Microsoft Word 70 Lê ThË Bích NgÍc 18061107 TPQT INL2006 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN TƯ PHÁP QUỐC TẾ ĐỀ BÀI MỐI QUAN HỆ GIỮA THẨM QUYỀN RIÊNG BIỆT CỦA TOÀ ÁN VIỆT N[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN TƯ PHÁP QUỐC TẾ
ĐỀ BÀI: MỐI QUAN HỆ GIỮA THẨM QUYỀN RIÊNG BIỆT CỦA TOÀ ÁN VIỆT NAM VÀ THẨM QUYỀN CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI (TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI) THẨM QUYỀN RIÊNG BIỆT CỦA TOÀ ÁN VIỆT NAM CÓ LOẠI TRỪ THẨM QUYỀN CỦA TRỌNG TÀI KHÔNG?
Họ và tên sinh viên: Lê Thị Bích Ngọc
MSV: 18061107
Trang 22
Mục lục:
PHẦN I KHÁI QUÁT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 3
I Lý do lựa chọn đề tài 3
II Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 3
1 Mục đích nghiên cứu 3
2 Đối tượng nghiên cứu 3
3 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II NỘI DUNG ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 3
I Nội dung thẩm quyền riêng biệt của Toà án 3
1 Định nghĩa về thẩm quyền riêng biệt của Toà án 3
2 Thẩm quyền riêng biệt của Toà án Việt Nam 4
II Nội dung thẩm quyền của Trọng tài thương mại 6
1 Các quy định của pháp luật về thẩm quyền của trọng tài thương mại nước ngoài 7 2 Các quy định của pháp luật Việt Nam về thẩm quyền của Trọng tài thương mại 7 III Khái quát chung về Toà án riêng biệt và Trọng tài thương mại 8
1 Điểm giống nhau giữa Toà án riêng biệt và Trọng tài thương mại 8
2 Điểm khác nhau giữa Toà án và Trọng tài 8
3 Các tranh chấp có thể xảy ra giữa Toà án riêng biệt và Trọng tài thương mại 9 IV Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Toà án Việt Nam và thẩm quyền của Trọng tài thương mại 12
1 Mối quan hệ giữa thẩm quyền của Toà án riêng biệt và trọng tài thương mại ở nước ta 12
2 Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Toà án Việt Nam và thẩm quyền của Trọng tài thương mại nước ngoài 14
V Thẩm quyền riêng biệt của Toà án Việt Nam có loại trừ thẩm quyền của Trọng tài hay không? 17
PHẦN III KẾT LUẬN 18
Danh mục tài liệu tham khảo 20
Trang 3PHẦN I KHÁI QUÁT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
I Lý do lựa chọn đề tài
Trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, các tranh chấp về kinh doanh thương mại cũng ngày càng đa dạng và phức tạp Mặt khác khi nước ta đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), nhiều quan hệ kinh tế cũng mang diện mạo và sắc thái mới Tương ứng với
sự đa dạng phong phú của các quan hệ này, các tranh chấp kinh tế ngày càng muôn hình muôn
vẻ với số lượng lớn và để lựa chọn một hình thức giải quyết tranh chấp phù hợp để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tố tụng đó là một vấn đề lớn đặt ra cho mỗi chủ thể trong tranh chấp kinh doanh thương mại Việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại hay Toà án đều có nhưng ưu điểm và nhược điểm riêng, tuy nhiên mối quan hệ của phương thức giải quyết tranh chấp giữa Toà án và Trọng tài thương mại như thế nào trong quá trình tố tụng là vấn đề lớn đang được đặt ra hiện nay
II Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1 Mục đích nghiên cứu
- Đưa ra các vấn đề cơ bản về thẩm quyền riêng biệt của Toà án Việt Nam, thẩm quyền của trọng tài thương mại trong nước và nước ngoài
- Tìm hiểu về mối liên hệ giữa Toà án riêng biệt và Trọng tài thương mại trong và ngoài nước
- Nêu lên mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Toà án Việt Nam và thẩm quyền của trọng tài thương mại trong nước và nước ngoài
2 Đối tượng nghiên cứu
- Các quy định pháp luật như Luật trọng tài 2019, Bộ luật tố tụng dân sự 2015, pháp lệnh
về trọng tài,…
3 Phạm vi nghiên cứu
- Nguồn pháp luật Việt Nam như Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Luật trọng tài 2019, Pháp lệnh về trọng tài,…
PHẦN II NỘI DUNG ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
I Nội dung thẩm quyền riêng biệt của Toà án
1 Định nghĩa về thẩm quyền riêng biệt của Toà án
Thẩm quyền là tổng hợp các quyền mà pháp luật quy định cho một cơ quan, tổ chức hoặc một công chức được xem xét giải quyết những công việc cụ thể trong lĩnh vực mà phạm
vi nhất định nhằm thực hiện chức năng của bộ máy nhà nước Thẩm quyền của Toà án là toàn
Trang 44
bộ những quyền do pháp luật quy định, theo đó Toà án được tiến hành xem xét, giải quyết những vụ việc cụ thể theo quy định của pháp luật Thẩm quyền giải quyết các vụ việc, vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài của Toà án là thẩm quyền của Toà án được pháp luật quy định cho quyền giải quyết vụ việc phát sinh từ các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Thẩm quyền xét xử vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài của Toà án một nước phụ thuộc vào quy định của điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên về vấn đề này và pháp luật tố tụng dân sự của quốc gia đó Nhìn chung, thẩm quyền xét xử vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài của Toà án các nước có hai dạng: thẩm quyền xét xử chung và thẩm quyền xét xử riêng biệt
1.1 Thẩm quyền xét xử chung của Toà án
Thẩm quyền tài phán chung của Toà án một quốc gia là thẩm quyền đối với vụ việc
mà Toà án nước đó có quyền xét xử nhưng Toà án nước khác cũng có thể xét xử (điều này tuỳ thuộc vào tư pháp quốc tế của các nước có quy định là Toà án nước họ có thẩm quyền đối với những vụ việc như vậy không)
1.2 Thẩm quyền xét xử riêng biệt của Toà án
Thẩm quyền tài phán riêng biệt của Toà án một quốc gia là trường hợp quốc gia sở tại tuyên bố chỉ có Toà án nước đó mới có thẩm quyền xét xử đối với những vụ việc nhất định Nếu Toà án nước khác vẫn tiến hành xét xử đối với những vụ việc thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt thì hậu quả là bản án, quyết định được tuyên bởi Toà án nước khác sẽ không được công nhận và thi hành trên lãnh thổ nước sở tại Trong trường hợp này, kể cả bên chủ thể thoả thuận Toà án nước khác thì về nguyên tắc, Toà án nước đó cũng cần phải từ chối thụ lý vụ việc để tôn trọng thẩm quyền xét xử riêng biệt của quốc gia sở tại
2 Thẩm quyền riêng biệt của Toà án Việt Nam
Thẩm quyền xét xử riêng biệt là việc quốc gia sở tại tuyên bố chỉ có Toà án nước họ mới có thẩm quyền xét xử đối với một số vụ án nhất định Thông thường đó là những vụ án liên quan đến an ninh trật tự, lợi ích xã hội, lợi ích nhân thân của công dân Các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt của Toà án Việt Nam được quy định tại Điều 470 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Về nguyên tắc nếu các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt của Toà
án Việt Nam nếu Toà án quốc gia khác xét xử và ra phán quyết thì phán quyết đó không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
2.1 Thẩm quyền riêng biệt của Toà án Việt Nam trong giải quyết các vụ án dân sự có yếu
tố nước ngoài
Trang 5Theo Điều 470 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về thẩm quyền riêng biệt của Toà án Việt Nam thì những vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Toà án Việt Nam:
- Vụ án dân sự đó có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam;
Đây cũng là nguyên tắc chung được thừa nhận bởi nhiều quốc gia khi giải quyết tranh chấp dân sự liên quan đến bất động sản tại quốc gia mình Đối với Việt Nam nói riêng và nhiều quốc gia nói chung, bất động sản không chỉ liên quan đến lợi ích của các đương sự mà còn liên quan đến lợi ích cộng đồng quốc gia Mặt khác, bất động sản chịu sự quản lý nhà nước chặt chẽ Việc giải quyết tranh chấp tại Toà án nơi có bất động sản tạo điều kiện thuận lợi cho các bên đương sự cũng như Toà án trong việc xác định nơi có tài sản, giá trị tài sản cũng như đảm bảo việc quản lý bất động sản của quốc gia sở tại
- Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam
Theo quy định này, Toà án Việt Nam có thẩm quyền riêng biệt đối với vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch nếu cả hai vợ chồng đều thường trú ở Việt Nam, không tính đến việc đăng ký kết hôn ở Việt Nam hay ở nước ngoài Nếu đăng ký kết hôn ở nước ngoài thì việc đăng ký kết hôn đó đã được công nhận tại Việt Nam Việc giải quyết vụ án ly hôn có những tính chất đặc thù vừa mang yếu tố nhân thân vừa mang yếu tố nhân thân vừa mang yếu tố tài sản Các chứng cứ trong vụ án ly hôn cũng mang tính đặc thù Các căn cứ cho phép ly hôn phải dựa trên quá trình xem xét đời sống hôn nhân trong một thời gian dài Do đó, việc xem xét vụ án ly hôn mà vợ chồng đã có thời gian sinh sống, lâu đài tại Việt Nam sẽ thuộc thẩm quyền riêng biệt của Toà án Việt Nam
- Bên cạnh đó còn có vụ án dân sự khác mà các bên được lựa chọn Toà án Việt Nam để giải quyết theo pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và các bên đồng ý lựa chọn Toà án Việt Nam
2.2 Thẩm quyền riêng biệt của Toà án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
Theo quy định tại Điều 470 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp nhưng có yêu cầu Toà án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác yêu cầu
Trang 66
Toà án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động Những vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền riêng biệt của Toà án Việt Nam bao gồm:
- Các yêu cầu không có tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự: những vụ án có tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể và các chủ thể có đơn khởi kiện đến Toà án về các
vụ việc dân sự như tuyên bố mất tích, tuyên bố đã chết… là những yêu cầu không có tranh chấp, chỉ thể hiện ý chí của một bên đối với việc yêu cầu Toà án công nhận hoặc giải quyết một vấn đề
- Yêu cầu xác định một sự kiện pháp lý xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam: những sự kiện phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam và người yêu cầu có nhu cầu muốn được Toà án xác định sự hợp pháp của sự kiện pháp lý đó thì thẩm quyền sẽ thuộc về Toà án Việt Nam
- Tuyên bố công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị mất tích, đã chết nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác
- Tuyên bố công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị mất tích, đã chết nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam là thành viên có quy định khác
- Tuyên bố công dân nước ngoài, người không quốc tịch mất tịch, đã chết nếu họ có mặt ở Việt Nam tại thời điểm có sự kiện xảy ra mà sự kiện đó là căn cứ để tuyên bố một người mất tích, đã chết và việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của
họ trên lãnh thổ Việt Nam
- Công nhận tài sản có trên lãnh thổ Việt Nam là vô chủ, công nhận quyền sở hữu của người đang quản lý đối với tài sản vô chủ trên lãnh thổ Việt Nam
Như vậy, thẩm quyền riêng biệt của Toà án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân
sự có yếu tố nước ngoài được quy định rõ đối với từng vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài, vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Toà án ngoài có thẩm quyền xét xử riêng biệt đối với những
vụ án liên quan đến an ninh trật tự, lợi ích xã hội, lợi ích nhân thân của công dân, tức việc quốc gia sở tại tuyên bố chỉ có Toà án nước họ mới có thẩm quyền xét xử đối với một số vụ
án nhất định
II Nội dung thẩm quyền của Trọng tài thương mại
Toà án là cơ quan có chức năng xét xử, phân định đúng sai, đem lại công bằng cho các chủ thể và phương thức giải quyết tranh chấp tại Toà án được coi là có hiệu quả và triệt để
Trang 7nhất Tuy nhiên, ngày nay các bên tranh chấp thường ưu tiên việc lựa chọn Trọng tài bởi phương thức này dựa trên sự thoả thuận của các bên Pháp luật hiện hành cũng quy định các trường hợp được phép giải quyết thông qua hình thức Trọng tài thương mại và cách thức giải quyết
1 Các quy định của pháp luật về thẩm quyền của trọng tài thương mại nước ngoài Việt Nam gia nhập Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành quyết định của Trọng tài thương mại từ năm 1995 Ngay khi trở thành thành viên chính thức của Công ước New York 1958, Việt Nam đã gấp rút chuyển hoá các điều khoản của Công ước này vào trong nền pháp chế của mình Bằng chứng là tại Pháp lệnh Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài (Pháp lệnh 1995) đã được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 14/09/1995 Có thể nêu ra tính chất nước ngoài hay trong nước của phán quyết Trọng tài theo tinh thần Pháp lệnh 1995 trong bốn trường hợp sau:
- Phán quyết do trọng tài nước ngoài lập ngoài lãnh thổ Việt Nam là phán quyết nước ngoài
- Phán quyết do trọng tài Việt Nam lập ngoài lãnh thổ Việt Nam là phán quyết nước ngoài
- Phán quyết do trọng tài nước ngoài lập tại Việt Nam là phán quyết nước ngoài
- Phán quyết do trọng tài Việt Nam lập ở Việt Nsm là phán quyết trong nước
Cho dù cách diễn dịch không hoàn toàn chính xác với Công ước New York 1958 đã dẫn đến việc đồng nhất hai khái niệm phán quyết trọng tài nước ngoài và phán quyết của trọng tài nước ngoài nhưng quan niệm của Pháp lệnh 1995 cũng tương đối phù hợp và có ý nghĩa nhất định trong việc đảm bảo tinh thần của Công ước New York Trọng tài quốc tế hay Trọng tài nước ngoài luôn chứa đựng những đặc điểm chung của một Trọng tài nhưng một Trọng tài chỉ được coi là Trọng tài quốc tế nếu nó chứa đựng đầy đủ tính quốc tế về mặt lý luận cũng như thực tiễn
Bên cạnh Công ước New York 1958, Việt Nam cũng gia nhập các Hiệp định tương trợ
tư pháp Tính đến thời điểm hiện nay, có 16 Hiệp định tương trợ tư pháp đang có hiệu lực pháp luật, trong đó có 11 Hiệp định có quy định trực tiếp về công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài
Ngày 17/06/2010 Luật trọng tài thương mại số 54/2010/QHXII (có hiệu lực thi hành
kể từ ngày 01/01/2011) đã được Quốc hội khoá XII kỳ họp thứ 7 thông qua và thay thế cho Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003
2 Các quy định của pháp luật Việt Nam về thẩm quyền của Trọng tài thương mại Hiện nay tại Việt Nam việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài đang trở thành một
xu hướng phát triển song song với việc cải cách hệ thống tư pháp của Việt Nam đạt đến một nền tư pháp lành mạnh và công bằng
Theo quy định tại Luật trọng tài thương mại 2010 thì thẩm quyền của Trọng tài thương mại được hướng dẫn và quy định như sau: một tranh chấp sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài thương mại khi có các điều kiện sau:
Thứ nhất, theo quy định tại Điều 2 Luật trọng tài thương mại 2010 thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động
Trang 88
thương mại; hoặc các tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài Chỉ các tranh chấp xảy ra trong các trường hợp nêu trên mới thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại
Thứ hai, theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật trọng tài thương mại 2010 quy định: “tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận Trọng tài Thoả thuận Trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp” Do đó có thể thấy, điều kiện để một
vụ tranh chấp được giải quyết bằng hình thức trọng tài thương mại chính là sự thoả thuận của các bên, Trọng tài thương mại chỉ có thể giải quyết tranh chấp thương mại nếu các bên có tranh chấp thoả thuận trọng tài và không thuộc vào các trường hợp vô hiệu theo quy định tại Điều 18 của Luật trọng tài thương mại 2010
Như vậy, Trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp nào được pháp luật quy định là tranh chấp thương mại, tranh chấp này phát sinh trong hoạt động thương mại giữa các bên (trong đó có ít nhất một bên có hoạt động thương mại), trừ trường hợp pháp luật quy định khác và các bên có thoả thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Mặt khác, theo quy định tại Điều 6 Luật trọng tài thương mại 2010 có nêu: “Trong trường hợp các bên giải quyết tranh chấp đã có thoả thuận Trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải
từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận Trọng tài không thể thực hiện được” Do đó, khi các bên đã thoả thuận đưa vụ tranh chấp ra giải quyết bằng trọng tài là họ trao cho Hội đồng trọng tài thẩm quyền giải quyết tranh chấp và phủ định thẩm quyền xét xử đó của Toà án trừ khi thoả thuận Trọng tài vô hiệu hoặc các bên huỷ thoả thuận Trọng tài
III Khái quát chung về Toà án riêng biệt và Trọng tài thương mại
1 Điểm giống nhau giữa Toà án riêng biệt và Trọng tài thương mại
- Đều là hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại và các tranh chấp khác theo luật định
- Đều dựa trên những nguyên tắc chung như: tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự và đảm bảo sự độc lập của người tài phán
Thẩm phán và Trọng tài đều là những người vận dụng pháp luật để giúp các bên giải quyết các vấn đề tranh chấp của họ theo thẩm quyền Họ đều dựa vào trình bày quan điểm, chứng
cứ của các bên có liên quan và vận dụng pháp luật để giải quyết các vụ việc tranh chấp Tuy nhiên, có rất nhiều điểm khác nhau giữa họ khi xét về vai trò, vị trí, tiêu chuẩn, công việc mà
họ làm cũng như trình tự thủ tục mà họ tiến hành để giải quyết tranh chấp theo thẩm quyền
2 Điểm khác nhau giữa Toà án và Trọng tài
Trang 9Toà án Trọng tài Tính chất
pháp lý
Là cơ quan quyền lực nhà nước Là tổ chức phi chính phủ, một tổ
chức mang tính xã hội nghề nghiệp, không được nhà nước quyết định thành lập mà do các trọng tài viên đứng ra thành lập, phán quyết không
bị ảnh hưởng bởi quyền lực nhà nước
Giai đoạn
tố tụng
Có nhiều cấp xét xử từ sơ thẩm đến phúc thẩm; bản án của Toà án có thể xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
Phán quyết có tính chung thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị, quá trình giải quyết nhanh chóng
Bí mật
thông tin
Các bản án thường được công bố rộng rãi trước công chúng, có thể
để lộ bí mật kinh doanh của đương
sự, thông tin của doanh nghiệp xảy
ra tranh chấp, có thể làm ảnh hưởng đến uy tín doanh nghiệp
Đảm bảo bí mật
Tính linh
hoạt
Trải qua nhiều thủ tục, trình tự nghiêm ngặt được quy định trước, không được phép thay đổi Nhiều lúc trình tự này trở nên rườm rà, việc giair quyết tranh chấp bị trì hoãn, tốn thời gian của các bên
Thủ tục tố tụng đơn giản, thuận tiện, bảo đảm thời cơ kinh doanh của các bên Các bên có thể lựa chọn trình tự giải quyết, địa điểm tiến hành, các yếu tố phù hợp với mong muốn => linh hoạt, mềm dẻo
Phán quyết Phán quyết đảm bảo tính cưỡng
chế thực hiện
Phán quyết không đảm bảo tính cưỡng chế thực hiện
3 Các tranh chấp có thể xảy ra giữa Toà án riêng biệt và Trọng tài thương mại Trong thời gian gần đây, phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài được thừa nhận và áp dụng rộng rãi ở hầu như tất cả các nước trên thế giới, điều này xuất phát từ những ưu điểm của phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài so với Toà án Tuy nhiên, việc hiểu chưa đúng về thẩm quyền của Trọng tài và Toà án trong việc giải quyết tranh chấp đã dẫn tới những thoả thuận trọng tài về thẩm quyền giải quyết tranh chấp không phù hợp với pháp luật Việt Nam cũng như thực tiễn xét xử của những cơ quan này Điều này gián tiếp gây khó khăn và mất thời gian cho bản thân các bên khi xác định thẩm quyền của
cơ quan tài phán phù hợp khi tranh chấp xảy ra
3.1 Các tranh chấp mà Trọng tài thương mại có thẩm quyền
Trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp:
- Giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại
Trang 1010
- Có ít nhất một bên có hoạt động thương mại
- Pháp luật có quy định là phải giải quyết bằng trọng tài
- Và nếu các bên có thoả thuận Trọng tài
Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận Trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận Trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận Trọng tài không thực hiện được
3.2 Xử lý xung đột thẩm quyền xét xử giữa Trọng tài và Toà án
Khi có yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp phát sinh được liệt kê ở phần 1 trên thì Toà án yêu cầu một hoặc các bên cho biết tranh chấp đó các bên có thoả thuận bằng Trọng tài hay không Toà án phải kiểm tra, xem xét các tài liệu gửi kèm theo đơn khởi kiện để xác định vụ tranh chấp đó có thuộc trường hợp có thoả thuận trọng tài nhưng Toà án vẫn có thể
có thẩm quyền hay không Tuỳ từng trường hợp cụ thể mà Toà án xử lý như sau:
- Trường hợp tranh chấp không có thoả thuận Trọng tài hoặc đã có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án hoặc quyết định, phán quyết có hiệu lực pháp luật của Trọng tài xác định vụ tranh chấp không có thoả thuận Trọng tài thì Toà án xem xét thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền
- Trường hợp tranh chấp đã có thoả thuận Trọng tài và thoả thuận Trọng tài không thuộc trường hợp bị vô hiệu thì Toà án trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện cho người khởi kiện Trường hợp sau khi thụ lý vụ án Toà án mới phát hiện
vụ tranh chấp đã có thoả thuận Trọng tài và thoả thuận Trọng tài không thuộc trường hợp
bị vô hiệu thì Toà án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu gửi kèm theo đơn khởi kiện cho người khởi kiện
- Trường hợp đã có yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp và Hội đồng trọng tài đang giải quyết vụ thì dù Toà án nhận thấy tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Trọng tài, không
có thoả thuận Trọng tài hoặc tuy đã có thoả thuận Trọng tài nhưng bị vô hiệu mà người khởi kiện có yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp thì Toà án trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, trường hợp Toà án đã thụ lý thì ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ
án, trừ trường hợp Toà án thụ lý vụ tranh chấp trước khi có yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp Sau khi có quyết định, phán quyết của Hội đồng Trọng tài mà người khởi kiện
có yêu cầu Toà án giải quyết, thì Toà án xem xét thụ lý, giải quyết theo thủ tục tố tụng dân
sự