tiểu luận:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục nội dung thìniên luận này bao gồm ba phần chính:
Chương I Những vấn đề lý luận chung về pháp luật hạn chế cạnh tranh đối với cáchợp đồng nhượng quyền thương mại
Chương II Thực trạng pháp luật về hạn chế cạnh tranh đối với các hợp đồngnhượng quyền thương mại
Chương III Một số kiến nghị và giải pháp hoàn thiện khung pháp luật về hạn chếcạnh tranh đối với các hợp đồng nhượng quyền thương mại
Trang 5CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT HẠN CHẾ CẠNH TRANH ĐỐI VỚI CÁC HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
I Những vấn đề lý luận chung về hợp đồng và hoạt động nhượng
quyền thương mại:
1 Khái niệm nhượng quyền thương mại:
Giống như các loại hợp đồng thương mại khác, nội dung của hợp đồng nhượngquyền thương mại cũng thể hiện các quyền và nghĩa vụ tương ứng của các bên, tuynhiên, với những đặc thù nhất định của hoạt động nhượng quyền thương mại nênhợp đồng nhượng quyền thương mại có những điểm khác biệt với các loại hợpđồng khác, kể cả đối với hợp đồng đại lý Chủ thể của hợp đồng nhượng quyềnthương mại là các thương nhân có quyền kinh doanh độc lập, hoạt động kinh doanhtheo mô hình mạng lưới thống nhất về hành động của bên nhượng quyền và cácbên nhận quyền, để đảm bảo lợi ích của bên nhượng quyền và các bên nhận quyềnkhác Các bên nhận quyền phải tuân thủ trung thành mô hình nhượng quyềnthương mại, khai thác bí quyết một cách nhất quán trong mạng lưới nhượng quyềnthương mại, phải trả phí khai thác lợi ích cho bên nhượng quyền và phí sử dụngthương hiệu trong suốt thời gian nhận quyền (đối với các hợp đồng đại lý, bênnhận đại lý không phải thực hiện nghĩa vụ này) Bên nhượng quyền có quyền kiểmsoát bên nhận quyền trong việc tuân thủ trung thành mô hình nhượng quyềnthương mại (bên đại lý cũng không có quyền kiểm soát này đối với bên nhận đạilý)
Tại Việt Nam, hoạt động nhượng quyền thương mại chính thức được điều chỉnhbởi Điều 284 – 291 Luật Thương mại năm 2005 (LTM 2005) cùng các quy địnhdưới luật như Nghị định số 35/2006/NĐ-CP quy định chi tiết về nhượng quyềnthương mại và Thông tư số 09/2006/TT-BTM hướng dẫn đăng ký nhượng quyềnthương mại Theo đó, Điều 284, Luật Thương mại 2005 đã quy định: Nhượng
Trang 6quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép
và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứngdịch vụ
2 Đặc điểm của nhượng quyền thương mại:
Nhượng quyền thương mại là hoạt động thường chứa đựng các yếu tố dẫn đếnhành vi hạn chế cạnh tranh Điều này được thể hiện ở chỗ, các bên trong hệ thốngnhượng quyền là các chủ thể độc lập nhau về mặt tư cách pháp lý và tài chính,trong khi họ lại cùng kinh doanh một loại sản phẩm theo một phương thức giốngnhau, dẫn tới họ cùng tiếp cận chung một đối tượng khách hàng Do vậy, để thuhút khách hàng về phía mình, các bên trong hệ thống nhượng quyền sẽ tìm mọicách cạnh tranh với nhau trên mọi phương diện (như: giá cả, chất lượng, phươngthức cung ứng dịch vụ, chế độ chăm sóc khách hàng…), khi đó tính đồng bộ trong
hệ thống nhượng quyền thương mại có khả năng bị phá vỡ Chính vì vậy, nếu giữacác bên không có ràng buộc nhằm cấm hoặc hạn chế cạnh tranh trong hệ thống thìđương nhiên hành vi cạnh tranh giữa các bên trong hệ thống nhượng quyền sẽ tấtyếu phát sinh và tính đồng bộ của hệ thống nhượng quyền theo đó cũng không giữvững được (Nguyễn Thị Tình, 2015, tr 38)
Trang 7II Nội dung các vấn đề về pháp luật hạn chế cạnh tranh trong hoạt
động nhượng quyền thương mại:
1 Khái niệm hạn chế cạnh tranh trong nhượng quyền thương mại:
Theo Khoản 2 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2018 thì hành vi hạn chế cạnh tranh được
hiểu là “hành vi gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh, bao gồm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và lạm dụng vị trí độc quyền.” Theo đó, có thể hiểu hành vi hạn chế cạnh
tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại bao gồm các hoạt động mà trong
đó hạn chế một chủ thể trên thị trường mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ bằngcác hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh hoặc lạmdụng vị trí độc quyền thị trường
Hành vi hạn chế cạnh tranh vừa có thể có tác động tích cực lẫn tác động tiêu cựclên thị trường, điều này phụ thuộc vào từng tình huống cũng như hoàn cảnh cụ thể,tuy nhiên nhìn chung, đặc tính cạnh tranh là đặc tính tất yếu, không thể loại bỏ củathị trường, việc hạn chế cạnh tranh trong nhượng quyền thương mại thường xuấthiện khi thị trường có yếu tố:
Một là, thương nhân có nhu cầu tối đa hoá lợi nhuận và chiếm càng nhiều thịphần càng tốt
Hai là, cần phải có sự đảm bảo tính đồng bộ trong hệ thống nhượng quyền
2 Nội dung pháp luật về hạn chế cạnh tranh trong nhượng quyền thương mại:
Từ góc nhìn cơ bản của pháp luật, có thể hiểu pháp luật về hạn chế cạnh tranhtrong nhượng quyền thương mại là tổng thể các quy phạm pháp luật được Nhànước ban hành để điều chỉnh các chủ thể và quan hệ trong hành vi hạn chế cạnhtranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại
Trang 8Nội dung pháp luật hạn chế cạnh tranh trong quan hệ nhượng quyền thương mạiđược thể hiện ở hệ thống các quy định nhằm kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranhtồn tại dưới các hình thức thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hoặc lạm dụng vị trí thốnglĩnh, vị trí độc quyền trên thị trường của các bên trong hoạt động nhượng quyềnthương mại Xuất phát từ bản chất, phạm vi khởi phát của hành vi trong phạm vi hệthống nhượng quyền, cũng như giới hạn nghiên cứu của Luận án, pháp luật hạnchế cạnh tranh trong quan hệ nhượng quyền thương mại bao gồm hệ thống các quyphạm điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh trong quan hệ nhượng quyền thươngmại và thường tập trung điều chỉnh các nhóm hành vi thoả thuận hạn chế cạnhtranh và hành vi lạm dụng thống lĩnh thị trường.
Về khái niệm, thoả thuận hạn chế cạnh tranh được quy định trong Khoản 4 Điều 3
Luật Cạnh tranh 2018 là “hành vi thỏa thuận giữa các bên dưới mọi hình thức gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh.”
Theo quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam, doanh nghiệp có từ 30% thị phầntrên thị trường liên quan hoặc có sức mạnh thị trường đáng kể được coi là doanhnghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường Bên cạnh đó, một nhóm các doanh nghiệpcũng có thể bị coi là chiếm vị trí thống lĩnh nếu cũng hành động gây tác động hạnchế cạnh tranh và có sức mạnh thị trường đáng kể hoặc có tổng thị phần của cácdoanh nghiệp đó trên thị trường liên quan (không bao gồm doanh nghiệp có thịphần ít hơn 10% thị trường liên quan) đạt từ: 50% đối với hai doanh nghiệp; 65%đối với ba doanh nghiệp; 75% đối với bốn doanh nghiệp; 85% đối với năm doanhnghiệp Việc xác định thị phần của các doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp đểnhận diện vị trí thống lĩnh phụ thuộc vào việc xác định thị trường liên quan
Luật Cạnh tranh Việt Nam giải thích (khoản 7 Điều 3): thị trường liên quan là thịtrường của những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích
Trang 9sử dụng và giá cả trong khu vực địa lý cụ thể có các điều kiện cạnh tranh tương tự
và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực địa lý lân cận Thị trường liên quanđược xác định trên cơ sở thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liênquan (khoản 1 Điều 9 Luật Cạnh tranh năm 2018)
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HẠN CHẾ CẠNH TRANH ĐỐI VỚI CÁC HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
I Thực trạng thực thi pháp luật về hạn chế cạnh tranh trong hoạt động
nhượng quyền thương mại:
Theo Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng (Bộ Công Thương), tính đến hếtnăm 2019, có gần 400 hồ sơ khiếu nại, trong đó hơn 200 vụ đã được điều tra, xử lý.Các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh thường diễn ra dưới nhiều hình thức, theonhiều dạng khác nhau Thông qua xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh,các cơ quan quản lý đã thu về cho ngân sách nhà nước với tổng số tiền phạt và chiphí xử lý đáng kể Nếu năm 2018, tổng số tiền phạt là 85 triệu đồng, thì năm 2019,tổng số tiền phạt đã tăng lên gần gấp 10 lần (tương đương 805 triệu đồng, đến năm
2017 là 2,114 tỷ đồng) Như vậy, số vụ vi phạm cạnh trạnh tranh không lành mạnhkhông chỉ dừng lại như con số công bố chính thức hiện nay Điều này đồng nghĩavới việc số tiền xử phạt vi phạm cạnh tranh không lành mạnh sẽ tăng lên một khicác chế tài mới được áp dụng từ ngày 1/12/2019 theo Nghị định số 75/2019/NĐ-
CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh
Trang 10Theo khảo sát, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động nhượngquyền thương mại trên thị trường hiện nay phổ biến dưới các dạng như: áp đặt thoảthuận về giá bán, dịch vụ; áp đặt thoả thuận phân chia lãnh thổ nhượng quyền; ápđặt thoả thuận cung ứng nguồn nguyên liệu, sản phẩm, dịch vụ kèm theo;
Cụ thể trong phạm vi dịch vụ ăn uống, với đặc điểm riêng biệt là toàn bộ sản phẩmkinh doanh phải thống nhất một giá bán, người tiêu dùng nhận biết sản phẩm yêuthích thông qua mức giá bán ra bên cạnh các yếu tố khác, như khẩu vị sản phẩm,cách thức bày trí sản phẩm và cả về lượng sản phẩm phục vụ cho người tiêu dùng
Do vậy, bên nhượng quyền luôn đề ra “thỏa thuận” yêu cầu bên nhận quyền chỉcung ứng sản phẩm theo đúng mức giá đã được ấn định
Hành vi thỏa thuận giá bán trong nhượng quyền thương mại được thực hiện dướicác hình thức sau:
Một là, bên nhượng quyền thỏa thuận với các bên nhận quyền giá bán cố định củasản phẩm Nghĩa là bên nhượng quyền đưa ra giá bán sản phẩm và yêu cầu bắtbuộc các bên nhận quyền bán cho người tiêu dùng với mức giá cố định đó
Hai là, bên nhượng quyền thỏa thuận cho bên nhận quyền mức giá bán lại tối đacho sản phẩm Nghĩa là bên nhận quyền được quyền bán sản phẩm với mức giákhông cao hơn mức giá mà bên nhượng quyền cho phép
Ba là, bên nhượng quyền thỏa thuận cho các bên nhận quyền về giá bán lại tốithiểu cho sản phẩm Nghĩa là bên nhận quyền được quyền bán sản phẩm với mứcgiá không được thấp hơn mức giá mà bên nhượng quyền cho phép trong thỏathuận
Trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ ăn uống, bên nhượng quyền thỏa thuận với cácbên nhận quyền về giá bán lại cố định cho sản phẩm khi bán ra cho người tiêudùng Giá bán lúc này sẽ thống nhất, đồng bộ trong toàn hệ thống nhượng quyền,không phân biệt sự khác nhau về vị trí địa lý Hành vi thỏa thuận giá bán xuất phát
Trang 11từ các doanh nghiệp trong cùng thị trường kinh doanh dịch vụ ăn uống và do đó,thỏa thuận này có thể bị cấm theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Cạnh tranhnăm 2018 (Luật Cạnh tranh) Nhưng hành vi thỏa thuận ấn định giá bán lại đượcxem là thỏa thuận hợp lý trong NQTM và sự thỏa thuận này có gây ra hạn chế cạnhtranh về giá bán đối với bên thứ hai mới là yếu tố cần xem xét.
Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) vừa công bố tờ trình bổ sung 9 ngànhnghề kinh doanh, trong đó có dịch vụ phục vụ đồ uống liên quan đến thương hiệuHi-café Ban lãnh đạo Vinamilk cho biết, Công ty đang triển khai dự án mở chuỗicửa hàng bán lẻ cà phê, đồ uống và một số thức ăn kèm với thương hiệu "Hi-café".Một cửa hàng đã được mở từ năm 2019 tại quận 7, TP.HCM
“Trong thời gian thử nghiệm và đánh giá hiệu quả của hệ thống này, Công ty triểnkhai kinh doanh thông qua hợp tác với một đối tác có đủ năng lực và ngành nghềphù hợp Trong năm 2020 và các năm kế tiếp, Vinamilk dự kiến phát triển mở rộngchuỗi cửa hàng này tại nhiều địa điểm khác nhau và trực tiếp triển khai vận hànhhoạt động kinh doanh", đại diện Vinamilk cho biết
Giới phân tích trong ngành đánh giá, sự tham gia của Vinamilk với chuỗi Hi-café
sẽ làm thị trường F&B (Food and Beverage Service - thực phẩm và dịch vụ ănuống) trở lên nóng bỏng hơn
Trước Hi-café, thương hiệu cà phê Ông Bầu cũng đã ra mắt và gây sốt thị trường.Chuỗi Ông Bầu được xây dựng bởi 3 doanh nhân lớn, yêu thích và gắn liền vớibóng đá Việt Nam gồm ông Đoàn Nguyên Đức, Chủ tịch Tập đoàn Hoàng Anh GiaLai; ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Công ty cổ phần Đồng Tâm và ông Trần ThanhHải, Chủ tịch Công ty Nutifood Quán cà phê đầu tiên được thử nghiệm thành côngvào tháng 2/2020 tại số 331 - Hoàng Diệu (quận 4, TP.HCM) Tính đến thời điểmnày, chuỗi cà phê Ông Bầu đã có khoảng 40 điểm bán đi vào hoạt động tại 10 tỉnh,